Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Tủ sách vàng

Truyện Lịch sử

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo Lịch sử

Minh Di

Những ông tiến sĩ thời nay

Phần 2: trò "bịt mắt bắt dế" của ông bà tiến sĩ thời nay
  

....Tôi tự nhận là người không biết chữ Hán, và vấn đề lịch sử nước nhà cũng chẳng đi vào đâu. Nhưng vì muốn tìm hiểu nguồn cội quê hương, nên có ước mộng sau đây : « Nếu có độc giả nào, đặc biệt là vài vị tiến sỉ người Việt đang sinh nhai tại Mỹ (hay tại đâu đó) có tên ghi trong bài nầy, nhận thấy bài phê bình và lối trích dẫn sử liệu mà anh Minh Di đã đưa ra có nhiều sơ hở và thiếu sót, xin lên tiếng chỉ giáo ». Tôi xin muôn vàn tri ân.

Lê Hùng Bruxelle

a

Năm cuối thế kỉ 20, có lần vào Thư viện Marrickville (gần Sydney, Úc châu), tôi lướt qua phần Mục Lục của 1 Tập san, in ngoài mặt bìa trước, thấy bài viết tựa đề 'Nghiên Cứu Việt Học Tại Hoa Kì' của 1 người viết tên Lê Thọ Giáo.
 
Trong bài viết này ông Lê Thọ Giáo có đoạn viết:

 
'Tại miền Đông Hoa kỳ, G.S. Huỳnh Sanh Thông chủ biên tạp chí The Viet Nam Forum, dưới sự bảo trợ của Council on Southeast Asia Studies, thu hút sự đóng góp đáng kể của nhiều học giả lỗi lạc về Việt Nam như Keith Taylor, David Haines, John Whitmores,...'.( VĂN LANG. Tập San Nghiên Cứu Việt Học. Số 4 Tháng 12. 1992. tr. 11, 12).
                                                                         
Ông Lê Thọ Giáo 'ca' ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor là 1 trong những 'học giả lỗi lạc về Việt Nam'.
 
Tôi không rõ là ông Lê Thọ Giáo đã đọc được bao nhiêu bài viết Việt nam thờ cổ, bao nhiêu cuốn sách của ông tiến sĩ K.W. Taylor viết về Việt Nam ? Nhưng có lẽ, có lẽ thôi, ông Lê Thọ Giáo cũng đã đọc qua cuốn 'The Birth of Vietnam'.
 
Giữa năm 1995, tôi viết bài 'Về Một Cuốn Sách' chỉ rõ 1 số sai lầm trầm trọng về phương diện kiến thức Sử học trong cuốn sách nói trên của ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor. Trong bài 'Về Một Cuốn Sách' tôi có 1 đoạn viết như sau:
 
'Và dĩ nhiên, những thiếu sót, những sai lầm tôi đã trưng dẫn của K.W. Taylor không phải chỉ có chừng đó! Và, cũng dĩ nhiên, tôi không thể ngồi lâu hơn để chỉ làm 1 chuyện rất lu bu là viết thêm 5, 7 chục trang, hay cả trăm trang nữa; 1 vài dẫn chứng thôi, cũng đã đủ để độc giả nhận định về giá trị của cuốn 'The Birth of Vietnam.'.
 
Nhưng đến nay khi nghe ông Lê Thọ Giáo 'ca' K.W. Taylor là một 'học giả lỗi lạc về Việt Nam' thì tôi không thể không làm thêm 1 'chuyện rất lu bu' như đã nghĩ, để viết thêm năm ba chục trang nữa về sự 'Lỗi, Lạc' (dấu phẩy, ở giữa) của ông tiến sĩ Sử học Keith Weller Taylor. Và, bây giờ thì tôi xin được luận thêm về sự 'Lỗi, Lạc' của ông tiến sĩ Sử học, với ước mong rằng những người thụ giáo nên suy nghĩ đúng đắn, bởi lẽ việc phê bình văn học lịch sử không phải là những chuyện a dua, nịnh hót và xu thời, như những người thiếu may mắn ít đến trường.
                                                                         
Nói một cách hết sức bao quát thì Lịch Sử là tổng thể những Biến Động xảy ra ở 1 Không Gian nhất định nào đó, tùy phạm vi nghiên cứu. Như vậy Không Gian đây tức Không Gian Địa Lí. Và nói Địa Lí tức nói Vị Trí, nói Khoảng Cách (Xa, Gần).

  • Trước hết tôi xin đề cập kiến thức Địa Lí của ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor đã viết trong 'The Birth of Vietnam' như sau:

'Lieu Huu Phuong was from Giao Province. To go from Giao to Ch'ang-an in T'ang times, it was usual to embark and sail 250 miles downriver and along the coast to Sea Gate, the port in western Kuang-tung where the land route began. From there to the capital, a horse would have had to cover 1,200 miles.'.
'Liêu Hữu Phương vốn gốc ở Giao châu. Vào thời Đường, muốn đi từ Giao châu tới Trường-an thường là phải đi thuyền xuôi giòng sông và men theo bờ biển qua 1 đoạn thủy lộ dài 250 dặm tới Hải Môn, hải cảng ở mặt tây Quảng-đông, nơi mà đường bộ bắt đầu. Từ đó tới kinh đô, nếu đi ngựa thì cũng phải trải qua 1 đoạn đường là 1,200 dặm.'.
                                                                                             
Và như vậy, theo như ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor, vào thời Đường (618 - 907), đoạn đường từ Giao châu tới thành Trường An, Kinh đô Đường triều, xa: 250 + 1,200  =  1,450 dặm. Nên hiểu rằng 'Dặm', nguyên văn Anh ngữ là 'MILE', người Việt chúng ta cũng thường gọi là 'Dặm Anh' để phân biệt với 'Dặm Tàu' ('Lí') của Trung Hoa.
 
Một Dặm Anh, qui ra Hệ thống Quốc tế (SI) về độ dài, bằng 1.609,34 cây số; tính tròn, 1.609 cs. Vậy, khoảng cách Giao châu - Trường An thời Đường, theo K.W. Taylor, xa: 1,450  x  1.609 cây số  =  2.333,05 cây số; tính cho tròn là 2.333 cây số.
 
Tôi không rõ K.W. Taylor đã lấy số liệu trên đây từ đâu mà không thấy ông tiến sĩ ghi xuất xứ! Con đường đâu có gần vậy, hởi ông K.W. Taylor! Tôi không nghĩ con đường 'Giao châu - Trường An' thuở đó lại có thể gần đến như vậy!
 
Đoạn văn trên đây của K.W. Taylor nằm trong phần có tiêu đề: 'T'ang-Viet Society,       ('Xã Hội Đường-Việt'),       Economy and Culture'.   ('Kinh Tế và Văn Hóa').
 
Và phần trên đây là 1 phần trong Chương thứ 5 cuốn 'The Birth of Vietnam' - đó là Chương có tựa đề 'The Protectorate of An-Nam' ('An-Nam Đô Hộ Phủ').
 
Chương 'An-Nam Đô Hộ Phủ' trải từ trang 166 tới trang 221. Trong suốt 56 trang của Chương  này, ông tiến sĩ Sử học, và là Sử học cổ nữa, K.W. Taylor đã đề cập bộ 'Cựu Đường Thư' - mà ông đã ghi tắt theo Phiên âm Quốc ngữ Trung Quốc là CTS., đâu đó tôi đếm được tất cả 24 lần  trong phần Cước chú cuối mỗi trang.
 
Với người không đọc được Hán văn thì ông Tiến sĩ K.W. Taylor viết sao người ta biết vậy, ông dẫn 'Cựu Đường Thư' thì người ta có ai mà dám nghĩ rằng ông lại đọc không nổi bộ Sử này, có ai mà dám đi thắc mắc 1 ông tiến sĩ?! Chẳng những chẳng dám thắc mắc mà còn thán phục nữa là khác! (chẳng hạn như Hue-Tam Ho Tai, Truong Buu Lam, và ở đây, Lê Thọ Giáo, và...)! Thế nhưng, có 1 điều hết sức là khó hiểu, nói khác đi, tôi khẳng định trí óc của tiến sĩ Taylor quá nghèo nàn:
 
Thật vậy, nếu như K.W. Taylor có đọc 'Cựu Đường Thư' vậy thì tại sao - tại sao - ông tiến sĩ Sử học lại không biết đoạn đường 'Giao châu - Trường An' vào thời Đường là bao xa? Nói rõ hơn, tại sao ông lại không biết là ngay trong 'Cựu Đường Thư' (Qu. XLI - Địa Lí chí 4) có 1 đoạn chép về An Nam Đô Đốc Phủ, và chép rất rõ như sau:
 
'An Nam Đô Đốc Phủ.............. chí Kinh Sư Thất thiên Nhị bách Ngũ thập Tam lí'. ('An Nam Đô Đốc Phủ.............. (từ đây) tới Kinh Sư là 7 ngàn 2 trăm 5 mươi 3 dặm'). 'Kinh Sư' (tức Kinh Đô) đây chỉ thành Trường An.
 
Để tôi nói luôn cho ông tiến sĩ Sử học và những người Việt Nam 'chỉ' có cái 'Bằng cấp lõm bõm' không thôi đã phục ông sát đất rõi !:
 
1 Dặm thời Đường (618 - 907) tính ra Hệ thống Quốc tế (SI) = 559.8 m., tức 0,5598 cây số.
Vậy, 7.253 Dặm (Lí)  =  7.253 x 0,5598 cs  =  4.060,2294 cây số; tính tròn là 4.060 cây số.
 
Và như vậy, so với khoảng cách ông tiến sĩ cổ sử học K.W. Taylor đã chỉ đưa ra 'khơi khơi' thì  sự sai biệt cũng khá:
 4.060 cây số trừ đi 2.333 cây số  =  1.727 cây số. 'há lẽ là thước cao su  chăng?)
 
Tục ngữ có câu: 'Sai một Li, đi một Dặm'. Ở đây ông tiến sĩ Sử học viết sai tới 1.727 cây số, tức   1.727 /  0,5598  =  3.085,030368 Dặm (Lí), mà 1 Dặm thời cổ bằng 1.800.000 Li.
 
Vậy, 3.085 Dặm  =  3.085 x 1.800 000  =  5.553.000.000 Li.( 5 tỷ 5 trăm 53 triệu Lí)
 
Ông tiến sĩ đã tính sai tới 1 con số quá sức tưởng tượng là: 5 Tỉ, 5 trăm 5 mươi 3 Triệu Li. Tôi cũng chẳng hiểu là ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor rồi  đi tới cõi nào nữa!
 
Nhưng không sao, 5,553,000,000 Dặm chỉ bằng 3.108.569.400 cây số, với tốc độ ánh sáng thì cũng chỉ mất gần 3 tiếng đồng hồ di chuyển mà thôi! Cũng chẳng sao!
 
Và như vậy, tôi chỉ có thể được giải thích cái học của 'tiến sĩ Taylor thời nay' như sau:
 
Ông tiến sĩ K.W. Taylor , thực ra chẳng hề biết mặt mũi bộ 'Cựu Đường Thư' ra sao hết!
 
Ông tiến sĩ chỉ trích dẫn gián tiếp qua người khác, hoặc chỉ nghe người khác nói mà thôi! Và thực cũng không may cho ông là ông lại không được người khác 'chỉ' cho đoạn văn cho biết khoảng cách giữa 'Giao châu - Trường An' trong bộ 'Cựu Đường Thư' mà tôi đã trích dẫn trực tiếp.Thực không may cho ông K.W. Taylor, mà cũng không may cho mấy ngài 'tiến sĩ giấy' khác nữa!
 
Cũng trong Tập san 'Văn Lang' đã đề cập ở phần mở đầu bài viết này, ông Phạm Cao Dương - lại thêm  1 ông tiến sĩ Sử học nữa - có 1 bài viết có cái tựa đề dài lê thê, đọc đến sốt ruột - đó là bài 'Góp Phần Nhận Định Về Sự Du Nhập Nho Giáo Vào VN Dưới Thời Bắc Thuộc', trong đó ông tiến sĩ Sử học Phạm Cao Dương đã dẫn lại đoạn đường 'Giao châu - Trường An' ghi trong  cuốn 'The Birth of Vietnam' của K.W. Taylor - và nhiều điều khác nữa mà tôi dám khẳng định rằng ông không đủ khả năng để có thể kiểm chứng được K.W. Taylor đúng hay sai!
 
Cổ sử Việt Nam cũng như Trung Hoa đã không phải là sở trường của ông, ông dính vào làm chi để chuốc lấy phiền lụy. Vốn liếng về Cổ sử không có thì ông Phạm Cao Dương 'Góp phần' với cái gì đây?, 'Nhận định' theo cái ngả nào đây? Hỡi ông tiến sĩ Phạm cao Dương ?
 
Giả như ông Phạm Cao Dương còn giảng dạy tại Đại học Văn Khoa, Đại học Sư Phạm Sài-gòn như trước đây, vớ được Cuốn 'The Birh of Vietnam', phục lắm, cứ đó mà trích dẫn, soạn bài để giảng dạy sinh viên thì sự tai hại tới đâu không nói ông cũng rõ, tôi cũng rõ và tất cả mọi người  cũng đều rõ!
                                                                          
Ở mặt ngoài bìa sau cuốn 'The Birth of Vietnam' có vài giòng ghi chú như sau: 'Keith Weller Taylor is Associate Professor of Vietnamese Studies, Cornell University'.
 
Tôi thấy mà tội nghiệp cho những sinh viên thụ nghiệp với ông tiến sĩ Giáo sư Phụ giảng tên là  K.W. Taylor hết sức!Nhưng, có lẽ người đáng tội nghiệp trước nhất ở đây là ông tiến sĩ Phạm Cao Dương!
Và, dĩ nhiên, cũng đáng tội nghiệp luôn cho cái Đại học vốn rất nổi tiếng là Cornell nữa!
 
Cuốn 'The Birth of Vietnam' in năm 1983 (University of California Press xuất bản) - không rõ cho tới năm nay (2001) ông tiến sĩ K.W. Taylor có còn giảng dạy tại Đại học đó hay không?    Ô hô, cũng tội nghiệp luôn cho nhà xuất bản 'University of California'!
                                                                          
Trong nửa phần sau của trang 218, tiếp qua 1/3 đầu trang 219, 'The Birth of Vietnam' thuật lại câu chuyện Liêu Hữu Phương (đã nhắc tới ở 1 đoạn trước đây) gặp 1 người học trò thi rớt trong 1 cái quán trọ, chép trong 'Toàn Đường Thi'. Câu chuyện được K.W. Taylor ghi lại như sau:
 
'In 815, I failed the examinations [at Ch'ang-an, the T'ang capital in northern China]. I traveled in the west and came to the Precious Chicken Inn. There I was surprise to hear the sound of someone groaning. I inquired about that person's distress. He replied: 'I have toiled through many examinations but have not yet found favor'. Then he knocked his head on the floor. I talked with him for a long time. His replies were prompt and bitter. Unable to say more, he suddenly leaned to one side and died. I immediately sold my horse to a village notable and bought a coffin for his burial. Alas, I did not even know his name! I took a path through the mountains and sadly laid him to rest. Later, I returned with an inscription:

'Alas, the gentleman died; reduced to extremities, he abandoned the world.
                How many rules weary the heart; brush, ink, the examination yard.
                But briefly acquainted, I offer a little sadness,
                Without knowing where his family's village stands. 127 .
 
This poem is entitled: 'On a Stranger's Coffin: A Poem Engraved on the Occasion of Burying a Scholar at Precious Chicken Inn'......... In the following year, 816, he  passed the exams, earning the chin shih degree, and received an appointment at court as a collator of books. He took the honorific style of 'Wandering Gentleman'.'. 128
 
127  . ChTS, 490, p. 5550.
128  . ChTS, 490, p. 5550.'.              
 
Phỏng dịch như sau:
 
'Năm 815, tôi rớt khoa thi [mở tại Trường-an, kinh đô triều Đường ở bắc bộ Trung Hoa]. Tôi đi về phía tây và tới quán trọ Bảo Kê. Tại đó tôi đã ngạc nhiên khi nghe có tiếng người rên rỉ. Tôi (tìm tới) hỏi về nỗi đau khổ của người này. Ông ta trả lời: 'Tôi đã vất vả cực khổ trải qua nhiều khoa thi mà vẫn không đậu'. Và rồi ông ta dập đầu xuống sàn phòng. Tôi nói chuyện với ông ta 1 lúc lâu. Những lời đối đáp của ông ta mau mắn và cay đắng. Không nói được gì hơn nữa ông ta bỗng dưng ngã vật qua 1 bên và chết. Tôi lập tức bán con ngựa của tôi cho 1 người tiếng tăm trong làng và mua 1 cái quan tài để chôn ông ta. Than ôi, ngay cả tên ông ta rồi tôi cũng không biết nữa! Tôi đi lên núi, buôn rầu đưa ông ta tới nơi an nghỉ cuối cùng. Sau đó tôi trở về với 1 bài thơ:

'Than ôi, con người đáng kinh chết đi; ông ta từ giã cõi đời trong nỗi cùng khốn.
            Rồi biết bao là qui củ gò bó làm hao mòn con tim; bút, mực, trường thi.
                   Vì chỉ mới quen nhau, tôi cũng chẳng buôn bao nhiêu,
                   (Và) cũng chẳng biết nhà cửa của ông ta nơi đâu. 127

Bài thơ này tựa đề: 'Trên quan tài của 1 Lữ khách: Bài Thơ Khắc Lúc Chôn 1 Người Học Trò ở quán trọ Bảo Kê'...... Năm sau, năm 816, ông (Liêu Hữu Phương) đậu tiến sĩ và được bổ nhiệm vào chức Hiệu Thư Lang. (Và) ông đã lấy tên hiệu là 'Du Khanh.'. 128
 
127 . Toàn Đường Thi, Qu. 490, tr. 5550.
128   . Toàn Đường Thi, Qu. 490, tr. 5550.'.
 
