Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Tủ sách vàng

Truyện Lịch sử

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo Lịch sử

Minh Di

Những ông tiến sĩ thời nay

Phần 1: Về một cuốn sách
  

Vài lời nói đầu.

Năm 2000, trong dịp bàn chuyện « viết lách và chữ nghĩa »  với vài bạn bè ở Úc, tôi có than cái cảnh khổ sở củatôi khi đọc chữ Tàu trong sách tiếng Pháp. Bởi lẻ một số sách báo xuất bản tại ngoại quốc có liên quan đến văn học và lịch sử Việt nam, các tác giả đã ghi chú tên họ và địa hình địa vật Trung hoa mỗi người mỗi khác. Người Phương Tây thường ghi chú theo lối « phát âm », còn người Việt nam lại ghi chú theo lối « ý hay nghĩa » theo chữ Việt nôm. Vì vậy rất nhiều lần, bài viết đã xong mà đành cất lại trong góc tủ, vì tôi sợ bày cái dốt chữ Hán của mình ra, các ngài tiến sĩ thời nay sẻ cười thúi óc!

Cách đây 3 năm, trong kỳ trở lại nghỉ hè tại Úc, giữa bữa ăn tại nhà anh Phạm đình Kỳ, cựu thẩm phán toà thượng thẩm Huế, giới thiệu tôi gặp anh Triều lương Chính, một học giả, rất thông thạo chữ Hán, chữ Nôm và chữ Việt, đang sống âm thầm tại vùng Bankstown (gần Sydney-Úc châu). Anh Kỳ còn cho biết, vào những dịp Tết anh Triều lương Chính cũng có viết vài bài trên báo Xuân xuất bản tại Úc châu dưới bút hiệu Minh Di. Đây là một dịp may rất hiếm có, chẳng khác nào như « mèo gặp miếng mỡ », tôi xin được đến thăm anh vào cuối tuần nhật, với dự tính tìm cách học và đọc chữ Hán.

Qua hai ngày sau, anh Minh Di (tức là Triều minh Chính), đã dành thì giờ sẳn sàng đón tiếp tôi và anh Phạm đình Kỳ tại nhà. Ở Úc châu, đất rộng người thưa, nên nhà cữa của anh cũng nằm trên khu đất riêng biệt, bề ngoài xem như loại nhà gọi là biệt thự (villa) bên xứ Bruxelles của tôi. Nhà anh cũng có « ngõ trước vườn sau » đầy cây cảnh bông hoa, nhưng cuộc sống của anh rất đạm bạc. Vợ anh nguyên xuất thân bác sĩ tại Việt nam, nhưng vì qua Úc quá muộn màng, nên không may mắn được trau dồi hành nghề như cũ. Tại đây, chị phải đi làm nghề « tay trái » để nuôi con ăn học. Nay con trai anh chị đã ra ngành kỷ sư điện toán và đã đi làm việc. Sáng nay, trước khi đi đến sở làm, chị cũng không quên « hai ông bạn của chồng », nên đã chu toàn dọn sẳn trên bàn cho 3 chúng tôi một mâm xôi và thịt gà.

Khi anh Minh Di mời hai chúng tôi đi thăm các phòng sách, một ấn tượng so sánh xảy ra trong óc tôi. Vài kỷ niệm lu mờ còn sót lại trong đầu óc lúc tôi còn nhỏ toé ra. Tôi không biết nhà cữa các cụ văn gia trí thức tại đô thị và tỉnh lỵ ngày xưa đã bày biện sách vở ra sao, nên không dám nói. Tôi chỉ nhớ tại nhà ông nội tôi và ông bác tôi, đã hai đời cử nhân tú tài và đi dạy học, nhưng sách vở chưa đầy 100 cuốn xếp ngăn nắp trên chục cái đấu gỗ, sơn đen, treo lủng lẳng trên trần nhà. Hình như phần lớn là sách viết tay, chứ không có (hoặc rất ít) sách in như những tập sách trước mắt tôi hôm nay. Đã lâu, tôi cũng chẳng thấy bác tôi dòm ngó, mãi đến năm 1945, lần đầu tiên mới thấy bác tôi cho dọn xuống lau chùi bụi bặm. Vì bác tôi đang có ý định mở trường dạy chữ Hán cho mấy người trong vùng muốn đi làm thông ngôn cho quân đội Nhật.

