Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Tủ sách vàng

Truyện Lịch sử

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo

Minh Di

Những ông tiến sĩ thời nay

Phần 3
  

Một bài phê bình, bất cứ nằm trong đề tài nào, chỉ có giá trị trung thực nếu được so sánh với bản gốc. Đưa ra một số sai lầm trầm trọng cuả một số tiến sĩ thời nay chỉ là cách giúp cho các vị đó nên tìm cách sửa chữa lề lối khảo cứu sao cho xứng đáng với học vị cuả mình ....Tôi tự nhận là người không biết chữ Hán, nhất là phần cỗ ngữ thì dốt đặc cán mai, và vấn đề lịch sử nước nhà cũng chẳng đi vào đâu. Nhưng vì muốn tìm hiểu sữ liệu có liên quan đến nguồn cội quê hương và dân tộc, nên có ước mộng sau đây : « Nếu có độc giả nào, đặc biệt là vài vị tiến sỉ người Việt đang sinh nhai tại Mỹ (hay tại đâu đó trên đất nước Việt nam) có tên ghi trong những bài nầy, nhận thấy lời phê bình và lối trích dẫn sử liệu mà học giả Minh Di đã đưa ra có nhiều sơ hở và thiếu sót, xin lên tiếng chỉg iáo ».Tôi xin muôn vàn tri ân.

Vài lời báo trước cuả chính tác giả Minh Di.

Cũng như ‘Học Vấn Tập’, tập Vấn Cỗ Tập gồm những thiên phê bình một vài người về lãnh vực Cổ học Việt Nam và Trung Hoạ
 
Hán văn ngày nay rất ít người theo học, vì đây là thứ chữ không phải chỉ học năm, mười năm là có thể khá, hay giỏi như học Anh văn, Pháp văn. Về lãnh vực Cổ văn thì 20 năm, 30 năm đôi lúc còn gặp lúng túng. Ngay cả người Hoa đây khi nghe nói Cổ văn là họ cảm thấy nhức đầụ Chính vì khó như vậy cho nên ngày nay vẫn còn những học giả cặm cụi ngồi dịch những Tác phẩm của cổ nhân họ qua Ngữ thể văn (tức Bạch  thoại) để thế hệ trẻ có thể hiểu được dễ dàng hơn.
 
Trong giới khoa bảng Tây học Việt Nam ở chốn Vu xứ này bỗng đâu có một vài kẻ muốn đi gặp những ‘người muôn năm cũ’ nhưng không đi đường thẳng mà quẹo vào đường tắt. Nói rõ hơn họ tìm đọc những sách Anh, sách Pháp.... viết về Việt Nam và Trung Hoa thời cổ, để rồi sau đó dựa vào cái bằng cấp để mà « múa may » trong một lãnh vực mà họ không chuyên môn!
 
Nếu như sự tình dễ như vậy có ai học Hán văn làm chi cho lao đao, lại lâu lắc nữạ. Nếu sự tình dễ như vậy thì đã không có Tập ‘Vấn Cổ’ này, cũng như không có Tập ‘Học Vấn’ trước đâỵ
  
Nói thẳng với ông tiến sĩ trong nước : Lê Mạnh Thát.
  
Ngày 27 tháng 2, 2006, anh Lê Hòa có gởi cho tôi một Bài viết (một phần đầu thì đúng hơn) của ông Lê Mạnh Thát tựa đề là « Về Mấy Bài Đường Thi Liên Quan Đến Phật Giáo Việt Nam ».
 
Qua 14 trang của phần bài viết nói trên tôi thấy có một số điều quá « ngớ ngẫn » cần phải đặt ra sau đâỵ : Mấy bài Đường thi ông Lê Mạnh Thát đề cập ở đây là 2 bài thơ của thi sĩ Thẩm Thuyên Kì, sống vào khoảng đầu thời Đường.
 
Bài thứ nhất là bài ‘Thiệu Long tự’.

Bài thứ 2 là bài ‘Cửu Chân sơn Tịnh Cư tự yết Vô Ngại Thượng nhân’.

*
 
Về bài ‘Thiệu Long tự’.
 
Cuối trang 3, nguyên trang 4, và đầu trang 5 ông Lê mạnh Thát dẫn lại nguyên văn toàn bài thơ và phần dịch Việt ngữ cũng như  chú thích của ông về bài thơ. Câu 12, nguyên văn là ‘Diễn dạng Song trung lan’ thì ông Lê Mạnh Thát đã sửa chữ thứ 3 - tức chữ Song ra chữ Đàm: ‘Diễn dạng Đàm trung lan’, và ông đã dịch: ‘Nhẹ vỗ sóng hồ lan’.
 
Ông Lê Mạnh Thát chú giải và lí luận về việc sửa thơ này như sau:
 
- ‘Chúng tôi sửa chữ ‘song’ của Toàn Đường thi thành chữ ‘đạm’, bởi vì những chữ khác trong câu đó đều nói đến sóng vỗ, mà sóng vỗ thì hà tất phải vỗ vào cửa sổ, trừ khi lụt lớn. Tự dạng của chữ ‘song’ và chữ ‘đạm’ hầu như giống nhau, và ‘đạm’ có nghĩa là cái hồ, do đó thích hợp với những chữ ‘diễn dạng đàm trung lan’ của toàn câu’. (tr. 04).
  
Qua đoạn văn lý giải trên đây, có 2 vấn đề đặt ra với ông Lê Mạnh Thát. Trước hết là vấn đề chữ nghĩa, và kế đến là vấn đề cung cách làm việc của ông Lê mạnh Thát.
 
Ông Lê Mạnh Thát giải chữ Đàm ‘có nghĩa là cái hồ’ thì.... quả thực tôi không rõ ông đã căn cứ Bộ Tự điển hay Từ điển nào - Những bộ Tự điển như ‘Thuyết Văn Giải Tự’ của văn tự học gia Hứa Thận (30 - 124) thời Đông Hán (25 - 220), ‘Khang Hi Tự Điển’, do 1 nhóm đình thần soạn theo lệnh của vua Khang Hi (1654 - 1722; tại vị: 1661 - 1722), không Bộ nào giảng chữ Đàm là cái hồ hết! Còn những bộ Từ điển Từ Nguyên, Từ Hải (dầu in ở Hương Cảng hay Lục địa) cũng không Bộ nào giảng chữ Đàm là cái Hồ. Theo những bộ Từ điển này thì Đàm có ba nghĩa:
 
1/. Cái vực; chỗ nước sâu gọi là Đàm (Uyên dã; thủy thâm vi Đàm). Từ Hải (Hương Cảng).
 2/. Vụng nước sâu (Thâm thủy khanh). Từ Hải (Lục địa).
 3/. Chỗ nước sâu (Thủy thâm chi xứ). Từ Nguyên (Hương Cảng).
 
Không một bộ Tự điển cũng như Từ điển Trung Hoa nào lại giảng chữ Đàm là cái Hồ hết!
Đến đây, tôi cần phân tích nữa thêm chút nữa:
 
Chữ Đàm, bên trái là Bộ Thủy, bên phải là chữ Đàm.
Chữ Đàm bên phải này có các nghĩa: Dài (trường), Trải dài (diên), và nghĩa nữa là Sâu (thâm) - như trong từ ngữ Đàm tư, nghĩa là ‘Suy nghĩ sâu xa’.
 