Đối chiếu những gì viết về Liêu Hữu Phương ghi trong 'Toàn Đường Thi' và đoạn văn trên đây của K.W. Taylor, mà ông tiến sĩ cũng đã ghi ở phần Cước chú là trích từ 'Toàn Đường Thi', thì  tôi thấy đúng như lời 'CA' của ông Lê Thọ Giáo: Ông tiến sĩ Sử học người Mĩ này quả đúng là 1 học giả 'Lỗi Lạc', có điều, đây là 1 sự 'Lỗi Lạc Lếu Láo 'của các vị 'tiến sĩ giấy'! Xin lỗi ông Lê Thọ Giáo!
 
Sau đây là toàn văn (Hán văn) chép về Liêu Hữu Phương trong 'Toàn Đường Thi':

'Liêu Hữu Phương.

 
Liêu Hữu Phương, Giao châu nhân, Nguyên Hòa thập nhất niên tiến sĩ đệ, cải danh Du Khanh', quan Hiệu Thư Lang. Thi nhất thủ.
'Đề Lữ Thấn'. tính Kí. Nhất bản đề tác: 'Táng Bảo Kê Nghịch Lữ Sĩ Nhân Minh Thi'.
Dư Nguyên Hòa Ất Vị tuế lạc đệ, Tây chinh thích thử, văn thân ngâm chi thanh; tiềm thính nhi vi uyển dã. Vấn kì tật khổ, trú chỉ; đối viết: - Tân cần sổ cử vị ngộ tri âm'; hệ lại khấu đầu cửu nhi phục ngữ: - Duy dĩ tàn cốt tương thác!'. Dư bất năng ngôn; nga nhi thệ.
Dư nãi dục sở thừa mã ư thôn hào, bị quan ế chi, hận bất tri kì tính thị. Lâm kì thê đoạn phục vi minh viết:
                 'Ta quân một thế ủy không nang!
                  Kỉ độ lao tâm hàn mặc trường.
                  Bán diện vị quân thân nhất động,
                  Bất tri hà xứ thị gia hương?'.
                                                              ( Toàn Đường Thi. Qu. CDXC ).
 
Dịch như sau:
 
'Liêu Hữu Phương.
Liêu Hữu Phương, người đất Giao châu, đậu tiến sĩ năm thứ 11 Niên hiệu Nguyên Hòa; đổi tên là Du Khanh; làm quan chức Hiệu Thư Lang. Thơ có 1 bài.      
'Đề Trên Quan Tài' - kèm theo phần Tiểu dẫn ( Kí ). Có bản ghi là 'Bài Thơ Lúc Chôn Người
Học Trò ở Quán Trọ 'Bảo Kê'.'.
Năm Ất Vị Niên hiệu Nguyên Hòa tôi rớt khoa thi, đi về miền Tây, tới đây nghe có tiếng người rên rỉ; lắng nghe thì chừng như có vẻ oán hận. Tôi (tìm đến) hỏi người đó rồi có đau bệnh, hoặc có nỗi khổ gì không, nhà cửa ở đâu; người đó trả lời: 'Tôi vất vả cực nhọc trải mấy khoa thi mà vẫn không gặp được người (khảo quan) biết đến tài học của tôi'; ánh mắt lộ vẻ oán giận, ông ta sụp xuống (trước mặt tôi), mọp đầu sát đất 1 lúc lâu rồi mới nói: - 'Chỉ còn nắm xương tàn này xin gởi ông!'. (Chỉ có vậy), ngoài ra, ông ta không nói được gì hơn nữa; 1 lúc không lâu sau đó thì ông ta chết.
Tôi bán ngay con ngựa đang cỡi cho 1 nhà giàu trong làng, sắm sửa quan tài chôn cất ông ta và giận một nỗi rằng mình vẫn chưa biết tên họ ông ta là gì. Lúc chia lìa đau buồn đó, tôi còn làm 1 bài thơ để ghi nhớ như sau:
                                               'Than ôi ông chết có chi đâu!
                                                Thi cử lao đao mấy độ sầu.
                                                 Mới biết ông thôi nhưng rất xót,
                                                 Quê ông nào biết ở nơi đâu?'.  
 
Cứ đối chiếu đoạn văn tôi dẫn từ 'Toàn Đường Thi' trên đây và đoạn văn mà Ông K.W. Taylor cũng ghi chú là đã dẫn từ tác phẩm vừa kể thì ông Lê Thọ Giáo chắc hẳn không còn chi dị nghị nữa chứ! Tôi nói ông tiến sĩ mà ông nức nở ca tụng là 1 'học giả lỗi, lạc' là 'lếu láo' đâu có sai chút nào đâu! Ông tiến sĩ của ông đã 'lếu láo' mà chính ông cũng 'lếu láo' nữa - lếu láo vì ông  chỉ biết 'ca' mà chẳng biết mình ca 'trúng hay trật nhịp' nữa! Thiệt là 1 'bài ca' lỗi điệu!
 
Bây giờ tôi xét tới cái 'lếu láo' của ông tiến sĩ 'lỗi lạc' - 'trên mắt của ông Lê Thọ Giáo'. Trước hết, bố cục của đoạn văn chép về Liêu Hữu Phương trong 'Toàn Đường Thi' đâu có như ông tiến sĩ K.W. Taylor đã chép lại: Ông đã điên đảo thứ tự của đoạn văn, đặt đầu xuống đít và đặt đít lên đầu, đoạn nói Liêu Hữu Phương đậu tiến sĩ... ở trên K.W. Taylor lôi nó xuống dưới.  Kế đến, xét về nội dung đoạn văn thì 'Toàn Đường Thi' nói rất rõ ràng là sau khi thi đậu tiến sĩ Liêu Hữu Phương đã 'đổi tên' ('cải danh') là 'Du Khanh', chứ không phải là 'lấy tên hiệu' như K.W. Taylor đã viết.
 
Và nếu xét từng câu một thì sẽ chẳng thể nào ngờ là ông tiến sĩ Sử học lại viết lếu viết láo đến thế.
 
1/. Nguyên văn 'Toàn Đường Thi' viết: - 'lắng nghe thì chừng như có vẻ oán hận'.
Rồi chẳng thấy câu này đâu hết trong đoạn văn của K.W. Taylor.
 
2/. Nguyên văn: - 'Tôi (tìm tới) hỏi người đó rồi có đau bệnh hay có nỗi khổ gì không, nhà cửa ở đâu'.
K.W. Taylor: - 'Tôi (tìm tới) hỏi về nỗi đau khổ của người này.'.
Thiếu đi mất 2 í: - một í hỏi về 'đau bệnh', và í thứ hai hỏi về quê quán,'nhà cửa'.
 
3/. Nguyên văn: - 'Ánh mắt lộ vẻ oán giận, ông ta sụp xuống (trước mặt tôi), mọp đầu sát đất 1 lúc lâu rồi mới nói: - 'Chỉ còn nắm xương tàn này xin gởi ông'. (Chỉ có vậy), ngoài ra ông ta không nói được gì hơn nữa; một lúc không lâu sau đó thì ông ta chết'.
K.W. Taylor: - 'Và rồi ông ta dập đầu xuống sàn phòng. Tôi nói chuyện với ông ta 1 lúc lâu. Những lời đối đáp của ông ta mau mắn và cay đắng. Không nói được gì hơn nữa ông ta bỗng dưng ngã vật qua một bên và chết'.
Ở đoạn này thì có lẽ không cần tôi phải dài giòng, độc giả cũng có thể thấy ngay được mức độ 'lếu láo' của ông tiến sĩ K.W. Taylor: - Ở đây làm gì có chuyện Liêu Hữu Phương 'nói chuyện với ông ta 1 lúc lâu', làm gì có chuyện 'những lời đối đáp của ông ta mau mắn và cay đắng' và   làm gì có chuyện 'ông ta bỗng dưng ngã vật qua một bên và chết', làm gì..., và làm gì..... và rồi câu 'Chỉ còn nắm xương tàn này xin gởi ông' rồi không thấy đâu cả! Thiệt hết sức là 'lếu láo'!
 
4/. K.W. Taylor: - 'Tôi đi lên núi...... Sau đó tôi trở về với 1 bài thơ'.
Ô hô, trong đoạn văn của 'Toàn Đường Thi' làm gì có những câu này!
Và câu thứ 3 của bài thơ: 'Bán diện vị quân thân nhất động', nếu dịch cho thật sát thì í nghĩa sẽ như sau: '(Tuy) mới biết nhau nhưng tôi (cũng) rất đau buồn cho cảnh ngộ của ông' - trong khi K.W. Taylor lại viết: 'Vì chỉ mới quen nhau tôi cũng chẳng buồn bao nhiêu.', í ngược hẳn với í của nguyên văn.
 
Và sau cùng, ở câu đầu, khi mở ngoặc giải thích, nói 'Trường-an,kinh đô triều Đường, ở bắc bộ Trung Hoa.' thì hỡi ơi, ông tiến sĩ Sử học còn ù ờ cả về phương diện phương vị Địa lí  nữa!
Trường An thuộc tỉnh Thiểm Tây, 1 tỉnh Trung bộ Trung Quốc; và Trường An nằm ở mạn Bắc Nam bộ tỉnh Thiểm Tây. Chuyện này chẳng cần chi đến 1kiến thức uyên bác về Địa lí học, chỉ cần nhìn lên Bản đồ là thấy ngay, 1 chuyện mà 1 đứa con nít cũng làm được.
 
Và sau cùng nữa, trong bài thơ kể trên, Liêu Hữu Phương đã xưng hô 'Tôi / Ông' - tức đã dùng ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai - nói khác đi là theo lối 'đối thoại'; còn trong khi đó K.W. Taylor lại viết 'Tôi / Ông ta', nghĩa là theo lối 'tự sự'. Tác dụng văn chương, do đó, cũng chợt khác đi ít nhiều.  
 
Tóm lại, có thể khẳng định K.W. Taylor đã dẫn lại đoạn văn trên đây của 'Toàn Đường Thi' từ 1 người nào đó, người này sai, K.W. Taylor không biết, cứ thế, nhắm mắt mà chép lại - và đây  cũng chính là điều đáng tội nghiệp nhất của các ông các bà Tây học không thông hiểu Hán văn mà đi nghiên cứu Cổ học Trung Hoa và Việt Nam. Hỡi ơi! Thực là bất hạnh cho học giới!
                                                                          
Gần đây, đọc tập Bút kí 'Vân Khê Hữu Nghị' của Phạm Sư (? - ?.'Sư' còn đọc âm 'Thư'), sống vào khoảng cuối thời Đường, tôi ngẫu nhiên bắt gặp 1 đoạn viết về Liêu Hữu Phương. Và trong đoạn văn này cũng đã tự thuật lại chuyện Liêu Hữu Phương gặp người học trò thi rớt ở quán trọ 'Bảo Kê', chép trong 'Toàn Đường Thi' vừa dẫn trên đây.  
 
Có điều là tự thuật về Liêu Hữu Phương trong tập 'Vân Khê Hữu Nghị' nói trên đây phong phú hơn những gì chép lại trong 'Toàn Đường Thi' nhiều.
Trước hết, trong 1 đoạn đầu kể lại câu chuyện Liêu Hữu Phương gặp người học trò thi rớt trong quán trọ 'Bảo Kê', Phạm Sư đã có thêm một vài chi tiết như sau:
 
(1). Mở đầu câu chuyện, Phạm Sư viết:
'Liêu Hữu Phương Hiệu thư Nguyên Hòa thập niên thất í hậu, du Thục, chí Bảo Kê tây giới'.
'Quan Hiệu thư Liêu Hữu Phương, năm thứ 10 Niên hiệu Nguyên Hòa, sau khi thi rớt, thì đi về qua đất Thục, tới quán trọ Bảo Kê ở ranh đất phía tây'.
 
(2). Liêu Hữu Phương gặp người học trò thi rớt ở quán trọ Bảo Kê trong tình cảnh như sau:
'Tiềm thính nhi vi xuyết dã. Nãi ư ám thất chi nội kiến nhất bần bệnh nhi lang'.
'Lắng nghe thì đó là tiếng khóc rấm rứt. Và rồi, trong 1 căn phòng tối tăm, ảm đạm, tôi thấy có 1 người đàn ông nghèo khổ, bệnh hoạn'.
 
(3). Lúc Liêu Hữu Phương hỏi thăm thì người đàn ông này:
'cưỡng nhi đối viết' ('miễn cưỡng trả lời').
 
(4). Và sau đó:
'Nghĩ cầu liệu cứu, thị nhân nga hốt nhi thệ. Dư toại tiện dục sở thừa yên mã ư thôn hào'.
'(Tôi còn đang) nghĩ cách cứu giúp, trị bệnh cho thì người này bỗng đâu qua đời 1 thoáng ngay  sau đó. Tôi liền bán rẻ con ngựa đang cỡi, luôn cả bộ yên, cho 1 nhà giàu trong làng'.
 
(Những chữ in đậm trong các đoạn trên đây là những chi tiết không thấy trong phần tự thuật của  bộ 'Toàn Đường Thi').
 
Nhưng, tự thuật của 'Vân Khê Hữu Nghị' về Liêu Hữu Phương đã không chấm dứt ở đó. Lí thú và bất ngờ nhất là những tự thuật tiếp theo đó.
Sau khi chôn cất người học trò thi rớt nghèo khổ, bệnh hoạn ngẫu nhiên mà gặp chỉ một thoáng trong quán trọ 'Bảo Kê', Liêu Hữu Phương rời đất Tây Thục. Về sự việc này Phạm Sư đã kể lại như sau: 
'Liêu quân tự Tây Thục hồi, thủ Đông Xuyên lộ hoàn. Chí 'Linh Hợp dịch', dịch tương nghinh qui tư đệ.
Cập kiến kì thê tố i tái bái, minh yết, tình bất khả nhiệm, bồi hồi thiết từ, hữu đồng thân í. Yêm lưu bán nguyệt, bộc mã giai dụ; xuyết hùng lộc chi trân, cực tân chủ chi phận. Hữu Phương bất trắc hà duyên như thử, tủng thích vưu thậm.
Lâm biệt, kì thê hựu chí, tương biệt bi khấp. Hựu tặng tận tăng cẩm nhất đà, kì giá trị sổ thiên bách lượng. Dịch tương viết lang quân kim Xuân sở mai Hồ Quan tú tài tức kì thê thất chi quí huynh. Thủy tri vong giả Tính Tự. Phục tự bình sinh chi điếu. Sở di chi vật chung bất nạp yên. Thiếu phụ cập phu kiên í bái thượng.
Hữu Phương từ viết: - Bộc vi nam tử, thô sát cổ kim, ngẫu nhiên táng nhất đồng lưu, bất cảm đương tư hậu huệ.
Toại thúc bí nhi tiền. Dịch tương bôn kị nhi tống, phục du nhất dịch thượng vị phân li.
Liêu quân bất cố kì vật, dịch tương cánh bất khiết hoàn, chấp mị các hận đông tây. Vật nãi khí ư lâm dã.'.    
              ( Vân Khê Hữu Nghị. Qu. IX. Liêu Hữu Phương ).   
 
'Liêu Hữu Phương từ Tây Thục trở về, theo ngã Đông Xuyên mà về. Đi tới trạm 'Linh Hợp' thì người coi dịch trạm đón Hữu Phương về nhà riêng.
Về đến nhà, vợ người này mặc i phục trắng ra chào, nghẹn ngào, không dằn được nỗi xúc động trong lòng, nói năng ngập ngừng, dáng chừng thân thiết, như người trong nhà. Trong nửa tháng lưu lại ở đây kẻ theo hầu cũng như ngựa của Hữu Phương đều no đủ; những món ngon quí, như thịt gấu, thịt nai rồi chẳng thiếu món nào, tận hết tình chủ khách. Liêu Hữu Phương không hiểu vì duyên cớ nào mà mình lại được tiếp đãi như vậy, lòng cảm thấy vô cùng bứt rứt.
Lúc từ biệt, vợ người này lại khóc nức nở đưa tiễn. Lại còn tặng Hữu Phương gấm vóc, chở đầy một ngựa, trị giá cả trăm, cả ngàn lượng. Người coi dịch trạm nói vào Xuân năm nay, người mà Hữu Phương chôn cất là tú tài Hồ Quan chính là người anh út của vợ ông. Bấy giờ Hữu Phương mới biết Tính, Tự của người chết. Người này lại kể về nỗi đau buồn của người anh vợ. Vật tặng của 2 vợ chồng thiếu phụ Hữu Phương cuối cùng vẫn không chịu nhận. Thiếu phụ và chồng cứ khăng khăng giao tặng.
Hữu Phương từ chối, nói: - Tôi là 1 nam tử, biết đôi chút về chuyện xưa và nay, chỉ ngẫu nhiên  mà chôn cất 1 người cùng giới, tôi không dám nhận những tặng vật quá hậu như vậy.
Nói xong thúc ngựa chạy đi. Người coi dịch trạm giục ngựa theo đưa tiễn. Lại đi hết 1 trạm nữa mà vẫn chưa nỡ chia tay.
Liêu Hữu Phương không nhận tặng vật, người này cũng không chịu đưa về, níu áo Hữu Phương mà buồn cho cảnh kẻ đông người tây. Gấm vóc tặng Hữu Phương rồi bỏ giữa đồng vắng.'.
 