Phải thành thật tự thú rằng khi anh Minh Di vừa dẫn hai chúng tôi đi qua 3 phòng sách, đầu óc tôi choáng váng ! Tôi không tin anh đã có một tủ sách chữ Hán quá nhiều như vậy. Tất cả đều là sách in, được bày biện theo niên hiệu và tên tuổi theo thứ tự các tác giả. Lối thiết trí các học sách và lối ghi chú rất khoa học. Dễ tìm. Tôi đoán chừng trên dưới 3000 quyển  và quyển nào cũng có kèm theo hướng dẫn!

Trong bữa ăn, chúng tôi có bàn về chuyện tham khảo nghiên cứu các sách xưa. Tôi có nói rỏ với anh Minh Di là hiện tại ở nước ngoài rất nhiều sinh viên mong mỏi được tham khảo những tài liệu có liên quan giữa Việt và Tàu. Nhưng phần lớn đều rất dốt chữ Hán, nên không đọc được sách Tàu. Tôi có nói qua cái khổ sở của tôi trước những lần ngồi trong thư viện Đại học và Thư viện Quốc gia Bĩ. Trong lúc tham khảo thì vấp phải nạn mỗi sách chú thích mỗi cách. Mỗi tác giả chú thích mỗi khác. Điên cả đầu và rất mất thì giờ ! Hơn nữa, mình phải theo lối chú thích của các ông đại khoa bảng tiến sĩ kỷ sư đang có chân trong đại học thời nay thì may ra mới hợp với « cảm quan » trí thức thời đại.

Anh Minh Di hoàn toàn không đồng ý theo lối nghĩ của tôi và anh khuyên tôi nên lấy tri nghiệm một việc mà anh đã từng theo dõi suốt hơn 30 năm nay. Anh khẳng định rằng rất có nhiều tiến sĩ chưa đọc hết tác phẩm của một sử gia, nhưng lại viết thành sách và hiện tại các viện đại học trên thế giới, nhất là tại Mỹ, đang dùng để hướng dẫn sinh viên. Việc ghi học vị tiến sĩ và học hàm trước tên tác giả là bệnh nan y của thời đại. Với người sinh nhai về mảnh bằng trong hội hè đình đám là lối khoe khoang, tự đắc. Đối với các lãnh tụ hay giáo sư đại học là một « đe doạ khủng bố» tinh thần thuộc cấp và sinh viên.  Để chứng minh lời nói đó, anh Minh Di đến tủ lấy tôi cuốn sách nhan đề « The Birth of Vietnam » mà tác giả là giáo sư tiến sĩ Weller Taylor tại đại học Michigan. Anh Minh Di đã tặng luôn tôi bài viết phê bình về quyển sách nầy, nhưng đã lâu tôi không có dịp cống hiến bạn đọc để rộng đường suy luận về « cái học chu tất và học lỏm bỏm » giữa các vị trí thức khoa bảng thời nay. Đây cũng là dịp để góp phần trả lời một bài đăng tải trên mạng lưới internet TinParis.net ngày 16/06/2006, khi tác giả đã công khai chỉ trích việc kê khai hai chữ « tiến sĩ» trong nhiều bài viết. Vậy xin độc giả cố gắng đọc hết cả hai bài sau đây, để trước hết là hiểu thêm về lịch sử Việt nam (một sử liệu liên quan đến Việt nam hiếm có) và sau, để biết một người trong trăm ngàn người Việt đang ẫn danh đã nghỉ thế nào về chữ « tiến sĩ » trí thức thời nay qua phần phê bình trực diện.