Từ chữ Đàm có nghĩa là Sâu trên đây người ta thêm Bộ Thủy để diễn tả một Sự vật khác - đó là cái ‘Vụng nước Sâu’, ‘Chỗ nước Sâu’ mà 2 bộ Từ điển Từ Hải, Từ Nguyên đã giải nghĩạ Đây là nguyên tắc gọi là ‘Hội ý’ trong Lục Thư (6 nguyên tắc chế
tạo Tự).
 
Bộ Thủy bên trái chỉ Nước + chữ Đàm bên phải là Sâu, ở đây hình thức của văn tự rồi đã diễn tả cái hàm í hết sức rõ ràng. 1 điều căn bản về Văn tự học như vậy mà ông Lê Mạnh Thát còn chưa giải được thì thử hỏi tôi không (nghi) ngờ sao được?   
 
Tiếp đến, Lê Mạnh Thát lại nói ‘Tự dạng của chữ ‘song’ và chữ ‘đạm’ hầu như giống nhau’.
 
Tôi không tưởng nổi là có một chuyện như vậy đối với một nhà đại trí thức!
Chữ Song (cửa sổ) trên là Bộ ‘Huyệt’ (cái hang, cái lỗ), dưới là chữ Song (cái lỗ thông). 
 
Chữ Đàm bên trái là Bộ ‘Thủy’, bên phải là chữ Đàm (nghĩa là Sâu như đã nói) - chữ Đàm này trên là Bộ ‘Á’, dưới là chữ Tảo (gồm trên là chữ Nhật, dưới là chữ Thập). 2 chữ Song và Đàm khác nhau rất xa như thế mà Lê Mạnh Thát lại nói ‘hầu như giống nhau’ thí tôi thực không tưởng tượng nổi sự thông thái cuả nhà đại trí thức trong nước ra thế nào! Chỉ cần bên có Bộ Thủy, bên không, người ta cũng đã thấy ngay khác hẳn rồi, hà huống phần dưới bên phải của chữ Đàm là chữ Thập - trong khi đó ở mặt dưới của chữ Song lại là 1 đường bằng ngang, sự khác biệt do đó mà càng xa hơn!
 
Trong câu dịch, Lê Mạnh Thát ghi là ‘đàm’, nhưng trong đoạn chú thích trên lại ghi là ‘đạm’? Quả thật là vô duyên !
 
Tiếp đến nữa, khi bỏ chữ Song trong bài thơ để thay vào đó chữ Đàm và giảng là cái Hồ thì ông Lê Mạnh Thát đã không thấy một chuyện trái ngược. Giả sử cứ theo ông Lê Mạnh Thát, cho Đàm là cái Hồ đi thì xin hỏi ông giải chữ Lan ở cuối câu ra làm sao ?
 
Này nhé, nói chung, Hồ thì không thể có sóng lớn, trừ trường hợp Hồ lớn như Động Đình Hồ vốn thông với 1 con Sông lớn cỡ Đại giang (tức Trường giang), trường hợp không thể xảy ra ở đây - trong khi đó chữ Lan có nghĩa là Sóng lớn. Lê Mạnh Thát
không cảm thấy trái ngược sao ? Để chỉ Sóng, Hán tự có các chữ Ba, Lãng, Đào, Lan. Hai chữ Ba, Lãng chỉ sóng nói chung, thường là chỉ sóng nhỏ, trong khi Đào, Lan chỉ sóng lớn.
  
Ông Lê Mạnh Thát rồi có thể không không đồng í không phải chỉ với Thẩm Thuyên Kì ở đây, mà có thể với bất cứ thi nhân nào về 1 chữ, 1 câu hay nhiều câu nào đó trong thơ của họ. Có điều là ông chỉ có thể nêu sự bất đồng đó trong phần luận giải của
mình bên dưới bài thơ chứ không thể tự ý thay đổi 1 hay nhiều chữ ngay trong bài thơ của tác giả. Phải nói là cung cách làm việc này tôi chưa hề thấy ở một người nghiên cứu đúng đắn nào! Ông Lê Mạnh Thát cho rằng chữ Song của Thẩm Thuyên Kì không hay, không ý vị như chữ Đàm, hay bất cứ Chữ nào đó ông có thể nghĩ ra - không sao, ông cứ việc đưa ra, nhưng xin đừng nhúc nhích một Chữ nào hết của tác giả. Tối thiểu đây là một 1 sự khiêm tốn tối thiểu, và tiếp đến là sự tôn trọng người đọc. 
 
Khi nói í kiến của mình trội hơn của người thì dĩ nhiên là phải lập luận, và rồi, lập luận của ông Lê Mạnh Thát ở đây phải nói là chẳng những vớ vẩn mà còn quàng xiên nữa!
 
Sao gọi là vớ vẩn? Vớ vẩn là ở chỗ Lê Mạnh Thát chỉ dựa vào 3 chữ Diễn dạng... Lan trong câu đều là những chữ chỉ sóng cho nên đã bỏ chữ Song của tác giả đi để nhét vào đó 1 chữ có í sóng là chữ Đàm. Nếu đưa Chữ này vào mà câu thơ trở nên hay vượt bậc thì không nói, đằng này ông chỉ nói vu vơ là chỉ vì nó ‘thích hợp với những chữ ‘diễn dạng đàm trung lan’ của toàn câu’.
 
Chữ có bộ Thủy chỉ hồ, ao cũng khá nhiều, như giang, hồ, trì, đường, đàm, trạch..... lấy chữ nào cũng được! Có điều, cái khó cho ông Lê Mạnh Thát ở đây là rồi kiếm đâu ra một lí do thực vững để thay thế chữ Song? Vì nếu chỉ đựa vào lẽ 1 câu thơ 5 chữ đã 3 chữ có bộ Thủy, thêm chữ nữa có lẽ thích hợp hơn, lí do này không vững. Từ đó Lê Mạnh Thát đã nói quàng nói xiên là tự dạng của chữ Đàm và chữ Song ‘hầu như giống nhau’. Sự quàng xiên này có thể khiến 1 số người đọc nghĩ là chữ Song vốn là chữ Đàm đấy nhưng vì tự dạng 2 Chữ  ‘hầu như giống nhau’ cho nên đã có sự lầm lẫn khi sao chép. Tiếp đó, Lê Mạnh Thát lại nêu ra sự kiện đa số chữ trong câu 12 này có bộ Thủy nhằm gợi í cho người đọc là sự lầm lẫn ở đây rất có thể là đúng, nói rõ hơn, câu này vốn nói về sóng, mà vì sao chép lầm cho nên chữ Đàm đã thành chữ Song. Nếu tôi không lầm thì í của Lê Mạnh Thát là vậy!
  
Sau cùng, phê bình là đối chiếu, phân tích sự thể để đưa ra nhận định chính xác. Như ở đây, ông Lê Mạnh Thát bỏ đi chữ Song của Thẩm Thuyên Kì để thay vào đó chữ Đàm mà ông khẳng định là thích hợp hơn, và nói thích hợp hơn tức nói hay hơn, trội
hơn, hiển nhiên. Khi nói như thế ông cũng phải chứng minh cho người đọc thấy câu ‘Diễn dạng song trung lan’ của tác giả kém, dở ở chỗ nào ? Đây là điều tối thiểu, một điều tối thiểu ông Lê Mạnh Thát đã không làm.
 