Cuối đoạn văn dẫn trên Phạm Sư nói thêm là các bậc hương lão đem nghĩa cử của Hữu Phương nói cho quan sở tại biết. Quan sở tại trình việc này lên triều đình, và sau đó thì các quan văn võ người nào cũng muốn làm quen với Hữu Phương. Năm sau Liêu Hữu Phương thi đậu, đổi tên là Du Khanh, và thanh danh nghĩa sĩ của ông cũng vang khắp Trung Hoa và cõi ngoài (Hoa Di).

'Vân Khê Hữu Nghị' là 1 Tập Bút kí (gồm 12 Quyển) ghi chép lại những di văn, dật sự về 1 số nhân vật tiếng tăm Đường triều, trong giới quyền quí, văn nhân, học giả... mà Sử tịch cũng như các tập Bút kí đương thời, vì nguyên nhân tư liệu, sử liệu thu thập chưa được đầy đủ cho nên đã hoặc không ghi chép, hoặc ghi chép nhưng vẫn còn ít nhiều thiếu sót.... như những ghi chép về  Nguyên Tái (? - 777), về các thi nhân Lưu Trường Khanh (709 - ~ 780), Vi Cao (745 - 805), và Trương Tịch (765 - ~ 830)... chẳng hạn. (Vân Khê là tên Hiệu của Phạm Sư. Khi tự thuật Phạm Sư thường tự xưng là Vân Khê Tử).
 
Qua 1 số tư liệu đã ít, lại chép chẳng bao nhiêu về nhân vật tên Liêu Hữu Phương này, người ta chỉ biết ông là 1 người học thức, có nghĩa khí, và nhân cách hơn người. Sinh tại Giao Châu, lúc trưởng thành qua Trung Quốc học và làm quan tại đây. Chỉ có bấy nhiêu, ngoài ra nữa người ta không còn biết gì hơn.
Liêu Hữu Phương nhân phẩm hơn người, nếu không văn hào Liễu Tông Nguyên (773 - 819) đã không viết những giòng như sau:
'Giao Châu đa Nam kim, đại mạo, tượng tê, kì sản giai kì quái, chí ư thảo mộc dịch thù dị. Ngô thường quái dương đức chi bính diệu, độc phát ư phân hoa khôi lệ nhi hãn chung hồ nhân.
Kim Liêu sinh cương kiện, trung hậu, hiếu đệ, tín nhượng, dĩ chất hồ trung nhi văn hồ ngoại, vi Đường thi hữu đại nhã chi đạo, chung ư dương đức giả gia? Thị thế chi sở hãn dã. Kim chi thế hằng nhân kì ư phân hoa khôi lệ tắc phàm tri quí hĩ ( kì dịch hữu quí Liêu sinh giả gia? Quả năng thị, tắc ngô bất vị chi hằng nhân dã, thực dịch thế chi sở hãn dã!'
          (Liễu Tông Nguyên Tập. Qu. XXV. Tự. Tống Thi Nhân Liêu Hữu Phương Tự).
                       
'Xứ Giao Châu có nhiều vàng Nam, voi, tê giác, những vật sản đất này đều kì lạ, cho tới cây cỏ cũng rất lạ. Tôi thường lạ một điều là sự xum xuê tươi đẹp rồi chỉ nảy sinh nơi sự vật mà ít thấy nơi con người.
Như Liêu sinh là người cứng cỏi mạnh mẽ, trung hậu, hiếu để, thành thực, khiêm tốn, chất phác hàm bên trong mà văn vẻ lộ ra ngoài; về thơ Đường thì hiểu rõ nguyên tắc của Thơ, phải chăng đây rồi cũng như cái rực rỡ, tươi đẹp kia của sự vật? Đây là điều hiếm có trên đời. Thời bây giờ đối với vẻ rực rỡ, tươi đẹp của sự vật thì người bình thường rồi ai cũng biết quí trọng, và biết có người nào biết quí trọng Liêu sinh [như vậy] không đây? Nếu như có những con người như vậy thì tôi không gọi những người này là những người bình thường, họ thực cũng đáng gọi là những người hiếm có trên đời!'.
 
Ngoài ra, Liễu Tông Nguyên còn 1 lá thư gởi Liêu Hữu Phương, ghi là:
'Đáp Cống Sĩ Liêu Hữu Phương Luận Văn Thư' (Liễu Tông Nguyên Tập. Qu. XXXIV. Thư).
Liêu Hữu Phương gởi thư nhờ Liễu Tông Nguyên viết một vài lời đề Tựa cho tập thơ của mình,  Liễu Tông Nguyên gởi thư này trả lời. 
 
Trong cuốn 'An Nam Chí Lược', Lê Tắc (? - ?) đời Trần (1225 - 1400), Việt Nam, cũng đã coi Liêu Hữu Phương như là 1 danh nhân của đất Giao Châu. Có điều, Lê Tắc cũng không có 1 ghi chép nào về Liêu Hữu Phương, chỉ ghi lại toàn văn bài 'Tự' đã dẫn trên của Liễu Tông Nguyên mà thôi, ngoài ra không còn gì hết. (Tham khảo: 'An Nam Chí Lược', Quyển XV. Mục 'Nhân Vật', Phần 'Danh Nhân'). 
 
Cuốn 'The Birth of Vietnam' có tất cả là 15 phần 'Phụ Lục' ('Appendix') được ghi theo thứ tự Mẫu Tự, từ A đến O, mỗi 'Phụ Lục' có 1 Tiêu đề.
 
'Phụ Lục N' ('Appendix N') có Tiêu đề:
 
 'P'i Jih-hsiu and the Nan-chao War' ('Bì Nhật-hưu và Cuộc Chiến tranh Nam-chiếu').
Phần 'Phụ Lục N' này, K.W. Taylor thảo luận về bài thơ thứ 2 trong 3 bài thơ có Tựa đề chung là 'Tam Tu thi' ('3 Bài thơ về 3 chuyện Sỉ Nhục') của Bì Nhật Hưu (834? - 883?), Văn học gia cuối đời Đường, làm để điếu 2000 quân thành Hứa Xương được điều động xuống phương Nam và tử trận ở Giao Chỉ trong cuộc chiến tranh với Nam Chiếu.
Khi soạn phần 'Phụ Lục N' này, ông K.W. Taylor chủ yếu đã căn cứ 1 cuốn biên khảo của ông giáo sư Đại học William H. Nienhauser Jr., tựa đề 'P'i Jih Hsiu' ('Bì Nhật Hưu').
(Boston, 1979 - ghi trong phần Thư Mục tham khảo, trang 380, của 'The Birth of Vietnam').
Những gì được chuyển dịch từ Tư, Sử liệu Hán văn qua Anh văn trong phần 'Phụ Lục N' tuy là K.W. Taylor không nói của ai, của W.H. Nienhauser, hay của 1 người nào khác, nhưng hầu hết những diễn giải về tư tưởng của Bì Nhật Hưu, luôn cả một số chi tiết về tiểu sử ông, ở đây, đều được trích dẫn từ cuốn biên khảo nói trên. Cứ đó thì có thể nói là phần chuyển dịch Hán - Anh ở đây là của W.H. Nienhauser.
 
Lại nữa, trong phần đề tựa cuốn 'The Birth of Vietnam', K.W. Taylor có đoạn viết:
 
'I am also indebted to......
Professor William H. Nienhauser, Jr., of the University of Wisconsin kindly offered valuable insights into the poem by P'i Jih-hsiu discussed in Appendix N'. (Preface. xvi.).
Và bây giờ tôi xin trích dẫn 1 đoạn, đoạn chủ yếu, của phần 'Phụ Lục N' nói trên đây của cuốn 'The Birth of Vietnam':
'In 865, after wandering about the Yangtze basin for two years, P'i Jih-hsiu traveled to Chang-an, the T'ang capital, to take the civil service examination (Nienhauser, pp. 26 - 27). On his way, he stopped in the city of Hsü (variously Hsü-ch'ang or Hsü-chuan), located on the Ying River in modern Ho-nan, about two hundred miles southeast of Lo-yang. In 862, two thousand men from Hsu had been drafted for the T'ang army sent to Vietnam against the Nan-chao offensive of that year. Here is how P'i Jih-hsiu's visit to Hsü is recorded in the Ch'uan T'ang shih:
 
          Jih-hsiu was staying at an inn in Hsü-ch'uan. He suddenly heard the sound of wailing outside the city walls and inquired of people passing in the street. They said: 'Southern barbarians besieged our Giao-chi. An imperial order was received to levy two thousand Hsü   soldiers to attack them. They attacked again and again, and they all died in battle. Those who weep are the families of those soldiers. Alas! There is no news from Yang-tzu because contact with Chu-yai has been broken. Our armies are advancing over the dead bodies of our own men, for otherwise the 'little fish' will scorn our Central kingdom; is not that how it is said?' [On 'little fish' as a term for 'barbarians', see Morohashi, I, 595]. Sir P'i, walking among them, said: 'There is nothing I can do to help this situation; I cannot even complete my degree. Furthermore, my hand will not lift stick to beat drums, and I hate weapons of war. I just quietly follow my own nature, quietly follow my own pleasure. But I am also guilty of the Hsü   warrior's fate [not having done anything to prevent it] and will compose a poem to mourn for them (Ch TS, 608).
 
Yang-tzu was the main T'ang port at the mouth of the Yangtze River.'.
 
(  pp. 344 - 345 ).
Dịch như sau:
 
'Vào năm 865, sau 2 năm quanh quẩn trong khoảng lưu vực sông Duơng tử, Bì Nhật Hưu lên đường đi Trường-an, kinh đô Đường triều, để ứng thí (Nienhauser, các tr. 26 ( 27). Trên đường đi ông dừng chân ở thành Hứa (có các tên gọi khác nhau là Hứa-xương hoặc Hứa-truyện), nằm bên bờ sông Dĩnh, tỉnh Hà-nam hiện nay, cách thành Lạc-dương khoảng 200 dặm về phía đông nam. Vào năm 862, 2000 người đất Hứa bị trưng tập vào đội quân Đường triều và bị điều động tới Việt Nam để đương đầu vớc cuộc tấn công của quân Nam-chiếu năm đó. Việc Bì Nhật Hưu ghé thành Hứa đã được ghi lại trong Toàn Đường Thi như sau:
         Nhật Hưu đang ở trong quán trọ tại Hứa-truyện. Bỗng đâu ông nghe có tiếng than khóc mé ngoài tường thành và bước ra hỏi thăm những người qua lại bên đường. Những người này nói rằng: 'Rợ phương Nam vây đất Giao-chỉ của chúng ta. Triều đình ra chiếu chỉ trưng tập 2000 quân binh đất Hứa để tiến đánh bọn chúng. Họ đã tấn công hết đợt này tới đợt khác, và rồi tất cả đều tử trận. Những người đang than khóc kia là thân nhân của những quân binh đó. Than ôi! Không có tin tức gì từ Dương-tử vì sự liên lạc với Chu-nhai đã bị cắt đứt. Quân binh của chúng ta phải bước qua xác chết của chính đồng đội mình để mà tiến lên, bằng không thì loại 'cá nhỏ' rồi sẽ coi thường vương triều Trung Nguyên chúng ta; không phải rồi người ta đã chẳng từng nói như vậy sao? [ Về từ ngữ 'cá nhỏ' như là 1 từ ngữ dùng để chỉ dân 'man di', xin coi Morohashi, I, 595.]. Đi giữa những người qua đường đó, Bì tử nói: 'Tôi không làm được gì để cứu vãn tình thế này; ngay cả học vị của tôi, tôi còn chưa hoàn tất được. Hơn nữa, tay tôi rồi không cầm dùi để đánh trong [trận], và tôi ghét vũ khí chiến tranh. Tôi chỉ lặng lẽ xuôi theo cá tính của tôi, lặng lẽ xuôi theo vui thú của riêng tôi. Nhưng rồi tôi cũng có tội đối với cái chết của những chiến sĩ đất Hứa [vì đã không làm một cái gì để ngăn chặn điều đó] và tôi sẽ làm 1 bài thơ để phúng điếu họ'. (Toàn Đường Thi, 608).
 
Dương-tử là giang cảng chủ yếu của Đường triều ở cửa sông Dương-tử.'.
 
Vẫn như 'lệ thường', những cái sai của K.W. Taylor trong đoạn văn dẫn trên đây rất nhiều - và nhất là rất nặng . Trước hết, vẫn cứ sai về Địa Lí.
 
Khi viết tới câu 'dừng chân ở thành Hứa', K.W. Taylor đã mở luôn cái ngoặc đơn để giải thích rằng thành này còn được gọi dưới các tên khác nữa là 'Hứa-xương hoặc Hứa-truyện'.
Thưa ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor, và những ông, bà Việt Nam chỉ có cái Bằng cấp Tây học phục ông sát đất, như Hue-Tam Ho Tai, Truong Buu Lam, Phạm Cao Dương, Lê Thọ Giáo... :
 
Trong lịch sử Trung Hoa, cổ kim không có 1 địa danh nào gọi là 'Hứa-truyện' hết!
Trong 25 bộ Chính sử Trung Hoa chỉ có 13 Bộ là có Mục ghi chép về Địa lí, đó là các Bộ:

'Hán Thư', 'Hậu Hán Thư', 'Tấn Thư', 'Tống Thư', 'Nam Tề Thư', 'Tùy Thư',
'Cựu Đường Thư', 'Tân Đường Thư', 'Cựu Ngũ Đại Sử', 'Tống Sử, 'Nguyên Sử',
'Minh Sử', Thanh Sử Cảo'.
 
Trong 13 Bộ Sử nói trên tôi không thấy 1 địa danh nào gọi là Hứa-truyện hết!

Cho chắc hơn nữa, tôi lại đọc thêm 2 tác phẩm chuyên môn về Địa Lí học rất là trứ danh, đó là 2 Bộ 'Thủy Kinh Chú' của Lịch Đạo Nguyên (469 - 527) triều Bắc Ngụy (386 - 534), vào thời Nam Bắc triều (420 - 589) và 'Phương Dư Khảo Chứng' của Hứa Hồng Bàn (1757 - 1837) đời Thanh (1644 - 1911).
 
Lại thêm 1 Bộ nữa cũng rất nổi tiếng gần đây là Bộ 'Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập', do một nhóm biên soạn, chủ biên là Đàm Kì Tương - và hơn chục Bộ khác nữa cũng về Địa Lí, nhưng rồi vẫn không thấy cái địa danh 'quái đản' có tên gọi là 'Hứa-truyện' ở đâu hết!
 
Gọi là 'quái đản' vì cái địa danh này chỉ có từ sự kém cỏi, 'Học chưa tới - Vấn chưa thông' của 2 ông tiến sĩ dạy Đại học K.W. Taylor và W.H. Nienhauser. Không mà thành Có là sao vậy?
Trong phần tiếp theo đây, tôi lại nói chuyện 'Toàn Đường Thi' với ông K.W. Taylor, chừng đó người đọc sẽ thấy tại sao ngành Địa lí học Trung Quốc lại có thêm 1 địa danh 'Hứa-truyện', và đồng thời 1 lần nữa, trong số rất nhiều lần, thấy luôn được cái trình độ phải nói là hết sức tồi tệ về Hán học, về Cổ học của ông tiến sĩ Cổ Sử học K.W. Taylor - và cũng chính nhờ ông tiến sĩ Cổ Sử học này mà ở đây ông giáo sư của Đại học Wisconsin, William H. Nienhauser Jr. , cũng có phần.
Trước khi trích dẫn toàn văn tự thuật sự việc Bì Nhật Hưu dừng chân ở thành Hứa Xương, chép trong 'Toàn Đường Thi', cũng cần nói qua 1 vài điểm:
 
3 bài 'Tam Tu thi' của Bì Nhật Hưu mỗi bài có 1 phần gọi là 'Tự' (tức như lời 'Tiểu dẫn') - và đoạn văn đề cập ở đây chính là phần 'Tiểu dẫn' của bài 'Tu thi' thứ 2. Ông tiến sĩ K.W. Taylor đã không nói tới điều này (hay không biết thì tôi cũng không rõ).

Phần 'Tiểu dẫn' này cũng thấy trong bộ 'Bì Tử Văn Tẩu' ('Bì Nhật Hưu Văn Tập. Qu. X.), chỉ khác có 2 chữ, và sẽ được để trong ngoặc đơn.
 