Tôi tự nhận là người không biết chữ Hán, và vấn đề lịch sử nước nhà cũng chẳng đi vào đâu. Nhưng vì muốn tìm hiểu nguồn cội quê hương, nên có ước mộng sau đây : « Nếu có độc giả nào (đặc biệt là vài vị tiến sĩ người Việt đang sinh nhai tại Mỹ có tên ghi trong bài nầy) nhận thấy bài phê bình và lối trích dẫn sử liệu mà anh Minh Di đã đưa ra có nhiều sơ hở và thiếu sót, xin lên tiếng chỉ giáo ». Tôi xin muôn vàn tri ân.

Chú thích. Vì bài phê bình của tác giả Minh Di quá dài, nên tôi xin chia làm 2 phần, với mục đích giống lên tiếng nói của một trong trăm ngàn học giả người Việt ẩn danh, đang đối diện với các vị « tiến sĩ thời nay » khi viết về Việt nam.

Lê Hùng Bruxelles

a

Vào khoảng cuối năm 1992, một người bạn trẻ vốn biết tôi có nghiên cứu đôi chút về Cổ Sử Việt Nam đưa tôi 1 cuốn sách và hỏi tôi đã đọc cuốn này chưa?
 

Đây là 1 cuốn sách viết về 1 khoảng khá dài trong giòng Cổ sử Việt Nam - trải từ thời lập quốc cho tới Đinh triều (968 - 980), tác giả là 1 người Hoa Kì, ông Keith Weller Taylor. Tên tác phẩm là 'THE BIRTH OF VIETNAM'

.

Trong phần 'Đề Tựa' cho cuốn sách nói trên, ông Keith Weller Taylor nói rõ cho người đọc biết đây là 'bản duyệt lại và khai triển' ('revised and expanded version') luận án Tiến sĩ sử học của ông đệ trình vào năm 1976 tại Đại học Michigan.

 

Riêng bản tôi hiện có trong tay là bản in của 'University of California Press', xuất bản năm 1983 - và Mã số ISBN là: 0 - 520 - 07417 - 3.

 

Lúc bấy giờ tôi đã định viết một bài phê bình cuốn sách này, nhưng rồi vì công việc đa đoan để ngày tháng cứ thế qua đi, cho tới bây giờ tôi mới thực hiện được í định lúc ban đầu.

 

Mặt ngoài bìa sau sách K.W. Taylor trích dẫn 1 số í kiến của 1 số người cả Việt lẫn Hoa Kì.Tôi nghĩ rằng có lẽ không người nào quan tâm đến Lịch Sử Việt Nam hơn người Việt Nam, do đó tôi xin dẫn ở đây 1 vài câu chính trong những đoạn phê bình in sau bìa sách đó của 2 vị trí thức Việt Nam thời nay.

 

'With this work of meticulous scholarship, Taylor put both Vietnamese and Chinese historians in his debt.'  (Hue -Tam Ho Tai. Pacific Affairs Review).

 

'This is an outstanding work. For researchers, it is a mine of historical sources interpreted and analyzed.' ( Truong Buu Lam. American Historical Review).

 

2 vị trí thức Việt Nam kể trên dĩ nhiên là có những lí do ( ?) để cho rằng cuốn 'The Birth of Vietnam' của tác giả K.W. Taylor là 1 'tác phẩm của sự uyên bác tỉ mỉ', các Sử gia Việt Nam cũng như Trung Hoa đều thua kém, là '1 tác phẩm ngoại hạng', là '1 cái mỏ các nguồn Sử liệu' cho những người nghiên cứu, vân vân và vân vân.

Riêng phần tôi, tôi cũng có những lí do, dĩ nhiên, để cho rằng.. ' coi chừng trí thức lỏm bỏm'.
                                                                          
Theo dỏi thư Mục Tham Khảo của K.W. Taylor gồm có 2 nguồn:
 
(1). Các nguồn căn bản (Primary Sources).
Nguồn này gồm có một số tác phẩm cổ viết bằng Hán văn, tác giả là những người Việt Nam và Trung Hoa từ thế kỉ 19 Công nguyên trở về trước, tổng cộng 33 tác phẩm, phân ra Việt Nam có 5 tác phẩm, và Trung Hoa 28 tác phẩm.
 