Phải nói là Lê Mạnh Thát đã không rõ hoàn cảnh sáng tác câu thơ trên. - Hoàn cảnh này là gì?
 
Lúc viết ra Câu này Thẩm Thuyên Kì đang đứng bên 1 cánh cửa sổ nào đó của chùa Thiệu Long đưa mắt nhìn ra bến bãi xa xa....., thấy những lượn Sóng lớn (Lan) nhấp nhô (diễn dạng) mờ mờ  phía Bắc. Đây chính là điều Thẩm Thuyên Kì đã nói trước đó  3 câu ‘Hương giới oanh Bắc chử’. Cứ như mấy lời tiểu dẫn Thẩm Thuyên Kì ghi trước bài thơ chúng ta biết ông đi thuyền đến thăm cảnh chùa để sau đó sau khi trở về thuyền thì sáng tác bài thơ nàỵ (Coi phần sau). 
 
Cũng cần nói để ông Lê Mạnh Thát rõ là 2 chữ ‘diễn dạng’ trong câu thơ thứ 12 này có nghĩa là nhấp nhô (lưu động khởi phục mạọ Từ Nguyên), ông hiểu 2 chữ này là ‘sóng vỗ’ là không đúng với nghĩa chữ. - Ở đây tác giả chỉ nhằm tả cảm nhận Thị
giác, không nói Thính giác, làm gì có tiếng sóng vỗ ở đây, thưa ông tiến sĩ Lê Mạnh Thát.   
  
Bài ‘Thiệu Long Tự’ của Thẩm Thuyên Kì có mấy lời tiểu dẫn, tức như 1 đoạn đề Tựa ngắn, ông Lê Mạnh Thát dịch và phiên âm như sau:
  - ‘Chùa Thiệu Long, ngôi chùa kỳ tích nhất trong vùng Giang Lĩnh, cách thành Hoan châu khoảng 25 dặm, người miền Bắc hễ hết ngày thì đến nghỉ, theo lễ mà cúng hương, tôi làm bài thơ này sau khi trở về thuyền...’. (Thiệu Long tự Giang Lĩnh tối kì,  khứ Hoan châu nhị thập ngũ lý tượng, bắc khách tất nhật, du khể, tùy lệ thí hương, hồi ư chu trung tác). [tr. 04, 05].
  
Trong đoạn dẫn trên, nguyên văn Hán Việt của lời đề Tựa Lê Mạnh Thát đã ngắt câu sai, do đó dịch sai, đó là chưa kể 1 vài lỗi về phiên âm và địa danh.
 
 Đúng thì ngắt câu như sau:
  - ‘Thiệu Long tự giang lãnh tối kì, khứ Hoan Châu nhị thập ngũ lí tương Bắc. Khách tất nhật du khế, tùy lệ thí hương. Hồi ư chu trung tác’.
  - ‘Sông, núi ở vùng chùa Thiệu Long rất kì lạ, hiếm có, (chùa) ở cách thành Hoan Châu 25 dặm về hướng Bắc. Khách (tới chơi vùng này) cứ đến hết ngày, sau buổi đi chơi về, thì có lệ vào chùa dâng hương. Bài này tôi làm lúc trở về thuyền’.
  
Lê Mạnh Thát đã không biết là chữ ‘Bắc’ trong đoạn tiểu dẫn rồi chỉ vị trí của chùa Thiệu Long đối với thành Hoan Châu, do đó thuộc về câu trước, chứ không phải câu sau đó. Ông ngắt câu ở chữ ‘tương’ (mà ông phiên âm sai là tượng) thì ‘lý tượng’ nghĩa là gì? - Chữ Tương ở trong câu có nghĩa là ‘gần’, là ‘ở bên cạnh’, suy ra là ‘ở về phía’, ‘ở về mé’.
 
Từ câu ‘khứ Hoan Châu nhị thập ngũ lí’ thì cố nhiên ông Lê Mạnh Thát hiểu rất dễ dàng, nhưng sau chữ ‘lí’ lại có chữ ‘tương’ thì ông không sao hiểu nổị Vì thế, ông đã đoán chữ ‘tương’ ở đây là ước chừng, và ‘nhị thập ngũ lí tương’ Lê Mạnh Thát đã dịch là ‘khoảng 25 dặm’. Nhưng, ông Lê Mạnh Thát không biết là chữ ‘Tương’ nếu có nghĩa là ‘gần’, lại được dùng với những từ ngữ chỉ khoảng cách, hay thời gian, thì nó phải đứng trước những tiếng đó. Như ở đây, nếu muốn nói khoảng 25 dặm thì câu sẽ là: - ‘khứ Hoan Châu tương nhị thập ngũ lí’.
 
Và đây chỉ là Hán văn căn bản. Lê Mạnh Thát nói chuyện Hán văn nghe mà tức cười quá!  
 
Nói tóm lại, ‘25 dặm’ xác định khoảng cách - trong khi chữ ‘Bắc’ cho biết vị trí không gian của chùa Thiệu Long. Người Trung Quốc khi mô tả vị trí địa lí thì luôn luôn cho biết khoảng cách và phương hướng. Thẩm Thuyên Kì cũng không ra ngoài
thông lệ vừa kể.
 
Ngoài ra, Lê Mạnh Thát còn sai:  
  
  1/. Sai về địa danh.
Hai chữ ‘giang lãnh’ nói trong đoạn tiểu dẫn chỉ có nghĩa là ‘sông và núi’, nói khác đi, đây chỉ là  những danh từ chung, không phải địa danh như Lê Mạnh Thát đã viết Hoạ
Đọc phần ghi chép về Địa lí Hành chánh trong các bộ ‘Cựu Đường Thư’ (Qụ XLỊ Địa lí 4.) và ‘Tân Đường Thư’ (Qụ XLIII Thượng. Địa lí) về đất Hoan Châu - đồng thời giở Bản đồ Lịch sử  đời Đường, thì không thấy địa danh nào tên là ‘Giang Lĩnh’ hết! Đến Bộ ‘Thông Điển’ trứ danh của học giả Đỗ Hựu (735 - 812) đời Đường cũng không thấy ghi địa danh nào tên là Giang Lĩnh như Lê Mạnh Thát ghị (Tham khảo ‘Thông Điển. Qụ CXXCIV. Châu quận 14. Hoan Châu).
 
Lê Mạnh Thát thấy chữ ‘Lãnh’ (cũng đọc âm Lĩnh) thì nghĩ rằng đây là đất Lãnh Nam.
Nếu vậy xin hỏi ông Lê Mạnh Thát, chữ ‘giang’ đứng trước chữ ‘lãnh’ đây nghĩa là gì? - Đây là chưa kể ông Lê Mạnh Thát đã không rõ một điều là vào thời Đường ‘Lãnh Nam đạo’ chỉ gồm toàn 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay mà thôi, đất ‘Lãnh
Nam’ nào mà trải tới tận Hoan Châu đây thưa ông Lê Mạnh Thát? Đường triều phân thiên hạ thành các Đạo - như Lộ dưới triều Tống và Tỉnh đời Thanh sau nàỵ

  2/. Sai về Tự âm (Âm đọc của chữ).
Chữ ‘Tương’ Lê Mạnh Thát đã đọc là ‘Tượng’.  Chữ ‘Khế’ (nghỉ ngơi) với dấu Sắc thì Lê Mạnh Thát dọc là ‘Khể’ với dấu Hỏị
Chữ Khế, Từ Nguyên phiên thiết là: ‘Khứ lệ thiết, khứ’. Chữ khứ sau tức ‘Khứ thanh’, tức dấu Sắc.
 