'Nhật Hưu lữ thứ ư (vu) Hứa truyện xá, văn khiếu đào chi thanh động ư (vu) thành quách. Vấn ư (vu) đạo dân, dân viết 'Man vi ngã Giao chỉ, phụng chiếu trưng Hứa binh nhị thiên chinh chi. Kì chinh thả tái, hữu chiến giai một; kì khốc giả, Hứa binh chi thuộc'.
Ô hô! Dương tử bất vân phù: 'Chu Nhai chi tuyệt, Duyên Chi chi lực, phủ tắc giới lân dịch ngã i thường!', kì thị chi vị gia?
Bì tử vi chi nội quá viết: 'Ngô đạo bất túc dĩ tế thời, bất khả dĩ bị vị, hựu thủ bất đề phù cổ, thân bất bị binh giới, đìềm nhiên tự thuận, điềm (di) nhiên tự lạc, ngô dịch vi Hứa sư chi tội nhân nhĩ!'. Tác thi dĩ điếu chi.'.
                                                 ( Toàn Đường Thi. Qu. DCVIII ).
 
'Nhật Hưu ở dịch trạm thành Hứa,nghe có tiếng khóc than vang động mé ngoài tường thành. Hỏi kẻ qua lại bên đường thì họ nói: 'Dân Man vây thành Giao chỉ của ta, theo chiếu triều đình (quan sở tại) trưng tập 2,000 quân binh thành Hứa đi đánh bọn chúng. Đánh rồi lại đánh, để rồi tất cả đều tử trận; những người đang than khóc đó là thân nhân của những quân binh thành Hứa tử trận đó'.
Hỡi ôi! Dương tử đã chẳng từng nói đó sao: - 'Việc bỏ quận Chu Nhai là công của Duyên Chi, bằng không chúng ta rồi đến đổi mạng với giống Man di!, câu nói này cũng chẳng là đúng cho trường hợp ở đây sao?
Bì tử tự trách mình: - 'Tài học của ta không đủ để cứu đời, không đảm đương nổi trách vụ được giao phó, tay lại không nâng (nổi) trống trận, thân không trang bị Binh khí, cứ điềm nhiên sống theo í thích của mình, cứ điềm nhiên vui với cái vui của mình, (và như vậy), ta cũng là tội nhân của những quân binh thành Hứa này!'. (Và Bì tử) làm thơ điếu những quân binh này.'.
 
Trước hết, tôi xin trở lại vấn đề địa danh 'Hứa-truyện' của ông tiến sĩ K.W. Taylor. Có dẫn lại nguyên văn phần 'Tiểu dẫn' bài 'Tu thi' thứ 2 của Bì Nhật Hưu thì mới rõ tại sao lại có địa danh 'Hứa-truyện' quái đản này.
 
Trong bài 'Về Một Cuốn Sách' trước đây tôi đã có nói:
 
'Nỗi khó khăn đáng kể khi đọc những tác phẩm cổ Trung Quốc là trong 1 tác phẩm, có khi vài trăm trang, người đọc không hề thấy được 1 dấu phẩy hay 1 dấu chấm khả dĩ phân biệt câu này với câu kia, đoạn văn này với đoạn văn kia; lại nữa, các tên riêng như Nhân danh, Địa danh...... rồi cũng chẳng có 1 dấu hiệu nào để mà phân biệt với các chữ khác'.
 
Địa danh 'Hứa-truyện' ở đây rồi đã do nỗi khó khăn nói trên mà ra, do ngắt đoạn  sai mà ra:
'Nhật Hưu lữ thứ ư Hứa truyện xá...'.
Ông tiến sĩ W.H. Nienhauser  đã nghĩ rằng chữ 'truyện' trong câu trên đi đôi với chữ  'Hứa' để thành 1 từ ghép: 'Hứa truyện', chỉ địa danh.
 
Và, ông tiến sĩ K.W. Taylor của chúng ta - đúng hơn là của các vị Hồ, Trương, Lê, Phạm và... - bất biết trúng trật, cứ thế mà theo, cứ thế mà nói là 'Hứa-truyện', và còn cho in cả chữ Hán nữa trong phần 'Từ Biểu' ('The Birth of Vietnam'. 'Glossary'. Places Names. Chinese, p. 363).
Ôi! Ông tiến sĩ ơi là ông tiến sĩ!
 
Cả hai ông tiến sĩ đã không biết rằng trong Hán văn, 'Truyện Xá' là một danh từ chung, đồng nghĩa với các tiếng 'dịch đình', 'dịch trạm', 'khách xá'....... là chỗ dể khách đường xa tạm dừng chân  nghỉ ngơi, ăn uống....
 
Tiếng 'Truyện Xá' thấy rất nhiều trong thư tịch cổ Trung Hoa, như:
 
+ 'Sử Kí' của Sử gia Tư Mẵ Thiên (145 - 86? tr. Cn.) thời Tây Hán (206 tr. Cn. - 08 Cn.).
+ 'Hán Thư' của Sử học gia Ban Cố (32 - 92) thời Đông Hán (25 - 220).
+ 'Chiến Quốc Sách' của Lưu Hướng (77 - 06 tr. Cn.) đời Tây Hán.
Chỉ nêu ra đây 1 vài bộ Sử thư trứ danh, như 3 bộ trên đây, cũng đã quá đũ. Và sau đây là 1 vài dẫn chứng trong các bộ Sử thư kể trên:
 
Sách 'Sử Kí' chép:
'Sơ Phùng Hoãn văn Mạnh Thường Quân hiếu khách, niệp cước nhi kiến chi.
 Mạnh Thường Quânviết: - Tiên sinh viễn nhục, hà dĩ giáo Văn dã?
Phùng Hoãn viết: - Văn quân hiếu sĩ, dĩ bần thân qui ư quân.
Mạnh Thường Quân trí Truyện Xá.
Thập nhật Mạnh Thường Quân vấn Truyện Xá trưởng viết: - Khách hà sở vi?
Đáp viết: - Phùng tiên sinh thậm bần, do hữu nhất kiếm nhĩ!'.
                                                (Sử Kí. Qu. LXXV. Mạnh Thường Quân truyện ).
 
'Trước đây, nghe tiếng Mạnh Thường Quân hiếu khách, Phùng Hoãn đi giầy cỏ tới gặp.
Mạnh Thường Quân hỏi: - Tiên sinh không ngại đường xa tới đây, có gì chỉ dạy Văn không?
Phùng Hoãn nói: - Nghe tiếng ông hiếu sĩ, tôi vì nghèo mà tới đây nương nhờ ông.
Mạnh Thường Quân cho ở Khách Xá..
Được 10 ngày, Mạnh Thường Quân hỏi người phụ trách trông coi Khách Xá:
- Có thấy khách làm gì không?
(Người này) trả lời: - Phùng tiên sinh nghèo lắm, nhưng vẫn có 1 thanh kiếm!'.
(Chữ 'Văn' trong câu 'có gì chỉ dạy Văn không?' tức Điền Văn, tên của Mạnh Thường Quân).
(Coi thêm Qu. XCVII. Lịch Sinh truyện).
 
Bộ 'Hán Thư' chép:
'Bái công chí Cao Dương Truyền Xá, sử nhân triệu Tự Cơ'.
                                                      ( Hán Thư. Qu. XLIII. Lịch Tự Cơ truyện ).
'Bái công tới Khách Xá ở Cao Dương, rồi sai người gọi Tự Cơ tới'.
(Bái công tức Lưu Bang (256 - 195 tr. Cn.; tại vị: 206 - 195), Cao tổ triều Tây Hán).
 
Và ở một Quyển khác:
'Nhiên phú quí vô thường,hốt tắc dịch nhân; thử như Truyền Xá'.
   ( Sđd. Qu. LXXVII. Cái Khoan Nhiêu truyện ).
 
'Nhưng phú quí là chuyện vô thường, mới đó rồi đổi qua tay người khác; chuyện này cũng như người ở Quán Trọ'. Chữ 'Truyện', học giả Nhan Sư Cổ (581 - 645) đọc âm 'Truyền': 'Truyền Xá'.   
                    

Chú thích câu trước trong 2 câu dẫn trên của sách 'Hán Thư', ông viết:

'Truyền Xá giả, nhân chi sở tức; tiền nhân dĩ khứ, hậu nhân phục lai, chuyển tương truyền dã. Nhất âm Trương Luyến phiên, vị Truyện Trí chi xá dã, kì nghĩa lưỡng thông'.
'Quán Trọ là nơi người ta nghỉ ngơi; người trước vừa đi, người sau lại tới, cứ thế mà luân lưu.  (Chữ Truyền) còn âm đọc nữa là Truyện (phiên thiết: Trương Luyến), tức nhà Dịch trạm; nghĩa cũa 2 chữ tương thông'.
Cứ đó thì tiếng 'Truyện Xá' trong sách 'Hán Thư', Nhan Sư Cổ đọc là 'Truyền Xá' 

Chú thích câu sau, ông viết:


'Ngôn như Khách Xá hành khách, triếp quá chi'.

'Í nói như khách đi đường ở Quán Trọ, ở một thoáng rồi đi'.
 
Tập 'Chiến Quốc Sách' viết:
'Lệnh Tị chi nhập Tần chi Truyện Xá, Xá bất túc dĩ xả chi.'.
                          ( Chiến Quốc Sách. Ngụy Sách 4. Quản Tị chi lệnh Trạch Cường dữ Tần sự ).
 
'Sai (Quản) Tị tới Khách Xá của Tần (quốc), Khách Xá rồi không có chỗ cho Quản Tị.'.
 
Ông K.W. Taylor và những người ca tụng ông rồi còn gì để nói nữa không?
 
Chuyện tiếp theo đây vẫn là chuyện Địa Lí, vẫn là chuyện dính dáng tới thành Hứa Xương - và lại là chuyện vị trí Địa dư.
 
Trước đây, chúng ta đã thấy vị trí chính xác của thành Trường An nằm tại đâu trên bản đồ, ông tiến sĩ Sử học cũng lơ mơ lờ mờ; bây giờ vị trí của thành Hứa Xương ông lại cũng ù à ù ờ, cũng không biết đâu là đâu!
 
Như đã thấy, ở một đoạn trước đây ông tiến sĩ Cổ Sử học K.W. Taylor đã nói hết sức rõ ràng là thành Hứa Xương 'nằm bên sông Dĩnh, tỉnh Hà-nam hiện nay, cách thành Lạc-dương khoảng 200 dặm về phía đông nam'.
 
Tôi không hiểu ở đây rồi ông tiến sĩ Cổ Sử học nói đến thành Hứa Xương nào? Nếu ông nói tới một Hứa Xương 'bên sông Dĩnh,tỉnh Hà-nam hiện nay' thì chừng như đâu đó ông muốn nói tới Thị Xã Hứa Xương  hiện nay.
 
Thưa ông tiến sĩ Cổ Sử học, nếu ông nói đến Thị Xã Hứa Xương (Hứa Xương Thị) hiện nay thì chỗ này dứt khoát không phải là 'chỗ xưa kia', hơn 1 ngàn năm trước đây, vào thời Đường, chỗ có cái 'Truyện Xá' Bì Nhật Hưu đã  từng ghé qua! Vì sao vậy?
 
Vì, thưa ông tiến sĩ Cổ Sử học K.W. Taylor, Cổ thành Hứa Xương của thời Đường hiện nay rồi cách Hứa Xương Thị 21 Cây số (tính theo Bản đồ Tỉ lệ) về phía Đông Bắc. Nghiên cứu Sử học lẽ nào ông lại không biết lẽ 'Vật hoán tinh di', lại không biết vấn đề 'Địa Lí duyên cách' trong Sử học? Đây là chuyện thứ nhất.
 
Chuyện thứ hai,thưa ông tiến sĩ, cả 2 địa khu Hứa Xương cổ và kim tôi vừa đề cập trên đây đều không nằm bên bất cứ 1 con sông nào hết!
 
Cổ thành Hứa Xương nằm ở ven biên Tây bộ đồng bằng Hoàng Hoài, chung quanh thành là cả 1 vùng đồng bằng đất đai phì nhiêu. Bình nguyên Hoàng Hoài trải rộng trên 1 vùng phía Đông tỉnh Hà Nam, phía Tây tỉnh Sơn Đông và cả 1 dải đất phía Bắc sông Hoài thuộc 2 tỉnh An Huy và Giang Tô. Là dải đất miền Nam của đồng bằng Hoa Bắc đồng bằng Hoàng Hoài chủ yếu do phù sa của vùng hạ du sông Hoàng Hà và sông Hoài bồi đắp mà thành.
Những kiến thức về Địa lí như trên đây ở bậc tiểu học người ta đã dạy cho con nít rồi, thưa ông tiến sĩ Cổ Sử học K.W. Taylor!
 
Điều thứ ba, thành Hứa Xương 'cách thành Lạc-dương khoảng 200 dặm về phía đông nam'.
200 dặm (mile) ở đây tức: 200  x  1,609 cây số.  =  321,8 cây số.
Tôi lại không hiểu ông tiến sĩ Sử học nói khoảng cách nào? khoảng cách trên thực tế đường xá, hay khoảng cách theo bản đồ tỉ lệ? Tôi nghĩ ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor cũng cần nói rõ ra điểm này.
 
Vị trí của Cổ thành Hứa Xương:
Kinh độ:      114 0         Vĩ độ:       34 0 10'.
Vị trí của Thị Xã Hứa Xương hiện nay:
Kinh độ:      113 0 50'         Vĩ độ:      34 0 2' 19''.
Và nếu tính khoảng cách theo Bản đồ tỉ lệ:
Cổ thành Hứa Xương - Cổ thành Lạc Dương  =  150. 5 cây số.
Bản đồ Lịch sử tôi căn cứ ở đây có Tỉ lệ 1 / 3 500 000.
1cm. Trên Bản đồ  =  35 cây số; và khoảng cách trên đo được 4.3cm.
Những số liệu trên đây căn cứ:
'Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập', Tập V. Tùy. Đường. Ngũ Đại Thập Quốc thời kì.
  Địa đồ 44 - 45. Đô Điện đạo. Hà Nam đạo.
                                                                           
  Và bây giờ tôi sẽ đối chiếu phần chuyển dịch Anh văn và nguyên văn Hán văn đoạn 'Tiểu dẫn' của bài 'Tu thi' thứ 2 của Bì Nhật Hưu chép trong 'Toàn Đường Thi'.
 
Tôi phải nói ngay rằng tôi không ngờ trình độ Học Vấn của 2 ông tiến sĩ giảng dạy Đại học lại có thể tồi tệ - nếu không muốn nói là dốt vì lịch sự - đến độ 'bất khả tư nghì' như vậy!!!

Có đối chiếu mới rõ ra là K.W. Taylor và W.H. Nienhauser đã dịch lếu dịch láo!

 
Từ câu 'There is no news from Yang-tzu because contact with Chu-yai has been broken...' cho đến hết đoạn văn rồi 'không có' chỗ nào trúng với nguyên văn của Bì Nhật Hưu hết, người đọc có thể thấy rất rõ điều này - chỉ có các ông, các bà phục ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor sát đất là Hue-Tam Ho Tai, Truong Buu Lam, Phạm Cao Dương, Lê Thọ Giáo......., (và còn bao nhiêu  ông, bà Việt Nam nữa có bằng cấp cao về Tây học, nhất là Sử học, nữa) là không thấy mà thôi!
 
Trước hết, cái sai lớn, nặng nhất của 2 ông tiến sĩ ở đây là Nhân danh (Tên người) ( mà vì rằng  không thông Hán văn, cho nên 2 ông mới hiểu và dịch tầm bậy thành Địa danh (Tên đất).
 
Câu vừa dẫn trên nguyên văn là:
'Dương tử bất vân phù: - Chu Nhai chi tuyệt, Duyên Chi chi lực...'.
 
Câu văn hết sức rõ ràng, không thể nào lầm lộn được! Bây giờ cho dù không biết 'Dương tử' là tên người đi nữa thì 2 ông cũng phải biết rằng chữ 'Vân' trong câu có nghĩa là 'Nói'; và, lẽ nào 'Đất' lại biết nói?  
 
Ngoài ra, về Hán tự, 2 chữ 'Duyên' và 'Tổn' từa tựa, do đó có sách ghi là Giả Tổn Chi'.

'Dương tử' đây là Dương Hùng (53 tr. Cn. - 18 Cn.), tư tưởng gia, ngữ ngôn học gia, từ phú gia rất trứ danh cuối triều Tây Hán, tác giả của những tác phẩm như 'Thái Huyền' (mô phỏng theo 'Dịch Kinh', học giả thời sau đã tôn xưng là Kinh), 'Pháp Ngôn' (mô phỏng Sách 'Luận Ngữ') và 'Phương Ngôn' (như danh xưng cho thấy, đây là tác phẩm khảo về ngôn ngữ địa phương, và là 1 trong tác phẩm trọng yếu trong lãnh vực nghiên cứu ngôn ngữ, văn tự cổ đại).
 
Và, để K.W. Taylor cũng như Hue-Tam Ho Tai, Truong Buu Lam, Phạm Cao Dương, và ở đây Lê Thọ Giáo phải 'khẩu phục', 'tâm phục', tôi xin nói luôn để các ông, các bà rõ 'câu nói' trên đây của Dương Hùng xuất xứ từ đâu.
 
Câu 'Chu Nhai chi tuyệt, Duyên Chi chi lực dã, phủ tắc Giới lân dịch ngã I thường' trên đây là 1 câu trong thiên 'Hiếu Chí', sách 'Pháp Ngôn' (Qu. XIII.) của Dương Hùng.
 