(2). Các nguồn phụ (Secondary Sources).
Nguồn này gồm những tác phẩm và bài báo viết bằng Anh văn, Pháp văn, Hán văn, Nhật văn... và Việt văn, tác giả là những người từ đầu thế kỉ 20 Công nguyên trở lại đây - cộng tất cả được 174 tác phẩm và bài báo.

  • Ở đây tôi chỉ xét các nguồn tư liệu, Sử liệu căn bản.

Như danh xưng cho thấy, các nguồn tư liệu và Sử liệu này chính là cái nền, cái khung của cuốn 'The Birth of Vietnam'.
 
Để qua 1 bên 5 tác phẩm cổ của Việt Nam là 'Lĩnh Nam Chích Quái', 'Việt Điện U Linh Tập', 'Đại Việt Sử Kí Toàn Thư', 'Việt Sử Lược', 'An Nam Chí Lược' mà nếu tôi không lầm thì đều đã được chuyển dịch qua Việt ngữ.
                                                                          
Còn lại 28 tác phẩm cổ của Trung Hoa thì có 3 vấn đề, mà bất cứ một nhà khảo cứu nào cũng rỏ:

1/. Số lượng Sử liệu.

2/. Sử dụng Sử liệu.

3/. Tuyển trạch Sử liệu.

Sau đây tôi sẽ lần lượt phân tích từng vấn đề một.
                                                                         
1/. Số lượng Sử liệu.
 
Thư tịch cổ Trung Quốc liên quan Cổ sử Việt Nam - ở đây nói riêng giai đoạn Cổ sử Việt Nam đề cập trong cuốn 'The Birth of Vietnam' - tuy không nhiều lắm nhưng cũng không ít lắm như Thư Mục K.W. Taylor đã liệt kê.
 
Những 'Sử liệu' loại này tôi hiện có trong tay cũng ngoài trăm bộ. Và dĩ nhiên tất cả không chỉ chừng đó, vì có thể còn nhiều tác phẩm tôi chưa được biết, cũng như những tác phẩm tuy có biết nhưng tôi chưa có được trong tay.
 
Những Sử liệu như vừa nói chủ yếu gồm những Sử thư - bao gồm những bộ được liệt Chính Sử cũng như không được liệt Chính Sử, kế đến là những Loại thư, những tập Bút Kí và Trát Kí của nhiều danh nhân, học giả Trung Hoa.
 
Ở đây cũng cần nhấn mạnh 1 điểm là tư liệu liên quan Cổ sử Việt Nam ghi chép trong các tập Bút kí, Trát kí của danh nhân, học giả Trung Hoa... tuy thường là rải rác nhưng trong khá nhiều trường hợp đó lại là những tư liệu hết sức giá trị khả dĩ bổ túc, cải chính những thiếu sót, những lầm lẫn, nhất là những thiên kiến của Sử thư; đây là điều mà có lẽ rất ít người ngờ đến, và có lẽ cũng vì vậy mà rất hiếm người để í tìm kiếm trong phạm vi này.
 
Để cụ thể hơn, tôi xin dẫn ra đây 1 số Sử liệu quan trọng cho việc nghiên cứu Cổ Sử Việt Nam mà lẽ ra K.W. Taylor không thể không biết tới:

(1). 'Cửu Quốc Chí' của Lộ Chấn ( ? - ? ) thời Bắc Tống (960 - 1127).
(2). 'Thập Quốc Xuân Thu' của Ngô Nhiệm Thần (1631 - 1684), đời Thanh (1644 - 1911).
(3). 'Nam Hán Thư' của Lương Đình Nam (1796 - 1861), Thanh triều.
(4). 'Lãnh Ngoại Đại Đáp' của Chu Khứ Phi (1135 - 1189), thời Nam Tống (1127 - 1279).
(5). 'Đông Tây Dương Khảo' của Trương Tiệp (1574 - 1640) đời Minh (1368 - 1644).
(6). 'Quảng Đông Tân Ngữ' của Khuất Đại Quân (1630 - 1696), Thanh triều.
(7). 'Việt Tây Tùng Tái' của Uông Sâm ( ? - ? ), Thanh triều.
(8). 'Đường Hội Yếu' của Vương Phổ ( ? - ? ), thời Bắc Tống.
(9). 'Đường Đại Chiếu Lệnh Tập' của Tống Mẫn Cầu (1019 - 1079), đời Bắc Tống.
(10). 'Văn Hiến Thông Khảo' của Mã Đoan Lâm (~ 1254 - 1323), đời Nguyên (1279 - 1368).
 