Ngoài ra, chữ ‘tối’ trong 2 chữ ‘tối kì’ có nghĩa là ‘rất’, không có nghĩa là ‘nhất’ như đoạn dịch của Lê Mạnh Thát viết. 
  
Sau cùng, người ta thấy ông Lê Mạnh Thát nói ‘sông dài, biển lớn’, thôi thì..... đủ mọi chuyện về vị trí địa lí, suy đoán thế này, nhận định thế kia....., nhưng rồi, có 1 điều căn bản nhất người đọc muốn biết thì ông lại chẳng nói gì tớị
 
Chùa Thiệu Long ở cách thành Hoan Châu 25 dặm - vậy xin ông Lê Mạnh Thát cho biết tính ra đơn vị cây số là bao xa ?
 
Tôi đã từng thấy có những người, trong bài viết của mình, nói nào là xích, nào là trượng, nào là lí (dặm), nào là lượng, là đấu mà không thấy họ nói những đơn vị cân, đong, đo đếm này tính ra hệ thống quốc tế (SI) là bao nhiêu ? Nói về những đơn
vị đo lường thời cổ mà không chú thích thì những chữ này đối với người đọc nói chung chỉ là những tiếng oang oang. Rồi ra không còn gì hết! Nhưng, chắc Lê Mạnh Thát cũng chẳng hơn gì người đọc, với những người viết kể trên Lượng, Đấu, Xích,
Lí..... cũng chỉ là những tiếng vang!
 
Cũng vậy, ở đây chữ ‘Dặm’ (Lí) đối với ông Lê Mạnh Thát cũng chỉ là 1 tiếng vang....., ngoài ra không còn gì hết!  Viết về những vấn đề liên quan Cổ sử, nhất là về Địa lí như ở bài này, mà ông Lê Mạnh Thát lại mù mờ về hệ thống đo lường thời mình nghiên cứu thì đây là chuyện khó tưởng cũng như khó tin cho nổị
 
Tôi xin nói để ông Lê Mạnh Thát rõ:
  - 1 Dặm đời Đường qui ra hệ thống SI là 559.8 m, tức 0.5598 cây số.   Vậy, 25 dặm từ chùa Thiệu Long đến thành Hoan Châu là: 25 x 0.5598 m = 13.995 cây số.
 
Sự hiểu biết về hệ thống đo lường cổ đại này rất cần thiết, cần thiết ở chỗ nó gạt ra ngoài những suy đoán lung tung dư thừa, chỉ để lại những suy đoán gần sự thực nhất - nói rõ hơn, nhờ nó mà suy đoán của người nghiên cứu trở nên chính xác hơn.
 
Cứ đọc những gì Lê Mạnh Thát suy đoán về vị trí chùa Thiệu Long đối với thành Hoan Châu rồi độc giả sẽ thấy sự cần thiết tôi vừa nói ở trên.
 
Về vị trí của chùa Thiệu Long, Lê Mạnh Thát viết:

  - ‘Maspéro đã cho biết là ông tìm những viên gạch có tiểu tượng đức Phật tại di tích của một cổ thành cách đình làng Nhạn Tháp không xa mà ông giả thiết đó chính là di tích của 1 sở thành Hoan Châụ Về những viên gạch này, ông bảo là những tồn
tích của những vật liệu trong việc dựng một ngôi chùa tại xung quanh đó vào năm 636. Niên đại 636 nàychúng tôi không biết Maspéro rút từ đâu ra, phải chăng từ những ghi chú trên viên gạch? Vì chưa thấy những viên gạch này, chúng tôi không
thể trả lời được.
 
Ngôi chùa dựng năm 636 có tên gì Maspéro cũng không cho biết. Đương nhiên nếu thành Hoan Châu quả cách đình làng Nhạn Tháp ngày nay không xa và nếu câu ‘bắc khách tất nhật du khế’ trong lời giới thiệu của Trầm Thuyên Kỳ ghi trên, có thể cắt nghĩa như ngôi chùa Thiệu Long, vì tuy cách thành Hoan Châu 25 dặm nhưng tất phải gần thành này để cho bắc khách hễ hết ngày thì đến nghỉ, tùy lệ mà cúng hương, thì ngôi chùa Thiệu Long phải nằm xung quanh đình làng Nhạn Tháp không xa’. (tr. 06).
  
Ở đây người ta thấy rất rõ Lê Mạnh Thát đã đi từ mò mẫm này đến mò mẫm khác. Vì không biết 25 dặm đường từ chùa Thiệu Long tới trị sở thành Hoan Châu là bao nhiêu cây số cho nên Lê Mạnh Thát đã không biết giới hạn suy đoán của mình ở khoảng nào! Nói rõ hơn, nếu biết 25 dặm là 13.995 cây số Lê Mạnh Thát sẽ giới hạn suy đoán về những vị trí có thể của chùa Thiệu Long trong khoảng 14 cây số trở lại mà thôi, và như vậy, công việc tìm kiếm sẽ thu hẹp lại đồng thời ít nhiều cũng trở
nên dễ dàng hơn.
 
Nói rõ hơn, gặp trường hợp những di vật (như những viên gạch Henri Maspéro thấy được ở đây) có thể là bộ phận của 1 di tích nào đó (và ở đây là chùa Thiệu Long) nếu những di vật này nằm ở 1 khoảng cách xa hơn khoảng cách đã biết (ở đây là
13.995 cây số) của di tích muốn xác định tới 1 địa điểm nào đó (ở đây là trị sở thành Hoan Châu) khá nhiều, 20, 30 ..... cây số chẳng hạn thì những di vật này dứt khoát phải được đặt ngoài vòng tìm kiếm! Điều này hiển nhiên, một đứa con nít cũng biết nữa là. Vậy mà Lê Mạnh Thát lại không biết thì kể cũng lạ!
 
Nhưng, qua đoạn văn dẫn trên của Lê Mạnh Thát người ta có thể thấy là bây giờ nếu như có đến 5, 7 cái làng Nhạn Tháp đi nữa, bất kể xa / gần, Lê Mạnh Thát rồi cũng gom hết lại để suy đoán loạn lên! Chính vì ù ờ không rõ hệ thống đo lường thời cổ
cho nên ông tiến sĩ Lê Mạnh Thát của chúng ta đã diễn đạt ý tưởng một cách hết sức tức cười, chẳng ra làm sao cả! Thử đọc lại 1 đoạn trong đoạn trên đây của ông tiến sĩ họ Lê, tên Mạnh Thát:
  - ‘........ chùa Thiệu Long, vì tuy cách thành Hoan Châu 25 dặm nhưng tất phải gần thành này để cho bắc khách hễ hết ngày thì đến nghỉ, tùy lệ mà cúng hương......’.
    
Nói ‘tuy cách thành Hoan Châu 25 dặm’ là có í nói khoảng cách giữa chùa và thành Hoan Châu chẳng phải là gần, người đọc không thể nào hiểu khác hơn; thế nhưng, liền đó ông tiến sĩ nhà ta lại viết ‘nhưng tất phải gần thành này’.
 
Thế là thế nào ? Vừa mới nói là không gần để liền sau đó lại nói là không xa, thế là thế nào ? Quả đúng là loại văn chương nát óc!
 