Sau đây là một đoạn về tiểu sử Giả Duyên Chi (?  - 43 tr. Cn.), chép trong bộ sử 'Hán Thư' của Sử gia Ban Cố (32 - 92):
 
'Giả Duyên Chi, tự Quân Phòng, Giả Nghị chi tằng tôn dã.
Nguyên đế tức vị, thượng sớ ngôn đắc, thất, triệu đãi chiếu Kim Mã môn.
Sơ, Vũ đế chinh Nam Việt, Nguyên Phong nguyên niên lập Đam Nhĩ, Chu Nhai quận, giai tại Nam phương hải trung châu cư, quảng mậu khả thiên lí, hợp thập lục huyện, hộ nhị vạn tam thiên dư. Kì dân bạo ác, tự dĩ trở tuyệt, sổ phạm lại cấm, lại dịch khốc chi, suất sổ niên nhất phản, sát lại. Hán triếp phát binh kích định chi.
Tự sơ vi quận chí Chiêu đế Thủy Nguyên nguyên niên, nhị thập dư niên gian, phàm lục phản bạn. Chí kì ngũ niên, bãi Đam Nhĩ quận tính thuộc Chu Nhai. ChíTuyên đế Thần Tước tam niên, Chu Nhai tam huyện phục phản. Phản hậu thất niên, Cam Lộ nguyên niên, cửu huyện phản, triếp phát binh kích định chi.
Nguyên đế Sơ Nguyên nguyên niên, Chu Nhai hựu phản. Phát binh kích chi, chư huyện canh bạn, liên niên bất định. Thượng dữ hữu ti nghị phát đại quân, Duyên Chi kiến nghị dĩ vi bất đương kích. Thượng sử Thị Trung Phụ Mã Đô Úy Nhạc Xương Hầu cật vấn Duyên Chi viết:
- Chu Nhai nội thuộc vi quận cửu hĩ, kim bội bạn nghịch tiết, nhi vân bất đươmg kích, trưởng Man di chi loạn, khuy tiên đế công đức, Kinh nghĩa hà dĩ xử chi?
Duyên Chi đối viết:
- ...... Kim thiên hạ độc hữu Quan Đông; Quan Đông đại giả độc hữu Tề, Sở. Dân chúng cửu khốn, liên niên lưu li, li kì thành quách, tương chẩm tịch ư đạo lộ. Nhân tình mạc thân phụ mẫu, mạc lạc phu phụ, chí giá thê mại tử, pháp bất năng cấm, nghĩa bất năng chỉ, thử Xã Tắc chi ưu dã. Kim bệ hạ bất nhẫn uyên uyên chi phẫn, dục khu sĩ chúng tế chi đại hải chi trung, khoái tâm u minh chi địa, phi sở dĩ cứu trợ cơ cân, bảo toàn nguyên nguyên dã. 'Thi' vân: - Xuẩn nhĩ Man Kinh, đại bang vi thù.', ngôn Thánh nhân khởi tắc hậu phục, Trung Quốc suy tắc tiên bạn, động vi quốc gia nạn, tự cổ nhi hoạn chi cửu hĩ! Hà huống nãi phục kì Nam phương chi Man hồ!?
Lạc Việt chi nhân, phụ tử đồng Xuyên nhi dục, tương tập dĩ ẩm, dữ cầm thú vô dị, bản bất túc quận huyện trí dã. Chuyên chuyên độc cư nhất hải chi trung, vụ lộ khí thấp, đa độc thảo, trùng xà, thủy thổ chi hại, nhân vị kiến lỗ, chiến sĩ tự tử; hựu phi độc Chu Nhai hữu chu, tê, đại muội dã. Khí chi bất túc tích, bất kích bất tổn uy; kì dân tỉ do ngư tiết, hà túc tham dã!
....... Đối tấu, thượng dĩ vấn Thừa tướng, Ngự sử. Ngự sử Đại phu Trần Vạn Niên dĩ vi đương kích; Thừa tướng Vu Định Quốc dĩ vi 'tiền nhật dư binh kích chi liên niên, Hộ quân Đô Úy, Hiệu Úy cập Thừa phàm thập nhất nhân, hoàn giả nhị nhân, tốt sĩ cập chuyển thâu tử giả vạn nhân dĩ thượng, phí dụng tam vạn vạn dư thượng vị năng tận hàng. Kim Quan Đông khốn phạp, dân nạn dao động, Duyên Chi nghị thị'.
Thượng nãi tòng chi, toại hạ chiếu viết:
- ......Phù vạn dân chi cơ ngạ dữ viễn Man chi bất thảo, nguy thục đại yên?......Kim Quan Đông đại khốn, thương khố không hư, vô dĩ tương thiểm, hựu dĩ động binh, phi đặc lao dân, hung niên tùy chi. Kì bãi Chu Nhai quận, dân hữu mộ nghĩa dục nội thuộc, tiện xử chi, bất dục, vật cưỡng.
Chu Nhai do thị bãi.'.
                                ( Hán Thư. Qu. LXIV Hạ. Giả Duyên Chi truyện ).
 
Dịch văn như sau:
 
'Giả Duyên Chi tên Tự là Quân Phòng, là cháu nội của Giả Nghị.
Lúc (Hán) Nguyên đế mới tức vị, Duyên Chi dáng sớ luận chính trị đắc, thất, Nguyên đế cho triệu tới Kim Mã môn chờ chiếu chỉ (bổ nhiệm).
Vào buổi đầu, (Hán) Vũ đế đánh chiếm đất Nam Việt để rồi năm đầu Niên hiệu Nguyên Phong  thành lập 2 quận Đam Nhĩ, Chu Nhai, đều là những quận ở phương Nam, trên cù lao giữa biển, ngang dọc mỗi bề cũng cả ngàn dặm, gồm 16 huyện, cộng hơn 23 000 nóc gia. Dân 2 quận này độc ác, hung dữ, cứ dựa vào chỗ triều đình xa xôi, cách trở mà thường vi phạm những lệnh cấm của quan cai trị, mà quan lại cai trị thì cũng tàn ác, bạo ngược, vì vậy mà cứ vài năm thì lại làm phản, giết chết quan lại sở tại. Mỗi lần như vậy thì Hán triều lại đem quân dẹp yên.
 
Từ lúc mới thành lập quận cho tới năm đầu Niên hiệu Thủy Nguyên thời (Hán) Chiêu đế, trong khoảng hơn 20 năm, dân 2 quận này làm phản tất cả 6 lần. Tới năm thứ 5 Niên hiệu nói trên thì bãi bỏ quận Đam Nhĩ, nhập vào quận Chu Nhai.
 
Tới năm thứ 3 Niên hiệu Thần Tước thời Tuyên đế, 3 huyện trong quận Chu Nhai lại làm phản.   7 năm sau đó, vào năm đầu Niên hiệu Cam Lộ, có 9 huyện trong quận làm phản. Hán triều liền đem quân dẹp yên được.
 
Năm đầu Niên hiệu Sơ Nguyên đời (Hán) Nguyên đế, quận Chu Nhai lại phản. Triều đình đem quân đánh dẹp, các huyện trong quận (do đó) lại càng theo nhau mà nổi dậy, quân binh đi đánh dẹp mấy năm liền vẫn không dẹp được. Bấy giờ nhà vua mới thương nghị với đình thần về việc điều động đại quân. Duyên Chi đưa kiến nghị rằng không nên đánh; vua sai Thị Trung Phụ Mã Đô Úy là Nhạc Thương Hầu Vương Thương cật vấn Duyên Chi:
- Chu Nhai là quận nội thuộc đã lâu, bây giờ nổi loạn, làm phản, trái với lễ giáo mà ông lại nói  là không nên đánh, như vậy có khác gì nuôi dưỡng cái loạn của dân Man di, đồng thời còn làm giảm đi công đức của tiên đế, trong Kinh nghĩa rồi có chỗ nào nói như vậy không?
Duyên Chi trả lời:
- ..... Hiện nay, trong nước, lâm cảnh nguy khốn hơn hết thì chỉ mỗi vùng Quan Đông; và rộng hơn hết trong vùng Quan Đông thì rồi chỉ có hai đất Tề, Sở. Tại 2 nơi này, dân chúng lâm cảnh khốn cùng đã lâu, lưu lạc đã nhiều năm liền, lìa bỏ thành quách,ngủ bờ ngủ bụi. Tình người thì có ai mà không thương yêu cha mẹ, có ai mà vui cảnh vợ chồng (đoàn tụ); vậy mà đến đỗi phải bán vợ đợ con, pháp luật không sao cấm được, đạo nghĩa chẳng sao ngăn nổi, đây là mối lo của quốc gia. Bây giờ bệ hạ vì không dằn được cơn nóng giận mà muốn xua quân sĩ ra giữabiển, để hả lòng trước cảnh chết chóc, thì đây không phải là hành vi cứu trợ nạn đói kém, giữ sự an lãnh  cho dân chúng. Kinh 'Thi'  nói: - 'Rợ Kinh xuẩn động, dám chống đại bang', í nói Thánh nhân hưng thịnh thì các dân Man di đềuphục tòng, (còn) Trung Quốc mà suy thì các dân này nổi dậy  làm phản, gây biến động, tạo thành cái nạn cho quốc gia - đây là mối lo nghĩ lâu đời từ thời cổ của quốc gia! (Rợ gần mà còn vậy) huống chi là dân Man di ở phương Nam xa xôi ngàn dặm!?
Người Lạc Việt cha con tắm chung dưới suối, có tập tục uống rượu bằng mũi, cung cách chẳng khác chi loài cầm thú; xứ này (do đó) vốn chẳng đáng để thiết lập thành quận,thành huyện. Chỉ 1 dải đất cỏn con, chơ vơ giữa biển, sương mù, ẩm thấp, nhiều những cái hại của cỏ độc, rắn rít cũng như về thủy thổ, giặc kia chưa thấy đâu, chiến sĩ rồi đã bỏ mạng - và cũng chẳng phải chỉ Chu Nhai mới có ngọc trai, sừng tê, đồi mồi. (Do đó) có bỏ đi cũng chẳng đáng tiếc, mà không đánh thì cũng chẳng mất uy phong; dân đất này rồi như loài cá, loài rùa, có gì đáng để mà ham muốn!
....... Lời đối đáp của Duyên Chi đưa lên. Vua đem ra hỏi í kiến hai quan Thừa tướng và Ngự sử thì quan Ngự sử Trần Vạn Niên nói rằng nên đánh; còn Thừa tướng Vu Định Quốc thì nói rằng 'trước đây đã đem quân đi đánh mấy năm liền, các chức Hộ quân Đô Úy, Hiệu Úy, và các chức Thừa lại tất cả 11 người mà sống sót trở về chỉ có 2 người; quân binh chiến đấu, và chuyển vận lương thực rồi bỏ mạng hơn 10 ngàn người, quân phí hơn 300 triệu tiền mà vẫn chưa hoàn toàn hàng phục được giặc. Hiện nay vùng Quan Đông đang gặp nạn đói kém cùng khốn, và, cái nạn của dân vùng này đang gây dao động, Duyên Chi nghị luận đúng'.
Vua do đó mới theo kiến nghị của Duyên Chi, hạ ngay chiếu chỉ nói rằng:
- ..... Bây giờ, 1 bên là dân chúng đang chết đói và 1 bên là không đưa quân ra ngoài cõi xa xôi đánh dẹp đám Man di, 2 sự việc, việc nào nguy ngập hơn?...... Hiện nay vùng Quan Đông đang gặp nạn đói kém ngặt nghèo, kho lẫm sạch không, không có gì để mà trợ giúp cho dân, bây giờ lại động binh thì chẳng những là khiến dân phải lao đao, mà còn gây ra tình trạng mất mùa tiếp theo đó nữa. Còn như việc phế quận Chu Nhai, dân trong quận mà có người mến mộ nghĩa của triều đình, muốn theo về thì sắp xếp cho họ; còn nếu không muốn thì không được cưỡng ép.
Quận Chu Nhai do đó mà bãi bỏ.'.
 
Câu nói của Dương Hùng: - 'Chu Nhai chi tuyệt, Duyên Chi chi lực, phủ tắc Giới lân dịch ngã  I thường' chính là nhắc lại sự việc bãi bỏ quận Chu Nhai dưới đời Hán Nguyên đế, một sự việc xảy ra lúc ông được 08 tuổi.
 
Theo tôi, Ông K.W. Taylor  thì khả năng Hán văn hoặc dưới mức trung bình, hoặc chẳng biết chữ nào mà chỉ chép lại người khác, cho nên đã không thể tra cứu Kinh Sử Trung Hoa, hay kiểm chứng được những gì mình chép lại của người là đúng hay sai nữa! Có lẽ vì vậy mà khi gặp nhằm câu 'Chu Nhai chi tuyệt' ông mới dịch ba láp là 'contact with Chu-yai has been broken'.
Chính vì không thông hiểu Hán văn cho nên càng viết ông K.W. Taylor càng để lòi sự kém cỏi của mình trong lãnh vực Cổ học nói chung, cũng như Sử học và Địa lí học cổ nói riêng.
 
Chẳng hạn K.W. Taylor viết:
'There is no news from Yang-tzu because contact with Chu-yai has been broken.'.
Đây là 1 câu mà 'trong cái sai lại có cái sai'!
 
Trước hết, đây là 1 câu dịch sai hoàn toàn câu nói của Dương Hùng, như đã biết.
Và, tiếp đến, khi vận dụng kiến thức bản thân để dịch lại câu nói đó, K.W. Taylor (đúng hơn là W.H. Nienhauser, K.W. Taylor chỉ chép lại mà thôi!) lại sai thêm một lần nữa, và sai Nặng, về 2 điểm: 1) về Lịch sử, và 2) về Địa lí.
 
(1). Lịch sử.
 
Chiến tranh ở đây là chiến tranh với quân Nam Chiếu, và Không Gian là Giao Chỉ.
Viết như Taylor thì hóa ra quân Nam Chiếu còn bao vây cả Nhai Châu tận ngoài đảo Hải Nam, đồng thời chiến sự còn lan tới bến Dương Tử thuộc Đạo Hoài Nam nữa - một sự việc đã không bao giờ xảy ra trong Lịch sử Trung Quốc, có chăng là trong óc tưởng tượng, trong sự bất thông Lịch sử của ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor mà thôi!
 
Tôi thực sự không hiểu tại sao khi đặt viết viết như trên K.W. Taylor lại đã không thắc mắc về những nghịch lí như vậy, đã không chịu khó duyệt lại Lịch sử Trung Quốc giai đoạn vừa kể?
 
(2). Địa lí.
 
Đời Đường, Đường Thái tông (599 - 649; tại vị: 627 - 649), khoảng tháng 2 năm đầu Niên hiệu Trinh Quan (627 - 649), tức năm 627, phân toàn quốc thành những Khu vực Hành chánh gọi là Đạo (tức như Tỉnh hiện nay), cộng tất cả 10 Đạo.
 
106 năm sau đó, vào năm thứ 21 Niên hiệu Khai Nguyên (713 - 741), tức năm 733 - dưới triều  Đường Huyền tông (685 - 762; tại vị: 712 - 756), toàn quốc lại được phân lại thành 15 Đạo.
Nhai Châu là 1 Châu ở vùng Bắc của đảo Hải Nam. Vào thời Đường, Nhai Châu thuộc Địa hạt Lãnh Nam Đông Đạo. Còn bến Dương Tử thuộc Đạo Hoài Nam, gồm các dải đất phía Bắc của Trường Giang, và ở phía Đông Hán thủy, tỉnh Hồ Bắc hiện nay, cũng như các dải đất phía Bắc Trường Giang và phía Nam Hoài thủy, thuộc 2 tỉnh An Huy và Giang Tô hiện nay.
 
Viết về thời Đường, đọc một bản văn thời Đường, như đoạn 'Tiểu dẫn' bài 'Tu thi' thứ Hai của Bì Nhật Hưu, mà khi gặp địa danh Chu Nhai K.W. Taylor lại chẳng thắc mắc, lại viết một cách hết sức tự nhiên thì cũng lạ.
 
Nói vậy nghĩa là sao? Nghĩa là dưới thời Đường, vào thời điểm chiến tranh với Nam Chiếu, tức vào khoảng tháng 2 năm thứ 3 Niên hiệu Hàm Thông (860 - 873) - năm 862, đời Đường Í tông (833 - 873; tại vị: 859 - 873), trong Danh mục Địa lí Hành chánh không có Địa danh nào gọi là Chu Nhai hết! Và, như vậy cũng có nghĩa là Bì Nhật Hưu đã đề cập 1 tên gọi của 1 thời nào đó khác với thời bấy giờ. Nếu chịu khó suy nghĩ theo chiều hướng đó, có thể K.W. Taylor rồi thấy dịch văn của mình có chỗ không ổn để từ đó tra cứu lại mà dịch cho chính xác.
 