Đây là tôi chỉ mới đề cập những tác phẩm mà giới nghiên cứu Sử học hầu hết đều biết; còn như  chịu khó hơn thì người ta có thể tìm thấy 1 vài đìều về Việt Nam thời cổ chép rải rác trong 1 số tác phẩm có tính cách tư tưởng, như tập 'Luận Hành' của học giả Vuơng Xung (27 - ~ 96) triều Đông Hán (25 - 220), và các tập Tùy bút, Bút kí, chẳng hạn: 'Tây Kinh Tạp Kí', vẫn truyền do đạo sĩ Cát Hồng (284 - 363) vào đầu đời Đông Tấn (317 - 420) soạn, 'Triều Dã Thiêm Tái' của Trương Trạc ( ? - ? ) đời Đường (618 - 907) biên soạn, và, 'Khai Ngưyên Thiên Bảo Di Sự' của Vương Nhân Dụ (880 - 956) thời Ngũ Đại (907 - 960)...
 
Còn gần đây thì không thiếu những tác phẩm bổ túc những thiếu sót, đính chính những lầm lẫn trong Sử thư cổ, trong đó có 1 vài điều liên quan Cổ sử Việt Nam, chẳng hạn như các tác phẩm  'Thông Giám Tùy, Đường Kỉ Tỉ Sự Chất Nghi' của Sử học gia Sầm Trọng Miễn (1885 - 1961) và 'Tuyển Đường Tập Lâm' của Nhiêu Tông Di, cũng như 'Tuyền Tệ', một tạp chí nghiên cứu về tiền cổ Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, do 'Trung Quốc Tuyền Tệ Học Xã' chủ trương...
 
2/. Sử dụng Sử liệu.
           
Khi đọc một tác phẩm nghiên cứu, đọc phần 'Thư Mục Tham Khảo', người đọc luôn luôn nghĩ rằng tác giả hẳn đã thực sự tham khảo những thư tịch được liệt kê trong mục này. Nhưng ở đây, trường hợp của ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor, sự việc rồi đã chẳng như người ta tưởng. ?ây là vấn đề mà tôi sẽ chứng minh.
 
Trước hết, khi luận về danh xưng 'GIAO CHỈ', K.W. Taylor đã viết như sau:
 
'The name Giao-chi was plucked from the Li chi ( Records of Rituals ), an early Chinese text, where it appears as a term used to describe the communal sleeping habits of 'southern barbarians'. Giao-chi means 'intertwined feet' and refers to the custom of sleeping in groups with each person's head extending outward, while all feet came together in the center. 118
This does not mean that the ancient Vietnamese practiced such a custom, for the term appears under the Cheng family in the Li chi, and the Cheng ruled in Ho-nan from 774 to 500 B.C. In that time and place the 'southern barbarians' would have been the people in the Yangtze basin or, at furthest, the Hsi basin, but not in a place so remote as the Hong basin. Nevertheless, as the Li chi came to be included among the classics of  Chinese literature, its phraseology gained a special authority that was indiscriminately applied by later generations to conditions in their day.'.(The Birth of Vietnam  I. Lac Lords. Chao T'o. p. 26). Xin phỏng dịch :
 