Khi Lê Mạnh Thát nêu ra cái đình làng Nhạn Tháp mà ông ta ngờ rằng Cổ tự Thiệu Long cũng gần đâu đó người đọc những mong ông ta nêu luôn vị trí của ngôi làng này để có 1 khái niệm về vị trí có thể của chùa, ở hướng Đông, ở phía Tây, hay mé Nam, hoặc mạn Bắc thành Hoan Châu chẳng hạn. Thế nhưng, ông tiến sĩ Lê Mạnh Thát, nhà Sử học viết về Lịch sử Phật giáo Việt Nam nêu chỉ để mà nêu, nói rõ hơn, ông tiến sĩ rồi không cho người đọc biết thêm gì hơn, tất cả chỉ là 1 mớ chữ xếp lại với nhau, ngoài ra không có gì hết, trống rỗng!
  
Ở những trang tiếp sau đó ông Lê Mạnh Thát tìm hiểu về vị trí Hoan Châu qua 1 vài Thư tịch cổ của Trung Hoa để từ đây thử xác định vị trí của chùa Thiệu Long.
  - ‘Nguyên Hòa quận huyện đồ chí quyển 38 tờ 16a4-5 của Lý Cát Phủ, viết khoảng năm 815, cho biết, ‘Hoan Châu ở về phía Đông, cách biển 100 dặm, phía nam cách biên giới Lâm Ấp khoảng 190 dặm, bắc cách Diễn Châu 150 dặm’. Thái bình hoàn vũ ký quyển 171 tờ 6a10-14 ghi khác đi một chút, theo đấy ‘Hoan Châu đông dọc theo biển  đến châu Phúc Lộc 102 dặm, nam đến biển lớn 150 dặm, đến châu Ky My Tu 240 dặm,  bắc đến Diễn Châu 150 dặm và Ái Châu 603 dặm, tây nam đến nước Hoàn Vương 10 ngày  đường, ước chừng 750 dặm, bắc đến Hóa Châu 520 dặm, tây bắc đến sông Linh Bạt 470  dặm, tây nam đến châu Ky My Thường 300 dặm’. Tân Đường thư quyển 43 tờ 45b6-46a1 phối hiệp những sai khác trên, rồi thêm ‘Hoan Châu đến biển lối 150 dặm, nam đến Lâm Châu 150 dặm, tây đến biên giới nước Hoàn Vương 800 dặm, tây bắc đến sông Linh
Bạt 470 dặm, đông bắc đến Biên Châu 502 dặm’. (tr. 05 và 06).
  
Sự nghi ngờ của tôi về trình độ Hán văn cũng như Cổ học của Lê Mạnh Thát tới đây thì mỗi lúc mỗi lớn hơn.... Cứ coi những cái sai trong đoạn dẫn trên đây thì rõ.
 
Trước hết, Lê Mạnh Thát nói là bộ ‘Nguyên Hòa Quận Huyện Chí’ viết vào ‘khoảng năm 815’.
 
  - Thưa ông Lê Mạnh Thát, có thể nào người chết lại viết sách được không?
Lí Cát Phủ sinh năm 758, và mất năm 814 (758 - 814) thì làm sao có thể viết cuốn ‘Nguyên Hòa Quận Huyện Chí’ vào ‘khoảng năm 815’ như ông nói trong đoạn trên?Sách hoàn tất năm 813.
 
Tôi nghĩ là ông đã chép điều này ở đâu đó, người viết sai, ông không biết, cứ thế mà chép lại, và tôi nghĩ luôn là người mà ông chép lại đó hẳn có tiếng tăm lắm cho nên ông tin tưởng hoàn toàn mà không tra lại niên đại của 1 nhân vật lịch sử, vốn
là 1 chuyện quá dễ. Nhưng đây cũng là cái bệnh di truyền cuả các ông tiến sỉ thời nay !  
 
Tiếp đến là bộ ‘Tân Đường Thư’ ‘của ông Lê Mạnh Thát’ trong đoạn trên.
 
Ở đây, Tôi không rõ ông Lê Mạnh Thát đã đánh máy lộn, hay là cũng chỉ chép lại đoạn trên đây từ 1 tài liệu (hoặc là 1 cuốn sách, 1 bài viết) của người nào đó hay không? - Vì rằng những điều ông dẫn lại trong đoạn trên không phải của ‘Tân Đường
Thư’, mà là của ‘Cựu Đường Thư’!
 
Tôi có lí do để ngờ, vì nếu ông Lê Mạnh Thát có vì 1 thoáng lơ đãng nào đó mà đã lầm lẫn đánh chữ ‘Cựu’ thành chữ ‘Tân’, nói cho rõ ra là, đầu ông nghĩ ‘Cựu Đường Thư’ nhưng tay ông lại đánh ‘Tân Đường Thư’, điều này có thể xảy ra lắm! Cứ cho là
như vậy đi! Nhưng về Quyển thứ thì sao đây ? về tác giả thì sao đây ?
 
Như tôi đã nói, đoạn văn ông Lê Mạnh Thát dẫn trên là ghi chép trong ‘Cựu Đường Thư’ - nếu ông Lê Mạnh Thát thực sự có đọc bộ Sử này, và như đã giả thiết là ông đã lơ đãng đánh máy lộn tên Sách, thì ít nhất ông cũng phải ghi chính xác Quyển
thứ chứ! Nói rõ ra là, đoạn văn dẫn trên nằm ở Quyển XLI (Qụ 41) của bộ ‘Cựu Đường Thư’, không phải Quyển XLIII (Qụ 43). Nếu là Quyển 43 thì đúng là 1 trong 7 Quyển ghi chép về Địa lí của Bộ ‘Tân Đường Thư’(từ Quyển 37 đến Quyển 43). Quyển
43 phân 2 phần Thượng, Hạ, Hoan Châu được chép ở cuối phần Hạ.
 
Và, có đánh máy lộn nữa thì ít nhất ông phải ghi đúng tên tác giả (Cựu Đường Thư) chứ, nói rõ hơn, ông phải ghi là Lưu Hú (888 - 947), có đâu lại ghi là Âu Dương Tu (1007 - 1072)!
 
Do đó, kết luận ở đây chỉ có thể là Lê Mạnh Thát đã đọc đoạn trên từ 1 người nào đó, người này chép sai, ông không biết, cứ thế mà chép lạị Nhận định này của tôi càng chính xác hơn nữa qua 1 số sai lầm trong đoạn trích dẫn nói trên của ông Lê
Mạnh Thát, những sai lầm mà nếu thực sự có đọc nguyên tác bộ ‘Cựu Đường Thư’ thì ông không thể nào sai được:
 
  1/. Ghi là sông Linh Bạt là sai, tên đúng là Linh Kì.
  Chữ Kì ở đây: Bên trái là bộ Túc (cái chân), bên phải là chữ Chi (giữ, như nói bảo trì; phân chia, cành cây...).
  2/. Ghi là Biên Châu là sai, đúng là Biện Châu (Biện với dấu Nặng).
 
Sau cùng, nhận định về ghi chép của 2 bộ Địa lí, 1 bộ Sử kể trên về thành Hoan Châu, ông nghè Lê Mạnh Thát viết: ‘Trước những ghi chú sai khác này, báo cáo của Nguyên Hòa quận huyện đồ chí đáng được chấp thuận hơn cả, bởi vì tính cổ sơ cũng như giá trị văn điệu của nó’. (tr.06).
  