Như đã biết, vào năm đầu Niên hiệu Nguyên Phong (110 - 105 tr. Cn.) - tức năm 110 trước Cn. Hán Vũ đế (156 - 87 tr. Cn.; tại vị: 141 - 87) thiết lập quận Chu Nhai.
Sau đó, tùy triều đại mà cấp độ hành chánh, do đó diện tích, của vùng đất gọi là Chu Nhai này có khác đi, có lúc vẫn là Quận, có lúc là Huyện, và có lúc là Châu,... cương vực của vùng cũng theo sự thay đổi đó mà có lúc rộng hơn, có lúc thu hẹp lại, mỗi thời mỗi khác. Trong những lần thay đổi đó, là Quận hay là Huyện, đất vẫn giữ tên Chu Nhai; nhưng nếu là Châu thì tên gọi lại khác đi: Nhai Châu.
Sách 'Cựu Đường Thư' chép:
'Nhai Châu - hạ. Tùy Chu Nhai quận. Vũ Đức tứ niên bình Tiêu Tiển, trí Nhai Châu - lãnh Xá Thành, Bình Xương, Trừng Mại, Nhan La, Lâm Cơ, ngũ huyện...... Thiên Bảo nguyên niên, cải vi Chu Nhai quận; Càn Nguyên nguyên niên phục vi Nhai Châu.'.
( Cựu Đường Thư. Qu. XLI. Địa Lí chí 4.).
 
'Nhai Châu - hạ. Thời Tùy là quận Chu Nhai. Năm thứ 4 Niên hiệu Vũ Đức dẹp yên Tiêu Tiển thì đặt Nhai Châu - gồm 5 huyện là Xá Thành, Bình Xương, Trừng Mại, Nhan La, Lâm Cơ......
Năm đầu Niên hiệu Thiên Bảo, đổi thành quận Chu Nhai; đến năm đầu Niên hiệu Càn Nguyên lại trở lại là Nhai Châu.'.
 
Vì không biết những thay đổi về Địa lí hành chánh dẫn trên đây cho nên K.W. Taylor đã chẳng thắc mắc là tại sao vào thời Chiến tranh với Nam Chiếu mà Bì Nhật Hưu lại viết Chu Nhai? Từ đó cứ nhắm mắt theoW.H. Nienhauser để rồi cả 2 cùng sai thảm hại như đã thấy.
Nhưng, chưa hết đâu ông K.W. Taylor.
 
2 chữ 'Giới lân' trong câu 'phủ tắc Giới lân dịch ngã I thường', ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor đã dịch là 'Little fish'.
 
Dịch 2 chữ 'Giới lân' là 'Little fish' thì phải nói là ông tiến sĩ chẳng biết gì cả!

'Giới lân' ở đây tức 'Giới trùng' và 'Lân trùng ' nói giản lược.

Giới trùng là danh xưng chỉ chung những động vật có vỏ cứng, như Ngao, Sò, -c, Cua, Rùa.....
Lân trùng là danh xưng chỉ chung những động vật có vảy - dù ít dù nhiều cũng vậy, chẳng hạn như Rắn Mối, Căc Ké, Kì Nhông, Kì Đà...... và dĩ nhiên loài Cá thì khỏi cần nói.
 
Ở đây Dương Hùng đưa ra 1 sự so sánh:
 
Giới Lân chỉ dân man di mọi rợ, nói chung theo quan điểm Trung Hoa thời cổ là những dân tộc không phải là dân tộc Trung Hoa.
I Thường chỉ dân Trung Quốc văn minh lễ giáo.
 
Thời cổ, người Trung Hoa vẫn nghĩ mình văn minh hơn các dân tộc tiếp giáp 4 phía, và 1 trong những biểu hiện cho sự văn minh đó là họ biết may I Phục (I Thường) để mặc từ 1 thuở hết sức xa xưa; và theo truyền thuyết, Hoàng Đế (trong khoảng thế kỉ XXVI tr. Cn. - tức cách đây hơn 4 000 ngàn năm) là người đã sáng chế ra I Thường.
Từ ngữ 'I Thường' trong Văn học cổ Trung Hoa, do đó, cũng dùng để chỉ sự văn minh lễ giáo.
Sách 'Cốc Lương Truyện' chép:
'I Thường chi hội thập hữu nhất, vị thường hữu sáp huyết chi minh dã, tín hậu dã!'.
( Cốc Lương Truyện. Qu. III. Trang công 27 niên ).
 
'Lễ hội I Thường tất cả 11 lần, không có lần nào có chuyện uống máu ăn thề, (vì đây) là những cuộc hội họp dựa trên căn bản thành thực, trung hậu (giữa các nước Chư hầu với nhau!)'.
 
Chú thích:

(11 lần 'Hội I Thường' đề cập trên đây tổ chức vào các năm thứ 13, 14, 15, 16, và 27 dưới triều
Lỗ Trang công (tại vị: 693 - 662 tr. Cn.), các năm 681, 680, 679, 678, và 667; và, 6 lần Hội kia là vào các năm đầu, năm thứ 2, 3, 5, 7, và thứ 9 ở thời Lỗ Hi công (tại vị: 659 - 627 tr. Cn.), tức các năm 659, 658, 657, 655, 653 và 651).
 
'I Thường chi hội' không phải là 1 sự hội họp để 'trình diễn I Phục', như danh xưng có thể gây ngộ nhận; đây là 1 sự hội họp mà trong đó không có 'Binh xa, Giáp trụ', những người tham dự, ở đây là đại diện của các quốc gia Chư hầu, chỉ I Phục bình thường, gặp nhau chỉ để mà bày tỏ lòng 'thành thực, trung hậu', để thắt chặt hơn mối quan hệ tốt đẹp giữa các quốc gia mà thôi.
Đối lại với 'I Thường chi Hội' là 'Binh Xa chi Hội' - là 1 hội họp nhằm phát động chiến tranh, 1 hội họp có tính cách của 1 liên minh quân sự.
                                                                          
Càng muốn tỏ ra là mình biết nhiều, hiểu rộng bao nhiêu thì rồi cái không biết, không hiểu của K.W. Taylor càng nhiều, càng rộng bấy nhiêu!
Bây giờ chúng ta hãy nghe K.W. Taylor diễn giải tư tưởng của Mạnh Tử (390 - 305 tr. Cn.):
'Since the birth of mankind, no one has ever succeeded in leading children to attack their parents. Considering this, [he who is regarded as father and mother by the people] will have no enemy in all the realm......'.
(  Op. cit. 5. The Protectorate of An Nam. Phung Hung. p. 205 ).
 
'Từ lúc có nhân loại (tới nay), chưa có người nào thành công trong việc cầm đầu con cái chống lại cha mẹ chúng. Như vậy, (ông ta, người được dân chúng coi như cha mẹ) rồi chẳng có kẻ thù trong toàn lãnh thổ......'.

Và sau đây là nguyên Hán văn của đoạn trên:

'Suất kì tử đệ, công kì phụ mẫu, tự sinh dân dĩ lai, vị hữu năng tế giả dã! Như thử tắc vô địch ư thiên hạ......'.
  ( Mạnh Tử. Công Tôn Sửu. Thượng. 05).
 
'Cầm đầu con em chống lại cha mẹ của chúng, chuyện này từ lúc có nhân dân tới nay, chưa có một người nào làm được hết! (1 người mà không ai chống lại được) như vậy là 1 người vô địch trong thiên hạ......'.
 
Và, những cái sai của ông K.W. Taylor trong doạn trên:
 
(1). Từ ngữ 'Sinh Dân' trong đoạn văn trên cũng có nghĩa 'Con người' nói chung, nhưng ở đây trong vòng văn mạch, thì chính xác phải hiểu, và dịch là 'nhân dân'. Ở đây Mạnh Tử muốn nói đến con người lúc đã có tổ chức quốc gia, xã hội, nói khác đi, lúc tương quan giữa người Cai trị và người Bị trị đã thành lập.
Và như vậy, dịch 'sinh dân' là 'mankind' ('nhân loại') là không chính xác.
 
(2). Hai chữ 'Vô địch' trong đoạn trên, K.W. Taylor dịch là 'have no enemy' thì phải nói là sai quá đi, kể về cả Í lẫn Nghĩa.
Vì, 1 người 'không có kẻ thù' nào hết chưa chắc đã là 'vô địch' - và 1 người 'vô địch' rồi chưa hẳn là không có kẻ thù!
 
Và ở 1 đoạn khác, liền trước đoạn vừa dẫn, K.W. Taylor viết:
 
'[When a ruler], being the father and mother of his people, causes the people to wear distress on their face by making them toil all year without being able to feed their parents and making them borrow for their livelihood ......'. ( Ibid. p. 205 ).

'[Khi người cai trị], như là cha và mẹ của dân, làm cho dân phải lộ vẻ ưu tư lo lắng khi khiến họ phải làm việc [quần quật] suốt năm mà vẫn không nuôi nổi cha mẹ họ và khiến họ phải đi vay mượn để đủ sống......'.

Nguyên văn đoạn trên của Mạnh Tử như sau:

'Vi dân phụ mẫu, sử dân nghễ nghễ nhiên, tương chung tuế cần động, bất đắc dĩ dưỡng kì phụ mẫu, hựu xưng thải nhi ích chi......'.
( Mạnh Tử. Đằng Văn công. Thượng. 03).
 
'Là cha mẹ của dân mà rồi khiến dân phải ưu tư lo lắng, làm việc quần quật quanh năm mà vẫn không nuôi nổi cha mẹ mình, lại còn phải đi vay mượn có lời để đủ sống......'.

Chu Hi (1130 - 1200) thời Nam Tống (1127 - 1279) giải nghĩa từ ngữ 'Xưng Thải' như sau:

'Thủ vật ư nhân nhi xuất Tức dĩ thường chi dã'
'Thu dụng vật gì của người mà trả lại với (một) Phân Lời'.
'Vật' ở đây có thể là Tiền, có thể là Thực Phẩm (Lúa, Gạo...).

 
Từ ngữ 'Xưng Thải' trong đoạn văn nói trên của Mạnh Tử, K.W. Taylor đã dịch là 'Borrow'.
Trong Anh ngữ, từ ngữ 'Borrow' có nghĩa rất chung chung là 'Mượn' - và, Mượn đây có thể là  phải trả 'Phân Lời', có thể không, nghĩa bất định.

Trong khi ở đây, í của Mạnh Tử rất khẳng định: Mượn mà phải trả 1 Lãi Suất nào đó.
Tuy nhiên, những lỗi của K.W. Taylor ở đây không đến đỗi ngặt, vì vậy, ở đây tôi không nhắm vào những cái nhỏ nhặt đó, tôi nhắm vào 1 điểm khác hơn.
 
Ở trang trước đó, trang 204, K.W. Taylor viết:

'The idea of a good ruler's being 'the father and mother of his people' is found in the writings of Mencius, the ancient Chinese philosopher.'.
'Tư tưởng về 1 người cai trị tốt như là 'cha và mẹ của dân' được thấy trong những ghi chép của Mạnh Tử, triết gia Trung Quốc thời cổ.'.
 
Nếu nói về tư tưởng gọi là 'Dân chi Phụ Mẫu', nếu ông tiến sĩ K.W. Taylor có cái sâu của một học giả thì không thể nào không nhắc tới 'Thi Kinh', nhắc tới 'Lễ Kí'!

Viết khơi khơi nhu Taylor thì rồi 1 số người có thể lầm tưởng rằng Mạnh Tử là người khai sinh tư tưởng đó, trong khi thực sự ông chỉ diễn giải chì tiết hơn 1 tư tưởng đã có trước ông rất lâu.
 
'Kinh Thi' nói:
                         Nam sơn hữu kỉ,
                Bắc sơn hữu lí;                                                                             
                         Lạc chỉ quân tử,
                         Dân chi Phụ Mẫu.
                                                     ( Thi Kinh. Tiểu Nhã. Nam Sơn hữu đề ).
 
Chú thích.

'Nam Sơn hữu đề'. Chữ 'Đề' hầu hết các Bản đã đọc âm 'Đài'. Ở đây tôi đã căn cứ khảo chứng của Trần Đệ (1541 - 1617), Thanh Vận học gia trứ danh mạt kì Minh triều (1368 - 1644), trong tác phẩm 'Mao Thi Cổ Âm Khảo' của ông, 1 tác phẩm khảo về Âm đọc cổ trong 'Kinh Thi'.

Sách 'Lễ Kí', thiên 'Đại học', chép:

'Thi vân: - 'Lạc chỉ quân tử, dân chi Phụ Mẫu', dân chi sở hiếu, hiếu chi, dân chi sở ố, ố chi - thử chi vị 'dân chi Phụ Mẫu'.'.
'Kinh Thi nói: 'Vui gặp quân tử, là Cha Mẹ dân', điều gì dân thích thì mình cũng thích, điều gì dân ghét thì mình cũng ghét - đây gọi là 'Cha Mẹ của dân'.'.
 
Vì không thông Hán văn cho nên K.W. Taylor có bất thông Cổ học cũng là chuyện rất dĩ nhiên và rất đương nhiên!
 
Từ Lịch sử, Địa lí, Văn học, Văn tự Ngữ ngôn học,... lãnh vực nào ông cũng để lộ không nhiều thì it, phần nhiều là nhiều, sự kém cỏi, sự sai lầm đến đỗi không thể nào chấp nhận được ( nếu xét theo cái học vị tiến sĩ cũng như cương vị giáo sư Đại học của ông!
 
Ông K.W. Taylor viết:

'It is reasonable to assume that Chinese characters were used to render Vietnamese words as early as the eight century. The Chinese characters used to represent bo and cai are unrelated to the Vietnamese meaning, but are faithful phonetic transcriptions.'.
( Op. cit. 5. The Protectorate of An Nam. Phung Hung. p. 206 ).

'Hợp lí mà suy đoán rằng Hán tự đã được sử dụng để chuyển qua tiếng Việt từ sớm [cũng phải] vào thế kỉ thứ 8. Những chữ Hán được dùng để biểu thị 2 tiếng bố và cái rồi chẳng có liên hệ gì với í nghĩa [của 2 chữ này] trong Việt ngữ, nhưng là những chú âm trung thực của 2 chữ này.'.
 
Cứ như đoạn văn dẫn trên thì ông tiến sĩ K.W. Taylor nghĩ rằng 2 chữ 'Bố' và 'Cái' (Hán tự) là những 'Chú Âm' ('Phonetic Transcription') của 2 tiếng 'Bố' và 'Cái'(Việt ngữ).

Lẽ nào ông tiến sĩ K.W. Taylor lại không rõ một điều hết sức sơ đẳng trong lãnh vực Văn tự và Ngữ ngôn học là Hán tự không thuộc loại 'Văn tự Biểu Âm' ('Phonogram')?!
Đã không là Văn tự biểu âm thì sao có thể nói tới chuyện gọi là Chú âm được, hơn thế nữa, còn là 'Chú âm trung thực' cho 1 ngôn ngữ khác?
 
Thời cổ, về phương diện Ngữ ngôn học, để nhận biết âm đọc của 1 chữ, người Trung Hoa, hoặc nói 'Chữ này' đọc như 'Chữ kia', 'Chữ kia'..., hoặc dùng chữ đồng âm để xác định âm đọc, nói khác đi là dùng 1 chữ với âm đọc đã biết để xác định âm đọc của 1 chữ chưa biết.
 
2 trường hợp trên đây:

 Trường hợp thứ nhất gọi là 'Độc nhược' ('Đọc như'), trường hợp thứ hai gọi là 'Trực âm'. 'Độc nhược' thì có tính cách tương đối, vì lẽ đây là trường hợp những tiếng có âm đọc tương cận mà thôi; trong khi đó, 'Trực âm' thì tuyệt đối chính xác, vì đây là trường hợp những tiếng 'đồng âm'.


Tiếng đồng âm trong ngôn ngữ Trung Hoa tuy nhiều thực, nhưng lại quá ít để có thể lấy đó mà xác định âm đọc của toàn thể Hán tự, cả 2 phương thức 'Độc nhược' và 'Trực âm', do đó, đã đi tới chỗ bế tắc.

Trong khoảng triều Đông Hán (25 - 220) một số học giả, Kinh học gia, Tiểu học gia, khởi đi từ Hứa Thận (~ 58 - ~ 147; có thuyết nói: 30 - 124), và sau đó không lâu, Phục Kiền (? - ?), và rồi Ứng Thiệu (? - ?), Trịnh Huyền (127 - 200),........ đã sử dụng 1 phương pháp mà các thời sau đó gọi là Phiên thiết, hay còn được gọi dưới 1 số danh xưng khác nữa, như: - Phiên âm, Phiên ngữ, Thiết âm, Thiết ngữ, Thiết tự, Thiết vận để ghi chú Tự âm.
 
Tiếp đó, dưới thời Ngụy triều (220 - 265), Tam Quốc (220 - 280), Tôn Viêm (? - ?), 1 đệ tử của Trịnh Huyền, đã tổng kết cũng như chỉnh lí thành quả của những người đi trước, đặc biệt là về mặt 'Âm Vận học', mà chính thức đặt cơ sở vững chắc cho phương pháp 'Phiên Thiết', qua tác phẩm 'Nhĩ Nhã Âm Nghĩa'.
 
Tác phẩm nói trên đã thất truyền, chỉ còn lại hơn 1 trăm điều được dẫn lại, rải rác, trong một số thư tịch các thời Đường (618 - 907), và Tống (960 - 1279) sau đó - nhất là thời Đường, như các Bộ 'Kinh Điển Thích Văn' của Kinh học gia Lục Đức Minh (~ 550 - 630), Bộ 'Sơ Học Kí' của Từ Kiên (~ 659 - 729), ' Thi Kinh Chính Nghĩa' của Khổng Dĩnh Đạt (574 - 648) và trong Bản chú giải 'Văn Tuyển' của Lí Thiện (~ 630 - 689), 'Tấn Thư Âm Nghĩa' của Hà Siêu (? - ?) - và sau cùng là 'Thái Bình Ngự Lãm' của Lí Phương (925 - 996).
 