'Danh xưng Giao-chỉ được trích từ sách Lễ Kí ( Tập ghi chép về Lễ nghi ), 1 bản văn cổ của Trung Hoa, trong đó danh xưng này được dùng để mô tả thói quen nằm ngủ trong làng xã của dân 'man di'. Giao-chỉ có nghĩa 'những bàn chân giao nhau' và nhằm chỉ tập tục ngủ tập thể  theo đó đầu của mỗi người hướng ra ngoài còn các bàn chân thì đâu lại với nhau ở tâm điểm.
Điều này không có nghĩa rằng người Việt Nam thời cổ đã có 1 tập tục như vậy, vì lẽ từ ngữ này xuất hiện dướì thời giòng họ Trịnh ghi trong Lễ Kí, và giòng họ Trịnh đã cai trị đất Hà-nam từ năm 774 tới năm 500 trước Tây lịch. Vào khoảng thời gian và không gian đó dân 'man di' phải là dân cư ở lưu vực sông Dương Tử hay, xa nhất, là ở lưu vực sông Tích, chứ không phải ở một không gian quá xa như sông Hồng. Tuy nhiên, vì sách Lễ Kí đã là 1 trong những Kinh điển cổ của văn học Trung Hoa, văn từ của tác phẩm do đó đã có 1 uy thế đặc biệt để rồi những thế hệ sau đó đã dẫn dụng mà không phân biệt tùy bối cảnh của thời đại mình.'.
 
Câu kết luận của đoạn văn trên đây đã khẳng định rằng í nghĩa của danh xưng Giao Chỉ đã nêu ở phần đầu là giải thích của sách 'Lễ Kí'. Người đọc rồi không thể nào hiểu khác hơn!
 
Thực tội nghiệp cho ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor! Vì như vậy, cho phép tôi khẳng định rằng ông tiến sĩ  chưa từng đọc qua cuốn 'Lễ Kí' bao giờ cả!
 
Tôi xin trích dẩn trong một đoạn tự thuật về các dân tộc 4 phương tiếp giáp Trung Quốc, thiên 'Vương chế' của sách 'Lễ Kí' có đoạn chép:
 
'Nam phương viết Man, điêu đề Giao Chỉ; hữu bất hỏa thực giả hĩ.'. Có nghĩa là : 'Các dân tộc ở phương Nam được gọi chung là Man, có dân Giao Chỉ xâm hình trên trán; về ăn uống dân Man có những món ăn sống không nấu nướng gì hết.'
 
Chính văn 'Lễ Kí' đề cập dân Giao Chỉ chỉ có chừng đó, ngoài ra không có đoạn nào giải thích về  í nghĩa của danh xưng Giao Chỉ như K.W. Taylor đã viết. Vậy thì ti?n s? K.W. Taylor đã căn cứ vào đâu để mà khẳng định như trên?
 
Coi phần cước chú 118 của K.W. Taylor: '118. LC, 4, 10b; Asami Shozo, 'Koshi to iu Kosho', pp. 64 - 67'. (LC. là kí hiệu ngài tiến sĩ giáo sư K.W. Taylor dùng để chỉ sách 'Lễ Kí', viết tắt từ  âm Quốc ngữ Trung Hoa). Như vậy là K.W. Taylor đã căn cứ 1 tác giả người Nhật viết về 'Lễ Kí'!
 
Tôi không biết tác giả và tác phẩm (hay Bài báo gì đó) mà tiến sĩ K.W. Taylor đã dẫn, hoặc nếu có đi nữa  thì tôi cũng không đọc được tiếng Nhật, như bà vợ Nhật của K.W. Taylor, để có thể biết tác giả Nhật đó đã viết những gì cũng như K.W. Taylor đã trích dẫn chính xác hay không chính xác.Nhưng, nếu nói Bộ 'Lễ Kí' thì tôi có thể khẳng định là tôi biết rất rõ xuất xứ của giải thuyết về danh xưng Giao Chỉ K.W. Taylor đã đề cập.
 