Có thể có một lối phê bình dễ dàng đến thế sao ? Lối phê bình này làm người đọc chưng hửng, nếu không nghĩ rằng nhà trí thức tiến sĩ thời nay còn quá dốt!
 
Ở đây là vấn đề Địa lí cho nên Số liệu là vấn đề chủ yếụ Trong những ghi chép của 3 Tác phẩm kể trên về vị trí Địa lí của các địa khu, cũng như những con Số cho biết khoảng cách giữa những địa khu này, muốn biết Số liệu của tác phẩm nào xác đáng thì điều này đòi hỏi một sự đối chứng với một số Sử liệu khác nữa liên quan vấn đề, từ đó mới có thể đưa ra một kết luận chính xác, và đây là điều người ta muốn biết, điều Lê Mạnh Thát phải làm, nhưng đã không làm!
 
Lê Mạnh Thát nói là ‘Nguyên Hòa Quận Huyện Chí’ giá trị hơn bộ ‘Thái Bình Hoàn Vũ Kí’ và ‘Tân Đường Thư’ (đúng hơn là ‘Cựu Đường Thư’ như đã nói) ‘bởi vì tính cổ sơ cũng như giá trị văn điệu của nó’.
 
Lê Mạnh Thát dẫn ra những con Số, để nhận định con Số nào chính xác, chính xác nhất thì ông phải chứng minh bằng con Số. Thế nhưng, cuối cùng ông đã chỉ đưa ra 1 nhận định có tính cách văn chương và khảo cổ. Sự kiện bộ ‘Nguyên Hòa Quận Huyện Chí’ được soạn trước 2 cuốn kia (tức ‘tính cổ sơ’, nói theo Lê Mạnh Thát) vốn không chứng minh được là nó giá trị, và chính xác hơn 2 cuốn đó - và sự kiện văn chương của ‘Nguyên Hòa Quận Huyện Chí’ dầu có hay ho hơn 2 Bộ đã kể (tức ‘giá trị
văn điệu’, nói theo Lê Mạnh Thát) rồi cũng không chứng minh được rằng nó đúng và ‘đáng được chấp thuận’ (theo Lê Mạnh Thát) hơn 2 bộ sách kia! Hiển nhiên!

Một học sinh Trung học cũng không có lối phê bình tào lao, tầm phào đến thế - vậy mà một ông tiến sĩ như Lê Mạnh Thát lại có thể đặt bút viết 1 câu vớ vẩn như vậy cho được, lẽ nào ở Đại học người ta không dạy cho Lê Mạnh Thát phương pháp làm
việc?  (Bộ ‘Nguyên Hòa Quận Huyện Đồ Chí’ vốn có phần Địa đồ nhưng sau này đã thất lạc, chỉ còn phần Văn, cho nên tác phẩm còn được gọi là ‘Nguyên Hòa Quận Huyện Chí’. Minh Di).
 
Hơn nữa, ở đây tôi chẳng thấy có sự ‘ghi chú sai khác’ giữa 3 tác phẩm kể trên hết. Nói sai khác là khi cùng 2 địa điểm mà khoảng cách giữa 2 địa điểm này mỗi sách ghi lại số liệu mỗi khác đó mới gọi là ‘sai khác’, trong khi ở đây, nếu đọc lại đoạn ghi chép của 3 tác phẩm trên thì ai cũng có thể thấy ngay là khoảng cách từ Hoan Châu đi ra các điểm ở 4 phía đều phù hợp, trường hợp tới các điểm khác nhau thì không kể. 
 
Riêng ở phía Đông thì ‘Nguyên Hòa Quận Huyện Chí’ nói Hoan Châu cách biển 100 dặm, còn Sách ‘Thái Bình Hoàn Vũ Kí’ lại nói 102 dặm. Phải chăng Lê Mạnh Thát nói ‘sai khác’ là có ý nói điểm nàỷ Nếu vậy thì càng chết lớn nữa! Nhạc Sử (930 - 1007), tác giả Bộ ‘Hoàn Vũ Kí’ là người đời Triệu Tống, do đó đã ghi theo đơn vị đo thời Tống. 1 dặm đời Tống = 552.96 m. Cứ đó  mà tính thì 102 dặm = 102 x 0.55296 cs  = 56.40192 cây số, tính gọn là 56.401 cây số.
 
Dặm đời Đường, như đã biết, là 559.80 m, vậy 100 dặm = 0.55980 cs x 100  =  55.980 cây số.
 
Sai số giữa 2 khoảng cách không đáng kể, chỉ là 421 m; đây là do sự sai lệch giữa 2 hệ thống đo cộng với đường đo có thể hơi lệch đị Tóm lại, 102 dặm đời Tống = 100 dặm đời Đường, chỗ nào sai khác đây ông Lê Mạnh Thát?
 
Con người qui ước Đông, Tây, Nam, Bắc là để xác định vị trí của vật, xác định địa điểm, vậy mà khi đi tìm lại vị trí của ngôi Chùa cổ Thiệu Long ông tiến sĩ Lê Mạnh Thát rồi đã chẳng biết đâu là Đông, là Nam, là Tây, là Bắc.... để người đọc rồi cứ
như bị ông đặt giữa biển lớn bao la, thêm vào đó là một ngày đầy sương mù.......... Và rồi, trong khoảng mênh mang, mờ mịt sương khói đó Lê Mạnh Thát đang chơ vơ tự bao giờ, trước hơn ai hết!
                                                                             *
Tôi có thể khẳng định là những ghi chép của Kinh, Sử cổ Trung Hoa Lê Mạnh Thát trích dẫn lại trong bài viết của ông ta rồi chỉ là chép lại của người khác, cộng với một sự thiếu thành thực là không nói là mình chép của người khác, mà cứ làm như chính mình đã đọc những sách đó!
 
Khẳng định nói trên của tôi đã được chứng minh cụ thể ở một số đoạn trước đây, bây giờ tôi đưa thêm một vài chứng cứ nữạ
 
Về tiểu sử Thẩm Thuyên Kì, Lê Mạnh Thát viết:
  - ‘Thẩm Thuyên Kỳ ‘‘là người Nội hoàng Tượng châu, đỗ Tiến sĩ, làm thông sự xá nhân, giỏi văn chương, sở trường về thơ thất ngôn, nổi tiếng ngang với Tống Chi Vấn, nên người đương thời gọi là thể Thẩm Tống. Sau Kỳ đổi làm khảo công lang viên
ngoại, mắc tội giao thiệp với giặc, bị đày ra ngoài Ngũ Lĩnh..... Trong khoảng niên đại Thần Long, ông được gọi về  giữ chức Khởi cư lang, rồi lên Tụ văn quán trực học sĩ...... Văn tập gồm 7 quyển’’.’ (tr. 03).
  
Lê Mạnh Thát nghĩ rằng trên đời không còn ai đọc được Hán văn chắc? Đọc mấy giòng sơ lược về tiểu sử Thẩm Thuyên Kỳ mà Lê Mạnh Thát tự nhận là ‘đã lập’ ‘từ Cựu Đường thư’ ở trang 03 dẫn trên mà tôi tức cười quá! Lê Mạnh Thát có đọc ‘Cựu Đường Thư’ hay không thì cứ việc giở bộ Sử thư này ra là biết ngaỵ   1/. Thẩm Thuyên Kì bị đày ra Hoan Châu, Lê Mạnh Thát nói là ‘vì mắc tội giao thiệp với giặc’.
 