Phiên Thiết là phương pháp liên hợp Âm đọc của 2 chữ ghép lại thành Âm đọc của 1 chữ khác.
Chẳng hạn, chữ Dịch (Thay đổi) được phiên thiết như sau:
Dịch: Di + Tịch.
 
1/. Lấy phụ âm đầu của Âm Di ('D').
 
2/. LấyVần và Dấu giọng (Vận và Thanh điệu) của Âm Tịch ('ich' và 'dấu nặng').
Cũng vậy, chữ Hải ( Biển ) được phiên thiết:
Hải: Hắc + Cải  = H + ải  =  Hải.
 
Các Bộ 'Từ Nguyên', 'Từ Hải' xuất bản ở Đài Loan, Hương Cảng, kể cả Trung Quốc, hiện nay hầu hết đều có ghi chú 'Thiết âm' của mỗi Chữ - và cùng 1 Chữ, 2 chữ được dùng để Thiết âm trong các bộ Từ điển nói trên có thể khác, nhưng tất cả vẫn phải theo 1 số nguyên tắc nhất định về phương diện Âm Vận học (Phonology).
 
Và, căn cứ phương pháp Thiết Âm, tất cả những chữ Hán đều có thể đọc ra âm Việt. Đây chính là nhóm chữ gọi là 'Hán Việt' trong Việt ngữ. Tuy nhiên, cũng cần chú í một điểm là ngôn ngữ Trung Quốc chỉ có 4 Thanh điệu (Tones): Bình - Thượng - Khứ - Nhập, trong khi Việt ngữ có tới 6 Dấu giọng: - Ngang, Sắc, Huyền, Hỏi, Ngã, Nặng, do đó, khi chuyển từ Hán qua Việt qua phương thức Phiên Thiết thì cũng cần chú í về Âm Vận học của Việt ngữ.
 
Trước khi phương thức Phiên Thiết được phổ biến, muốn biết Âm đọc của chữ thì phải có thầy chỉ dạy, như Chu Tổ Mô, 1 học giả nghiên cứu về Ngữ ngôn học Trung Hoa gần đây, đã viết:
'Hán mạt Phiên Thiết vị hưng dĩ tiền kinh sư chi thẩm biện Tự âm.'.
                             ( Vấn Học Tập. 'Nhan Thị Gia Huấn'. 'Âm Từ thiên' Chú bổ  ).
 
'Vào cuối thời Hán, lúc Phiên Thìết  chưa thịnh hành thì phải nhờ thầy mới nhận biết được Âm đọc của Chữ.'.
 
Về khởi nguyên của Phiên Thiết học giả thời trước  có 2 Thuyết:
 
(1). Phiên Thiết do người Trung Hoa sáng tạo.

Chủ trương Thuyết này có những học giả như Thẩm Quát (1031 - 1095) vào cuối đời Bắc Tống và Cố Viêm Vũ (1613 - 1682), Vương Vân (1784 - 1854), Trần Lễ (1810 - 1882) - tất cả đều là người đời Thanh.
 
(2). Phiên Thiết căn cứ phương thức Ráp Vần của Phạn ngữ.
Chủ trương Thuyết này có những học giả như Trịnh Tiều (1103 - 1162) vào cuối đời Bắc Tống  và đầu thời Nam Tống (960 - 1127 và 1127 - 1279), các học giả Thanh triều (1644 - 1911) như Kỉ Duân (1724 - 1805), Diêu Nại (1731 - 1815).
 
Các học giả chủ trương Thuyết thứ hai này cho rằng khi Kinh điển Phật giáo từ Ấn Độ du nhập Trung Quốc, qua ngã Tây vực, vào khoảng cuối thời Tây Hán (206 tr. Cn. - 08 Cn.) và đầu thời  Đông Hán (25 - 220) thì sau đó các học giả mới dựa theo phương thức 'ghép' mẫu tự thành vần của Phạn ngữ mà hình thành phương thức Phiên Thiết của Trung Quốc.
 
Hai Thuyết tuy không Thuyết nào đúng hẳn, nhưng cũng không phải sai hẳn ( bên nào cũng có cái lí của mình.
 
Sau đây là lí lẽ của 2 Thuyết về khởi nguyên của Phiên Thiết. 
 
Thẩm Quát viết:

'Thiết Vận chi học bản xuất vu Tây vực. Hán nhân huấn Tự chỉ viết 'Độc như mỗ tự', vị dụng Phiên Thiết. Nhiên cổ ngữ hữu nhị Thanh hợp vi nhất Tự giả, như Bất Khả vi Phả, Hà Bất  vi Hạp, Như Thị vi Nhĩ, Chi Hồ vi Chư chi loại, tự Tây vực nhị hợp chi âm, cái Thiết Tự chi nguyên dã. Như Nhuyễn tự, văn tòng Nhi-Khuyển, dịch Thiết Âm  dã.'.
                        ( Mộng Khê Bút Đàm. Qu. XV. Nghệ Văn 2. Phiên Thiết chi học ).
 
'Khoa Phiên Thiết vốn bắt nguồn từ Tây vực. Người thời Hán, khi chú thích (Âm đọc của) Chữ  thì chỉ nói 'đọc như Chữ đó' chứ chưa có lối Phiên thiết. Có điều là trong cổ ngữ có trường hợp 2 Âm hợp thành 1 Chữ, như Bất-Khả hợp thành Phả , Hà-Bất hợp thành Hạp, Như-Thị liên hợp thành Nhĩ, Chi-Hồ hợp thành Chư, tương tự như trường hợp 2 Âm  liên hợp thành một Âm  của Tây vực, đại khái đây chính là khởi nguyên của Thiết Tự. Rồi như chữ Nhuyễn, chữ gồm 2 chữ Nhi-Khuyển, thì đây cũng là trường hợp Thiết Âm.'.
 
Trịnh Tiều viết:

'Thiết Vận chi học khởi tự Tây vực. Cựu sở truyền thập tứ tự quán nhất thiết âm, văn tỉnh nhi âm bác, vị chi Bà La Môn thư. Nhiên do vị dã, kì hậu hựu đắc tam thập lục tự mẫu nhi Âm vận chi đạo thủy bị.'.
                 ( Thông Chí. Qu. LXIV. Nghệ Văn Lược 2. Tiểu học loại 4. Kết ngữ ).
 
'Phương thức Ghép Vần bắt nguồn từ Tây vực. 14 chữ từ thời cổ của họ (ghép lại) mà bao gồm tất cả âm đọc, chữ viết thì ít mà âm đọc nhiều, gọi là chữ Bà La Môn. Vậy mà vẫn chưa đủ, sau lại thêm 36 chữ nữa, chừng đó Âm Vận học (của họ) mới hoàn bị.'.
 
Có thể nói 2 Thuyết về khởi nguyên của Phiên Thiết Trung Hoa mỗi Thuyết chỉ đúng một nửa. Thẩm Quát luận về hình thức của Phiên Thiết, trong khi Trịnh Tiều lại đề cập phương pháp của Phiên Thiết.
Một trong những đặc điểm về kết cấu của Hán ngữ tự âm là 'Nhị Hợp Âm' - nói khác đi, trong Hán tự đã có 1 số Chữ bao hàm kết cấu của Thiết Âm, như Thẩm Quát đã trưng dẫn. Có điều là trong quá trình tạo tự, kết cấu này rồi đã không khởi đi từ í thức về 1 hệ thống phát âm, nói cho   chính xác là như vậy. Cho đến khi tiếp xúc với Văn hóa Ấn Độ, qua trung gian Phật giáo í thức kể trên mới thực sự thành hình.
 
Và như vậy, nói cho chính xác thì:
 
Một bên là Nội nhân (Thuyết 1), một bên là Ngoại tố (Thuyết 2) - Nội nhân đã qua xúc tác của Ngoại tố từ đó Phiên Thiết Trung Hoa mới thực sự khai sinh.
 
Trở lại với 2 chữ 'Bố Cái' K.W. Taylor đề cập trong đoạn văn đã dẫn trước đây.
  Đây là 2 tiếng Hán Việt, nghĩa là chữ Hán đọc theo âm Việt.
 
2 chữ Bố Cái này trong Hán tự người Trung Hoa phát âm theo ngữ âm của họ, dĩ nhiên!
Người Hoa phát âm theo ngữ âm người Hoa, người Việt phát âm theo ngữ âm người Việt - qua phương thức Phiên Thiết.
 
Và như vậy, nếu nói 2 chữ 'Bố' và 'Cái' (Hán tự) là 'những chú âm trung thực' của 2 tiếng này trong Việt ngữ thì phải nói ông tiến sĩ K.W. Taylor đã nói tầm bậy tầm bạ, chẳng biết gì hết về Ngữ Ngôn học Trung Hoa!

Phát âm đã khác thì sự 'trung thực' rồi nằm ở chỗ nào đây, ông tiến sĩ?
 
Thiên 'Học Kí', sách 'Lễ Kí' có câu:
'Ấu giả thính nhi phất vấn, học bất liệp đẳng dã.'.
                                                                            ( Lễ Kí. Học kí 18 ).
 
'Trẻ nít [ngồi một bên] nghe không được hỏi, [vì] việc học thì có tuần tự, không vượt thứ bậc.'. 
('Vượt thứ bậc' tức học nhảy).
 
Chu Hi (1130 - 1200) nói:

'Cận nhật học giả bệnh tại hiếu cao, 'Luận Ngữ' vị vấn 'học nhi thời tập tiện thuyết nhất quán; 'Mạnh Tử' vị ngôn Lương Huệ vương vấn lợi tiện thuyết Tận Tâm; Dịch vị khán Lục thập Tứ Quái tiện độc Hệ Từ.
Thử giai liệp đẳng chi bệnh.'.
'Kẻ đi học gần đây mắc bệnh chuộng cao, đọc 'Luận Ngữ' chưa hỏi 'học thời phải tập luôn' thì đã nói đạo 'nhất quán', đọc 'Mạnh Tử'  chưa nói việc 'Lương Huệ vương hỏi về cái lợi'  đã nói về thuyết 'Tận Tâm', đọc 'Kinh Dịch'  chưa coi 64 Quẻ  đã đọc ngay phần 'Hệ Từ'.
Tất cả những điều này đều là bệnh học nhảy.'.  
(Dẫn trong 'Khốn Học Kỉ Văn' (Qu. VIII. Kinh thuyết), do Vương Ứng Lân (1223 - 1296) thời Nam Tống soạn, Ông Nguyên Kì (1751 - 1825) đời Thanh chú giải).
 
Ông tiến sĩ K.W. Taylor rồi cũng mắc cái bệnh 'học nhảy' nói trên đây.
 
Hán văn chưa thông, ông tiến sĩ đã nhảy, vói tới những chuyện đòi hỏi 1 sự hiểu biết sâu xa về   thứ văn tự  'hiểm hóc' này.
  Ông muốn làm 1 học giả uyên, thâm trong lãnh vực Cổ Sử học. Và, bên cạnh ông là các vị như Hue-Tam Ho Tai, Truong Buu Lam, Phạm Cao Dương, Lê Thọ Giáo, Tạ Chí Đại Trường.... thì  khua chiêng gióng trống, reo hò, muốn cho thiên hạ biết rằng các vị cũng có mắt lắm đấy chứ!

Các vị, và ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor của các vị, rồi đã chiêm bao - 1 giấc Chiêm bao của Nam Hoa Chân Nhân:


'Mộng chi trung hựu chiêm kì mộng'.
Và có tỉnh giấc chiêm bao thì các vị, và ông tiến sĩ của các vị, rồi vẫn trong chiêm bao! Hỡi ơi!
                                                                           
                                                                        
Tới đây thì tôi xin 'thọ giáo' ông Lê Thọ Giáo:

Xin ông chỉ giáo cho tôi biết ông tiến sĩ Sử học Keith Weller Taylor 'lỗi lạc' ở cái chỗ nào?

Nếu K.W. Taylor mà 'Lỗi Lạc' thì 'Lời Ca' của ông Lê Thọ Giáo đúng là 'Lỗi Lầm' cũng như 'Lạc Lõng' quá! 'Lỗi Lầm' vì là Thau mà ông Lê Thọ Giáo lại đi khoe là Vàng; 'Lạc Lõng' vì chỉ có những thiểu số không biết 'Dựa Cột', như các ông, bà Lê Thọ Giáo, Hue-Tam Ho Tai và Truong Buu Lam, Phạm Cao Dương, và thêm 1 ông nữa (sẽ nói ở 1 đoạn sau).... mới 'Bốc' ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor nhà ta lên tới trời như vậy!
 
Hỡi ơi, Tài, Học, Thức của ông tiến sĩ rồi chỉ cỡ 'Năm gian nhà cỏ' mà đến có những người lại ra rả ngâm nga 'Trời Thu xanh ngắt'! Hỡi ơi!
                                                                           *                                                                          
Trong Tập san 'Văn Lang', số 3/tháng 6/1992, có 1 bài viết của Tạ Chí Đại Trường tựa đề:'Những hoàng đế điền chủ đại việt (thế kỷ X - XIV)'.
 
Bài viết này chẳng có gì đáng nói hết! Chẳng đáng nói, vì nói chuyện 'muôn năm cũ' cũng như  về 'những người muôn năm cũ' mà ông Tạ Chí Đại Trường lại đã chẳng thông được thứ Văn tự của 'muôn năm cũ' đó (là Hán văn, hẳn nhiên!), rặt tham khảo toàn những sách chuyển dịch từ Hán - Việt, những sách Pháp văn, những sách cũng như tạp chí Việt văn! chẳng có gì đáng nói là vậy! Rồi cũng chỉ thêm 1 người nữa nghiên cứu 'Đông' mà chỉ đọc sách 'Tây'!
 
Nhưng, điều đáng nói ở đây là tiếp liền dưới tên người viết, (Tạ Chí Đại Trường), ghi ngay bên dưới tựa đề bài viết có 2 hàng chữ như sau:
'Tặng ông Keith Weller Taylor (1) không được hân hạnh quen biết.'.
 
Và ở phần Cước chú, ghi số  1 trên đây, ông Tạ Chí Đại Trường cho biết:

'1 . 'Tham dự hội thảo 'Tìm hiểu lịch sử Việt nam' từ 7 đến 12 - 1 - 1991 tại thành phố Hồ Chí Minh ( Phỏng vấn của Tuổi trẻ chủ nhật số 3 / 91 ngày 20 - 1 - 1991 ).'.
 
Nếu ông Tạ Chí Đại Trường đọc 2 bài phê bình ông tiến sĩ K.W. Taylor của tôi, và nếu do 1 sự ngẫu nhiên nào đó gặp phải ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor, giả như sự việc xảy ra như vậy, thì không rõ là ông Tạ Chí Đại Trường có còn cảm thấy 'hân hạnh' được 'quen biết' ông tiến sĩ về Cổ Sử học Việt Nam 'lỗi lạc' phi thường này hay không?
                                                                          
Thời buổi bây giờ, ở chốn 'Vu Xứ' này, 'bỗng đâu trồi lên'  1 số các ông, bà Việt Nam rất sính nói chuyện, thậm chí giảng giải giông dài nữa, về 'Những Người Muôn Năm Cũ'.

Thế nhưng, thiệt là hết sức tội nghiệp cho các ông bà này, vì 'Những Người Muôn Năm Cũ' đó 'Hồn bây giờ ở đâu' thì ông nào, bà nào cũng mu mơ mù mờ, chẳng ông bà nào biết hết!                                                                
 
Trường hợp ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor rồi cũng hệt như các ông các bà Việt Nam trên đây là 'Hán tự chẳng biết Hán', nhưng 'Tây tự' cũng khá thông, lại 'ngơ ngẩn' đi nghiên cứu Cổ sử Việt Nam (và Trung Hoa) để rồi.... các ông, các bà, cứ hệt như đi vào Mê Cung (Labyrinth) mà không có Sợi Chỉ của nàng Ariane (Anh văn, Ariadne)!
 
Và rồi, ông K.W. Taylor cũng cứ như chơi trò 'Bịt Mắt Bắt Dê' - chỉ khác có một điều là trong trò chơi này sau khi lên tiếng đoán tên người bị mình chộp được, người bịt mắt mở miếng khăn bịt mắt ra để coi mình đoán trúng hay trật; trong khi ở đây, sau khi quờ quạng 'chộp' được một cái gì đó, bất cứ cái gì, ông K.W. Taylor vẫn cứ 'không chịu' mở miếng khăn bịt mắt ra, mà cứ tiếp tục lên tiếng 'suy đoán'......
 
Và rồi, có năm ba vị 'tiến sĩ giấy' đứng một bên, mỗi người cũng một miếng khăn bịt mắt, để cứ mỗi lần ông K.W. Taylor lên tiếng là các quí vị này lại reo hò tở mở.....
.
Đúng là 1 trò chơi 'Bịt Mắt Bắt Dê Tập Thể' của một lớp trí thức thời đại! Thiệt là vui!
                                                                           
Một bài viết trước đây của tôi đã đủ, bây giờ lại thêm bài này nữa thì phải nói là quá đủ ( đủ và quá đủ, để thấy mức độ 'khả tín' của ông tiến sĩ K.W. Taylor như là 1 người nghiên cứu, như là 1 học giả trong lãnh vực Cổ Sử học Việt Nam, cũng như Trung Hoa, rồi quá kém cỏi, quá tồi tệ chẳng tới đâu cả!