Đây là giải thuyết của học giả Khổng Dĩnh Đạt (574 - 648) đời Đường (618 - 907) ghi trong bộ chú giải sách 'Lễ Kí' của ông, tựa đề 'Lễ Kí Chính Nghĩa'. Khi giải thích danh xưng Giao Chỉ trong đoạn văn của thiên 'Vương chế' sách 'Lễ Kí' đã trích dẫn ở 1 đoạn trên, Khổng Dĩnh Đạt đã viết như sau:
 
'Chỉ, túc dã ( ngôn Man ngọa thời đầu hướng ngoại nhi túc tại nội nhi tương giao, cố vân Giao Chỉ.'. (Lễ Kí Chính Nghĩa. Qu. XII). Nghĩa là :
 
'Chỉ là bàn chân ( í nói dân Man di lúc nằm ngủ thì đầu hướng ra ngoài, và bàn chân thì hướng vào trong, đâu lại với nhau, do đó mà gọi là Giao Chỉ.'.
 
Tóm lại, K.W. Taylor đã trích dẫn 1 tác giả Nhật, và rồi, chẳng rõ tác giả đó đã viết thế nào mà khi tới ngài tiến sĩ K.W. Taylor thì phần chú giải Kinh lại biến thành phần chính văn Kinh?!
 
Ngoài ra, trong đoạn văn của 'The Birth of Vietnam' tôi đã dẫn trước đây, ngài tiến sĩ K.W. Taylor còn sai 1 điểm về lịch sử Trung Hoa nữa, khi viết 'Cheng family' ('giòng họ Trịnh').
 
Thực ra Trịnh ở đây là Quốc danh chứ không phải tên Họ người, hay tên Triều đại, do đó chính xác hơn phải viết 'Cheng state'. Người khai sáng Trịnh quốc là Cơ Hữu (Họ Cơ, tên Hữu) mà trong Sử thư thường được gọi qua danh xưng Trịnh Hoàn công (? - 771 tr. Cn.; tại vị: 806 - 771). Cơ Hữu vốn giòng dõi tông thất  Chu triều (1121 - 256 tr. Cn.), là con út của Chu Lệ vương (? - 828 tr. Cn.; tại vị: ? - 842), và là em của Chu Tuyên vương (? - 782 tr. Cn.; tại vị: 828 - 782).
 
Có thể nói những Sử liệu Trung Hoa trích dẫn trong 'The Birth of Vietnam' rồi đã được dẫn lại từ những tác giả hoặc Tây phương, hoặc Nhật Bản, do đó mà người đọc cũng chẳng ngạc nhiên chút nào hết khi thấy K.W. Taylor đã sai ngay ở những điều sơ đẳng nhất.
 
Trong 1 đoạn đề cập danh tướng Mã Viện (14 tr. Cn. - 49 Cn.), K.W. Taylor viết:
 
'At the beginning of A.D. 41, one of the empire's best generals, Ma Yüan, fresh from suppressing a rebellion in An-hui, was appointed, at the age of fifty-six, to march to the far south.'.(Op. cit. I. Lac Lords. The Trung Sisters. p. 39). Vào đầu năm 41 Tây lịch, 1 trong những đại tướng giỏi nhất của đế quốc, Mã Viện, vừa dẹp xong 1 cuộc nổi loạn ở An-huy, được bổ nhiệm, vào tuổi 56, để dẫn quân xuống phương Nam xa xôi.'.
 
Những ai ít nhiều đã từng coi qua Sử sách Trung Hoa hẳn đều biết 1 điều là lối tính tuổi  những nhân vật lịch sử trong thư tịch cổ của họ rồi chính là lối tính tuổi mà chúng ta, người Việt Nam, gọi là 'Tuổi Ta', nghĩa là năm vừa sinh tính ngay 1 tuổi.
Và như vậy, nếu tính đi từ năm 14 trước Tây lịch (năm Mã Viện sinh) cho đến năm 41 Tây lịch (năm Mã Viện đưa quân xuống miền viễn Nam), Mã Viện chỉ mới 55 tuổi (Ta) mà thôi!
Còn tính theo tuổi gọi là 'Tuổi Tây', tức tính theo cách tính của người phương Tây, thì rồi phải trừ đi 1 năm, nghĩa là chỉ 54 tuổi mà thôi.
 
Tóm lại, tuổi của Mã Viện vào năm 41 Cn., nói 'Tuổi Ta' thì K.W. Taylor đã tính lố 1 Tuổi, và nói 'Tuổi Tây' thì K.W. Taylor đã tính quá đến 2 Tuổi - và ở đây tôi nghĩ K.W. Taylor đã tính theo 'Tuổi Tây'.
 