Về việc bị đày này ‘Cựu Đường Thư’ ghi là Thẩm Thuyên Kì vì:
  - ‘Tọa tang phối lưu Lãnh Biểu’.  /  Cựu Đường Thư. Qụ CXC Trung.Văn uyển trung  /.
  - ‘Phạm tội tham nhũng hối lộ, bị đày ngoài cõi Lãnh Nam’.
  Trong 107 chữ chép về tiểu sử Thẩm Thuyên Kì trong bộ ‘Cựu Đường Thư’ không có 1 chữ nào nói Thẩm Thuyên Kì liên hệ với bất cứ 1 đám giặc nàọ   (Bộ ‘Tân Đường Thư’ của văn học gia Âu Dương Tu (1007 - 1072) đời Triệu Tống (960
- 1279) và cuốn ‘Đường Tài Tử Truyện’ của Tân Văn Phòng (? - ?) đời Nguyên (1279 - 1368) cũng đều ghi rằng Thẩm Thuyên Kì phạm tội hối lộ mà bị đày ra Hoan Châụ
  Tham khảo: ‘Tân Đường Thư’. Qụ CCIỊ Văn nghệ, phần Trung.  ‘Đường Tài Tử Truyện. Qụ Ị Thẩm Thuyên Kì            ).
  
  2/. Cứ tiểu sử Thẩm Thuyên Kì Lê Mạnh Thát nói là ông ta ‘lập.... từ Cựu Đường thư’ (coi ở sau) thì Thẩm Thuyên Kì có ‘Văn tập gồm 7 quyển’. Bộ ‘Cựu Đường Thư’ chép về việc này như sau:
  - ‘Hữu văn tập thập quyển’.   /  Sđd. Quyển thứ như đã dẫn trên  /.
  - ‘Có văn tập gồm 10 quyển’.
  
Và đây là tôi chưa kể Lê Mạnh Thát còn sai 3 điểm khác nữa là:

  1/. Quê của Thẩm Thuyên Kì ở Tướng châu mà Lê Mạnh Thát lại ghi sai là ‘Tượng châu’.
  2/. Khảo công Viên ngoại lang, Lê mạnh Thát ghi sai là ‘khảo công lang viên ngoại’.
  3/. Thẩm Thuyên Kì từng giữ hàm ‘Tu Văn Quán Trực học sĩ’ mà Lê Mạnh Thát rồi đã ghi chép sai thành ‘Tụ văn quán trực học sĩ’.
Cứ những đối chứng tôi đưa ra trên đây thì ông Lê Mạnh Thát có đọc Bộ ‘Cựu Đường Thư’ như ông ta đã nói hay không, độc giả có thể thấy ngay!
 
Nếu Lê Mạnh Thát thành thực nói đã chép lại những điều trên từ ông A, ông B... nào đó thì cũng chỉ tội ở chỗ quá tin người mà làm sai theo người! Nhưng ở đây ông tiến sĩ Lê Mạnh Thát lại tự nhận là mình đã ‘lập bản tiểu sử Kỳ từ Cựu Đường thư’ thì tội
ở đây là tội nói láo, thiếu tự trọng - mà đã từ thiếu tự trọng thì đến việc không tôn trọng người, ở đây là người đọc, cũng chẳng xạ
 
Cách mấy trang sau đó Lê Mạnh Thát viết:
  - ‘Ở trên, chúng tôi đã lập bản tiểu sử Kỳ từ Cựu Đường thư, đây là bản tiểu sử tương đối đầy đủ nhất, trừ chi tiết Kỳ đỗ Tiến sĩ năm Thượng Nguyên thứ 2, tức năm 675, theo Đường tài tứ truyện quyển 1. Những tác phẩm khác đa số đều sao chép lại
bản này, như Toàn Đường thi quyển 95 tờ 1020 chẳng hạn. Đường thi ký sự quyển 11 tờ 160 của Kế Hữu Công không cho biết gì mới, còn Tân Đường thư quyển 200 tờ 1a-b11 thì ghi lại một cách lộn xộn khó hiểu và khó nhận’. (tr. 09).
  
Đọc mấy giòng trên đây tôi có một số nhận định sau:
  1/. Lê Mạnh Thát nói rằng bản tiểu sử của Thẩm Thuyên Kì chép trong Bộ ‘Cựu Đường
Thư’ là ‘bản tiểu sử tương đối đầy đủ nhất’.
 
Bây giờ hãy thử xét qua một số tác phẩm chép về tiểu sử Thẩm Thuyên Kỳ mà Lê Mạnh Thát nêu trong đoạn văn trên của ông tạ
 
Trừ Bộ ‘Đường Thi Kỉ Sự’ (mà đoạn dẫn trên Lê Mạnh Thát ghi 1 chữ sai là Ký, thay vì Kỉ) của Kế Hữu Công (? - ?) đời Nam Tống (1127 - 1279) hiện tôi chưa có trong tay, còn 3 tác phẩm kia nếu đối chiếu với ‘Cựu Đường Thư’ thì như sau:
 
 (!). Tân Đường Thư gồm 117 chữ.
  (Qua đoạn văn dẫn trên thì càng lòi thêm là Lê Mạnh Thát rồi chỉ chép lại những điều kể trên từ đâu đó chứ không thực sự đọc những tác phẩm ông ta đã nêu ra - vì lẽ phần ‘Truyện’ (Tiểu sử) của Thẩm Thuyên Kì được ghi chép trong Quyển CCIỊ
(Liệt truyện 127. Văn nghệ - Trung) của bộ ‘Tân Đường Thư’, tức Quyển 202 chứ không là ‘quyển 200’ như Lê Mạnh Thát đã ghi saị
 
Ngoài ra, Lê Mạnh Thát nói là ghi chép của ‘Tân Đường Thư’ về phần tiểu sử Thẩm Thuyên Kì thì ‘lộn xộn khó hiểu và khó nhận’.
 
Tôi thì chẳng thấy phần tiểu sử này có gì là ‘lộn xộn khó hiểu’ hết, Lê Mạnh Thát rồi chẳng qua cũng chỉ sao chép lại của người, người nói sao Lê Mạnh Thát nói lại i vậy, có đọc chính văn đâu mà biết lộn xộn hay không lộn xộn! Riêng về 2 chữ ‘khó
nhận’ thì tôi không rõ ông Tiến sĩ muốn nói cái gì? chữ viết khó nhận vì viết chữ Thảo hay Bản in trải in đi đi in lại mà nét chữ mờ?).
  (2). Đường Tài Tử Truyện 203 chữ.   (Xin coi Quyển I).
  (3). Toàn Đường Thi 166 chữ.   (Xin coi Quyển XCV).
 
Và ở đây tôi thêm 1 tác phẩm trọng yếu nữa về Đường thi là Bộ ‘Đường Âm Thống Thiêm’, của Hồ Chấn Hanh (1569 - 1645), cuối Minh triều (1368 - 1644).
  (4). Đường Âm Thống Thiêm 155 chữ.
 
Đây là chưa kể phần Hồ Chấn Hanh dẫn lời Trương Duyệt, Giảo Nhiên triều Đường phê bình về thơ của Thẩm Thuyên Kì, phụ liền sau phần tiểu sử của thi nhân, gồm 53 chữ, in chữ nhỏ. Do đó tổng cộng là 208 chữ. (Tác phẩm trên đây, coi Quyển LỊ Ất Thiêm 69).
  