Đây là 1 khẳng định!
 
Tôi cảm thấy tội nghiệp hết sức cho các quí vị Hue-Tam Ho Tai, Truong Buu Lam, Phạm Cao Dương, Lê Thọ Giáo, Tạ Chí Đại Trường; các vị ca tụng, trích dẫn và lấy làm 'hân hạnh' được 'quen biết' ông tiến sĩ K.W. Taylor mà rồi chẳng biết những gì mình ca tụng, trích dẫn v.v... là đúng hay sai nữa!
Có nói đây là trò chơi 'Bịt Mắt Bắt Dê Tập Thể' thì cũng chẳng sai đâu! Và, có lẽ tôi cũng nên ghi ở đây 2 chữ (còn tiếp) để chờ coi có ông bà Việt Nam nào nữa tham gia 'trò chơi' hào hứng  gọi là 'Bịt Mắt Bắt Dê Tập Thể' này hay không?
       
Trong phần 'Lời Nói Đầu', ông K.W. Taylor đã có mấy lời cảm tạ như sau:
 
'At the University of Michigan, it was my good fortune to study under Dr. John K. Whitmore, a pioneer in the field of premodern Vietnamese history in the United States. I also      acknowledge my debt to the other member of my graduate and thesis committees at the University of  Michigan: Professor Chun-shu Chang, Professor John V. A. Fine,Jr., Professor Charles O. Hucker, and Professor Thomas R. Trautmann, all of whom inspired my efforts to study history
I am especially grateful to Professor O.W, Wolters of Cornell University for his comments  during the revision process, which not only held me back from error but also set me on the way toward serious reevaluations.
I am also indebted to Professor Chi-yun Chen of the University of California, Santa Barbara, Professor David G. Marr of the Australian National University, Professor Alexander B. Wood-    side of the University of British Columbia, and Professor Ying-shih Yü of Yale University for their evaluations during the revision process; their comments played a large part in correcting confusion, developing my ideas, and giving the manuscript its present shape.
Professor William H. Nienhauser, Jr., of the University of Wisconsin, kindly offered valuable insights into the poem by P'i Jih-hsiu discussed in Appendix N.
John K. Musgrave of the University of Michigan Library and Ikuta Shigeru of the Toyo Bunko Library in Tokyo gave timely assistance in locating materials.
Sadako Ohki, my friend and spouse, translated Japanese books and articles and helped identify obscure characters.
A grant from the Social Science Research Council allowed me to put this manuscript into pub- lishable form.
I am grateful to Grant Barnes, Phyllis Killen, and their colleagues at the University of Califor- nia Press for their encouragement, guidance, and professional expertise.
This book has benefited from the editorial skill of Helen Tartar. I appreciate her thorough attention to detail and sure sense of correct grammar and good style.
All the mistakes are mine.'.
(  Preface. pp. xv - xvi  ).
 
Nhìn vào danh sách những người trợ giúp ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor duyệt lại, và hoàn tất cuốn 'The Birth of Vietnam', thiên hạ rồi không khỏi 'khiếp vía', vì rằng, hầu hết đây là những ông Giáo Sư thực thụ (Professor) tại Đại học,trong đó có 1 vài Đại học cực nổi tiếng tại Hoa Kì như Michigan (nơi K.W. Taylor xuất thân),Yale và như Cornell (nơi K.W. Taylor giảng dạy về Vietnamese studies),....và cũng thực vinh dự cho xứ sở tôi đang sống là trong danh sách này có cả ông tiến sĩ giáo sư David G. Marr của Đại học Quốc gia Úc (ANU) ở Canberra nữa!
 
Phần tôi, tôi cũng 'khiếp vía', có điều nỗi khiếp vía của tôi có khác thiên hạ:
 
Với sự trợ giúp hùng hậu của những người có Học Vị cao trong giới giảng dạy Đại học như vậy mà cuốn 'The Birth of Vietnam' lại có những cái sai tới không tưởng ra được như đã dẫn chứng thì phải nói đây là chuyện lạ lùng phi thường, là chuyện khó tin ( nhưng có thiệt!
Tôi cứ lẩn thẩn nghĩ về chuyện này. Và rồi, cứ như 'Í Ngu' của tôi thì vấn đề chỉ có thể rơi vào 1 trong 2 trường hợp sau đây:
 
1/. Khi K.W. Taylor đưa bản thảo cuốn 'The Birth of Vietnam' cho các ông giáo sư Đại học đã nêu trên để xin hiệu đính những thiếu sót, những sai lầm... thì các ông này để nó qua 1 bên - và khi K.W. Taylor tới xin lại bản thảo thì các ông lôi nó ra, cứ thế mà khen tới, kèm theo một vài câu nói vô thưởng vô phạt, cho có chuyện!
Đây là điều mà người Việt chúng ta gọi là 'Mặc áo Thụng vái nhau'.
 
2/. Các ông Giáo Sư Đại học nói trên rồi cũng 'Ú A Ú Ớ' - nói thẳng thừng là cũng dốt đặc về Cổ Sử học Việt Nam và Trung Hoa nói riêng, và Cổ học nói chung.

Tôi có thể khẳng định rằng những cái sai loại tôi đã trưng dẫn của cuốn 'The Birth of Vietnam' chỉ cần lướt qua, 1 người chuyên môn thực sự trong ngành đã có thể thấy ngay, dễ dàng!
 
Phải chăng những ông tiến sĩ Giáo Sư trên đây đều là những nhà chuyên môn? Nếu phải mà quí vị không nhìn ra được những cái sai rất căn bản của K.W. Taylor thì có nói 'qúy vi' là dốt đặc cũng không có gì là quá đáng.
 
Có nhiều lúc bằng cấp rồi chỉ là bằng cấp, mà 'thực học' vẫn là thực học, nói khác đi, bằng cấp ở đây rồi chỉ là 1 'tấm giấy lộn' thôi! Bằng cấp không nhất thiết là 1 bảo đảm cho Cái thực học của 1 người, đây là 1 chuyện rất hiển nhiên mà thông thường người ta rất ít khi chịu để í. Không có thực học thì dầu là tiến sĩ rồi cũng chỉ là 'Tiến Sĩ Giấy' mà thôi!
                                                                          
Tới đây tôi cũng không biết nói gì hơn là mượn lời 1 ông Tiến sĩ, Tiến sĩ thực sự, để gởi tới các ông bà tiến sĩ, cũng như các ông bà tham gia trò 'Bịt Mắt Bắt Dê Tập Thể' trong bài viết này:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ông nghè có kém ai!
Mảnh giấy làm nên khoa giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ, 
Cái giá khoa danh ấy mới hời!
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi!.
Khéo chú hoa man khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu vẻ mặt vang trong nước,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu!
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thu!
Hỡi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu!
 
Minh Di.
Viết tại Bất Túc Trưng Thư Trai.
Tân Tị nhuận (2001).
Dư nguyệt, nguyệt tại Chấn.
Nhâm Ngọ (2002).
Cao nguyệt. Nhị thập bát ( Hối tiền nhất nhật.
8.32.

                                                                             
 
Thư Mục - Hán Văn:
 
[1]. Cốc Lương Truyện.
Chiến Quốc. Cốc Lương Xích.
Tấn. Phạm Ninh tập giải.
Thập Tam Kinh Bản.
Thượng Hải Thư Điếm (TQ)      1997 / Sơ.

[2]. Sử Kí.
Tây Hán. Tư Mã Thiên.
Lưu Tống. Bùi Nhân tập giải.
Đường. Tư Mã Trinh sách ẩn.
Trương Thủ Tiết chính nghĩa.

[3]. Hán Thư.
Đông Hán. Ban Cố.
Đường. Nhan Sư Cổ chú.

[4]. Tấn Thư.
Đường. Phòng Huyền Linh & Trữ Toại Lương.

[5]. Tống Thư.
Nam Bắc triều ( Lương. Thẩm Ước.

[6]. Nam Tề Thư.
Nam Bắc triều ( Lương. Tiêu Tử Hiển.

[7]. Tùy Thư.
Đường. Ngụy Trưng & Trưởng Tôn Vô Kị.

[8]. Cựu Đường Thư.
Ngũ Đại - Hậu Tấn. Lưu Hú.

[9]. Tân Đường Thư.
Triệu Tống. Âu Dương Tu.

[10]. Cựu Ngũ Đại Sử.
Triệu Tống. Tiết Cư Chính.

[11]. Tống Sử.
Nguyên. Đoạt Đoạt.

[12]. Nguyên Sử.
Minh. Tống Liêm.

[13]. Minh Sử.
Thanh. Trương Đình Ngọc.

[14]. Thanh Sử Cảo.
Dân Quốc. Triệu Nhĩ Tốn.

(13 Bộ Chính Sử ghi số hạng từ [2] đến [14]:
Nhị Thập Ngũ Sử Bản.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1991 / 8.

[15]. Hậu Hán Thư.
Lưu Tống. Phạm Việp.
Thanh. Vương Tiên Khiêm tập giải.
Trung Hoa Thư Cục      1984 / Sơ.
 
[16]. Tư Trị Thông Giám.
Triệu Tống. Tư Mã Quang.
Nguyên. Hồ Tam Tỉnh chú
Trung Hoa Thư Cục      1987 / 7.

[17]. Chiến Quốc Sách.
Tây Hán. Lưu Hướng tập.
Triệu Tống. Diêu Hoằng tục chú.
 Bảo Bưu tân chú.
Nguyên. Ngô Sư Đạo bổ chính.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1995 / 4.

[18]. Thủy Kinh Chú Sớ.
Nam Bắc triều - Bắc Ngụy. Lịch Đạo Nguyên.
Dân Quốc. Dương Thủ Kính & Hùng Hội Trinh sớ.
Giang Tô Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1999 / 2.

[19]. Phương Dư Khảo Chứng.
Thanh. Hứa Hồng Bàn.
Bắc Kinh Thị Trung Quốc Thư Điếm      (Không ghi năm xuất bản).

[20]. Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập.
(Ngũ Sách:Tùy. Đường. Ngũ Đại Thập Quốc thời kì).
Đàm Kì Tương chủ biên.
Địa Đồ Xuất Bản Xã (TQ)      1982 / Sơ.

[21]. Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển (Sử học Sử quyển).
Sử học Sử quyển Biên Toản Ủy Viên Hội.
Chủ biên: Ngô Trạch & Dương Dực Tương.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã      1983 / Sơ.

[22]. Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển.
(Tùy. Đường. Ngũ Đại Sử).
Dương Chí Cửu & Ngô Phong chủ biên.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã      1995 / Sơ.

[23]. Trung Quốc Lịch Sử Danh Thành.
Trần Kiều Dịch chủ biên.
Trung Quốc Thanh Niên Xuất Bản Xã      1986 / Sơ.

[24]. Trung Quốc Địa Danh Từ Điển.
1 nhóm các Viện, Sở nghiên cứu và Đại học biên soạn.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã      1994 / 3.

[25]. Tiên Tần Chư Tử Hệ Niên (Tăng định Bản).
Tiền Mục.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1985 / Sơ.

[26]. Trung Quốc Lịch Đại Danh Nhân Từ Điển.
Nam Kinh Đại học Lịch Sử hệ Biên tả Tổ.
Giang Tây Nhân Dân Xuất Bản Xã      1982 / Sơ.

[27]. Trung Quốc Mĩ Thuật Gia Nhân Danh Từ Điển.
Du Kiếm Hoa.
Thượng Hải Nhân Dân Mĩ Thuật Xuất Bản Xã      1996 / 7.

[28]. Thông Chí.
Triệu Tống. Trịnh Tiều.
Chiết Giang Cổ Tịch Xuất Bản Xã      2000 / Sơ.

[29]. An Nam Chí Lược.
Việt Nam - Trần triều. Lê Tắc.
Trung Quốc. Vũ Thượng Thanh hiệu chú.
( Tác phẩm này in chung 1 cuốn với tập 'Hải Ngoại Kỉ Sự' - 1 tập Bút kí ghi chép về tình hình chính trị, kinh tế, giao thông, cũng như phong tục tập quán..... Việt Nam cuối thế kỉ XVII, dưới thời chúa Nguyễn Phước Chu ở Thuận Hóa. Đầu đà Đại Sán đời Thanh soạn ).
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      2000 / Sơ.

[30]. Vân Khê Hữu Nghị.
Đường. Phạm Sư.
Bút Kí Tiểu Thuyết Đại Quan Bản.
Giang Tô Quảng Lăng Cổ Tịch Khắc Ấn Xã      10/1983 / Sơ.

[31]. Mộng Khê Bút Đàm (Toàn dịch).
Lí Văn Trạch & Ngô Hồng Trạch dịch.
Ba thục Thư Xã (TQ)      1996 / Sơ.

[32]. Thi Tập Truyện.
Triệu Tống. Chu Hi chú.
Trung Hoa Thư Cục (HC)      1983 / Trùng ấn.

[33]. Mao Thi Cổ Âm Khảo.
Minh. Trần Đệ.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1988 / Sơ.

[34]. Toàn Đường Thi.
Thanh. Khang Hi sắc soạn.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1986 / Sơ.

[35]. Lễ Kí Tập Giải.
Thanh. Tôn Hi Đán tập giải.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1989 / Sơ.

[36]. Tứ Thư Tập Chú.
Triệu Tống. Chu Hi tập chú.
Thái Bình Thư Cục (HC)      1986 / 7.

[37]. Trang Tử Giải.
Chiến Quốc. Trang Chu.
Thanh. Vương Phu Chi giải.
Trung Hoa Thư Cục (HC)      1985 / Trùng ấn.

[38]. Pháp Ngôn Nghĩa Sớ.
Tây Hán. Dương Hùng.
Uông Vinh Bảo chú
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1997 / 3.

[39]. Liễu Tông Nguyên Tập.
Đường. Liễu Tông Nguyên.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1979 / Sơ.

[40]. Bì Tử Văn Tẩu.
Đường. Bì Nhật Hưu.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1981 / Sơ.

[41]. Khốn Học Kỉ Văn.
Triệu Tống. Vương Ứng Lân.
Thanh. Ông Nguyên Kì chú.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (ĐL)      1968 / Sơ.

[42]. Trung Quốc Độ Lượng Hành Sử.
Dân Quốc. Ngô Thừa Lạc.
Thượng Hải Thư Điếm      1984 / Sơ.

[43]. Thuyết Văn Giải Tự Nghĩa Chứng.
Đông Hán. Hứa Thận.
Thanh. Quế Phức nghĩa chứng.
Tề Lỗ Thư Xã (TQ)      1987 / Sơ.

[44]. Kinh Điển Thích Văn.
Đường. Lục Đức Minh.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1985 / Sơ

[45]. Kinh Truyện Thích Từ.
Thanh. Vương Dẫn Chi.
Nhạc Lộc Thư Xã (TQ)      1984 / Sơ.

[46]. Cổ Đại Hán Ngữ Hư Từ Loại Giải.
Trần Hà Thôn.
Sơn Tây Giáo Dục Xuất Bản Xã      1992 / Sơ.

[47]. Vấn Học Tập.
Chu Tổ Mô.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1981 / Sơ.

[48]. Tiểu Học Khảo.
Thanh. Tạ Khải Côn.
Hán Ngữ Đại Từ Điển Xuất Bản Xã      1997 / Sơ.

[49]. Trung Quốc Tiểu Học Sử.
Hồ Kì Quang.
Thượng Hải Nhân Dân Xuất Bản Xã      1987 / Sơ.

[50]. Ngữ Ngôn Học Từ Điển.
Trần Tân Hùng đẳng.
Tam Dân Thư Cục (ĐL)      1989 / Sơ.

[51]. Thực Dụng Trung Quốc Ngữ Ngôn Học Từ Điển.
Cát Bản Nghi chủ biên.
Ân Hoán Tiên thẩm đính.
Thanh Đảo Xuất Bản Xã (TQ)      1993 / Sơ.

[52]. Khang Hi Tự Điển.
Thanh. Khang Hi sắc soạn.
Cao Thụ Phiên trùng tu.
Lăng Thiệu Văn đẳng toàn tu.
Trương Thư Ngọc đẳng tổng duyệt.
Linh Kí Xuất Bản Hữu Hạn Công Ti (HC)      1981 / Sơ.

[53]. Từ Hải (Hợp đính Bản. 1947 Bản).
Dân Quốc. Thư Tân Thành, Từ Nguyên Cáo, Trương Tướng chủ biên.
Trung Hoa Thư Cục (HC)      1983 / Trùng ấn.
 
[54]. Từ Nguyên (Tu đính Súc ấn Hợp đính Bản).
Quảng Đông. Quảng Tây.
Hồ Nam. Hà Nam Tu đính Tổ.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC)      1987 / Sơ.

Đọc tiếp Phần 3 : Nói thẳng với ông tiến sĩ trong nước Lê Mạnh Thát

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đào Như

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Liên hiệp quốc

a

Lý Đại Nguyên

a

Mai Thanh Truyết

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thiếu Nhẫn

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Nguyễn Văn Hoàng

a

Lm. Nguyễn Văn Lý

a

Phạm Đình Hưng

a

Ht. Thích Quảng Độ

a

Ht. Thích Thiện Minh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Sunday, 30 January, 2011 0:10