Phần tiểu sử Thẩm Thuyên Kì ghi trong Bộ ‘Cựu Đường Thư’, như tôi đã nói ở 1 đoạn trước, có  tất cả 107 chữ. Đối chiếu với những tác phẩm trên đây thì ghi chép của ‘Cựu Đường Thư’ ngắn hơn cả! Nhìn chung, chi tiết về tiểu sử Thẩm Thuyên Kì trong
những tác phẩm này đại khái cũng chẳng khác nhau bao nhiêu, có chi tiết này thì thiếu chi tiết kia..., bổ túc cho nhau!
  - Có đối chiếu, nêu ra những con số cụ thể như trên mới thấy Lê Mạnh Thát chẳng biết gì cả mà chỉ nhắm mắt theo người nói càn.
 
Trong bài viết này, khi nêu ra 1 tác phẩm cổ Lê Mạnh Thát ghi khá đầy đủ, nào là tên tác giả và Quyển thứ rồi tờ bao nhiêu.... khiến người đọc nghĩ ông là 1 học giả uyên bác, thâm hiểu Cổ học nói chung, và Hán học nói riêng. Trường hợp này cũng hệt như trường hợp ông tiến sĩ Cổ sử học K.W. Taylor trong cuốn ‘The Birth of Vietnam’ đã khiến 1 số các ông các bà khoa bảng Tây học như Trương Bửu Lâm, Hồ Tại Huệ Tâm, Lê Thọ Giáo, Tạ Chí Đại Trường, Phạm Cao Dương..... ồn ào, tở mở ca tụng,
ca tụng mà không biết người ta đúng hay sai, cứ thấy K.W. Taylor dẫn các sách Hán văn là các ông, các bà nhà ta mặt mũi cứ xanh lè, rõ là tội! Sau 2 bài phê bình Taylor của tôi có lẽ các ông các bà hết còn ồn ào khen bậy!
 
Lê Mạnh Thát có rơi vào trường hợp như K.W. Taylor hay không thì có lẽ phải đọc thêm một số bài viết khác của ông về loại này mới có thể kết luận dứt khoát. Tuy nhiên, qua một số khía cạnh về Hán văn, như chữ nghĩa, ngắt câu..., cũng như vấn
đề trích dẫn tôi nêu ra trên đây thì... có vẻ Lê Mạnh Thát cũng cùng một hạng như K.W. Taylor.

Minh Di
6 tháng 3 năm 2006.
Bổ túc. 5 tháng 5 năm 2006.

Phụ chú :
 
Chữ đàm: chụp trong Từ Điển Từ Hải trang 1792. Bản in năm THDQ thứ 58 tại Đài Loan.                                          
  Chữ SONG:  chụp trong Từ Điển Từ Hải trang 2158-như trên.

Thư Mục.
  
  [1]. Thông Điển.
  Đường. Đỗ Hựụ
  Chiết Giang Nhân Dân Xuất Bản Xã      2000 / Sơ.

[2]. Đường Hội Yếụ
  Triệu Tống. Vương Phổ.
  Thượng Hải Cổ Tịch Xuất bản Xã (TQ)      1991 / Sơ.

[3]. Cựu Đường Thư.
  Ngũ Đạị Lưu Hú.

[4]. Tân Đường Thư.
  Triệu Tống. Âu Dương Tụ
  2 bộ Sử thư ghi số hạng [3] và [4] trên đây tập trong
  Nhị Thập Ngũ Sử Bản.
  Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1991 / 8.

[5]. Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển.
  (Tùỵ Đường. Ngũ Đại Sử).
  Tùỵ Đường. Ngũ Đại Biên Toản Ủy Viên Hội biên.
  Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã     1995 / Sơ.

[6]. Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập.
  (Tùỵ Đường. Ngũ Đạị Thập Quốc thời kì).
  Đàm Kì Tương chủ biên.
  Địa Đồ Xuất Bản Xã (TQ)      1982 / Sơ.

[7]. Trung Quốc Độ Lượng Hành Sử.
  Dân Quốc. Ngô Thừa Lạc.
  Thượng Hải Thư Điếm (TQ)    1984 / Sơ.

[8]. Giản Minh Trung Quốc Lịch Đại Quan Chế Từ Điển.
  An Tác Chương chủ biên.
  Tề Lỗ Thư Xã (TQ)      1990 / Sơ.

[9]. Đường Âm Thống Thiêm.
  Minh. Hồ Chấn Hanh.
  Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      2003 / Sơ.

[10]. Toàn Đường Thị
  Thanh. Thánh tổ (Khang Hi) sắc soạn.
  (Phụ: Toàn Đường Thi Dật.
  Nhật Bản. Thượng Mao Hà Thế Ninh tập).
  Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1986 / Sơ.

[11]. Đường Tài Tử Truyện.
  Nguyên. Tân Văn Phòng.
  (Tác phẩm này in chung Tập với cuốn Đường Âm Quí Thiêm của Hồ Chấn Hanh đời Minh).
  Thế Giới Thư Cục (ĐL)      1977 / 4.

[12]. Kinh Truyện Thích Từ.
  Thanh. Vương Dẫn Chị
  Nhạc Lộc Thư Xã (TQ)      1984 / Sơ.

[13]. Cổ Đại Hán Ngữ Hư Từ Loại Giảị
  Trần Hà Thôn.
  Sơn Tây Giáo Dục Xuất Bản Xã (TQ)      1992 / Sơ.

[14]. Thuyết Văn Giải Tự Nghĩa Chứng.
  Đông Hán. Hứa Thận.
  Thanh. Quế Phức nghĩa chứng.
  Tề Lỗ Thư Xã (TQ)      1987 / Sơ.

[15]. Thuyết Văn Thích Lệ.
  Thanh. Vương Vân.
  Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1998 / 2.

[16]. Khang Hi Tự Điển.
  Thanh. Thánh tổ (Khang Hi) sắc soạn.
  Lăng Thiệu Văn đẳng toàn tụ
  Cao Thụ Phiên trùng tụ
  Linh Kí Xuất Bản Hữu Hạn Công Ty (HC)      1981 / Sơ.

[17]. Từ Nguyên (Súc ấn Hợp đính Bản).
  Quảng Đông. Quảng Tây, Hồ Nam. Hà Nam Tu đính tổ.
  Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC)      1987 / Sơ.

[18]. Từ Hải (Hợp đính Bản. 1947 Bản).
  Thư Tân Thành. Thẩm Dị Từ Nguyên Cáọ Trương Tướng.
  Trung Hoa Thư Cục (HC)      1983 / Trùng ấn.

[19]. Từ Hải (Súc ấn Bản. 1979 Bản)
  Từ Hải Biên Tập Ủy Viên Hộị
  Thượng Hải Từ Thư Xuất bản Xã      1987 / 8.

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đào Như

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Liên hiệp quốc

a

Lý Đại Nguyên

a

Mai Thanh Truyết

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thiếu Nhẫn

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Nguyễn Văn Hoàng

a

Lm. Nguyễn Văn Lý

a

Phạm Đình Hưng

a

Ht. Thích Quảng Độ

a

Ht. Thích Thiện Minh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Sunday, 30 January, 2011 0:26