Chỉ 1 chuyện sơ đẳng như vậy mà còn sai lầm thì rõ ràng là ông tiến sĩ K.W. Taylor vốn không thông hiểu Hán văn, đọc không được bao nhiêu, cũng như chưa từng coi qua 'Hậu Hán Thư', là Bộ Sử có phần ghi chép tiểu sử Mã Viện, bao giờ hết! Nếu ngài tiến sĩ có đọc thì đâu đến nỗi tính kiểu nào cũng sai như vậy!
 
Tham khảo Sử liệu, nhất là những Sử liệu căn bản, một cách gián tiếp, qua người khác như vậy cho nên bao nhiêu lầm lẫn, bao nhiêu thiếu sót của người, ngài tiến sĩ  K.W. Taylor đều gom đủ hết. Và ở đây, những sự việc chung quanh trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 938, giữa triều đình Nam Hán (905 - 971) và Ngô Quyền (898 - 944; tại vị: 939 - 944), tường thuật trong cuốn sách 'The Birth of Vietnam' đã cho thấy rất rõ điều này.
 
Về những quyết định cũng như chuẩn bị của Lưu Cung (889 - 942; tại vị: 917 - 942) - là Cao tổ  triều Nam Hán, trước khi tiến đánh đất Giao Châu, ngài tiến sĩ K.W. Taylor viết:
'He placed his own son, Liu Hung-ts'ao, in command of the expedition, naming him 'Peaceful Sea Military Governor' and 'King of Giao'. He hastily assembled an army at Sea Gate, where he personally took charge of the reserve force. One of his court ministers advised restraint, saying, 'Rain has been accumulating continuously for ten days now; the sea route is long and dangerous; Ngo Quyen is a treacherous adversary, he cannot be treated lightly.'. (Op. cit. 7. Independence. Ngo Quyen. p. 267). Phỏng định :
 
 'Ông ta chỉ định con mình, Lưu Hoằng-tháo, chỉ huy cuộc hành quân, phong Hoằng Tháo tước hiệu 'Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ' và 'Giao Vương'. Ông ta vội vã tập hợp 1 đạo quân ở Hải Môn, tại đó ông ta đích thân chỉ huy lực lượng trừ bị. 1 trong những đình thần đã can ngăn ông ta, nói rằng, 'Trời mưa dầm dề đã 10 ngày nay rồi; đường biển thì xa xôi và nguy hiểm; Ngô Quyền là 1 đối thủ xảo quyệt, không thể coi thường được.'
 
Từ khoảng giữa trang 265 cho tới đầu trang 269 (luận về Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền), theo như những cước chú ghi số 47, 48, 49, 50, 51 chúng ta biết trong khoảng mấy trang vừa kể trên K.W. Taylor chủ yếu đã căn cứ 1 bộ Sử (?) tiêu đề 'Annan' ('An Nam') của 1 tác giả Nhật Bản  tên Yamamoto. Khi chép về trận chiến trên sông Bạch Đằng, tôi nghĩ Yamamoto đã không thể không tham khảo bộ Sử thư nổi danh là 'Tư Trị Thông Giám' của Tư Mã Quang (1019 - 1086) thời Bắc Tống (960 - 1127).
 
Bây giờ hãy thử đối chiếu đoạn văn đã dẫn trên của K.W. Taylor và đoạn văn sau đây trong bộ 'Tư Trị Thông Giám':
 
'Dương Đình Nghệ cố tướng Ngô Quyền tự Ái châu cử binh công Kiểu công Tiễn ư Giao châu. Tiễn khiển sứ dĩ lộ cầu cứu ư Hán. Hán chủ dục thừa kì loạn nhi thủ chi, dĩ kì tử Vạn Vương Hoằng Tháo vi Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ, tỉ phong Giao vương, tương binh cứu Công Tiễn. Hán chủ tự tương đồn vu hải môn, vi chi thành viện. 
 
Hán chủ vấn sách ư Sùng Văn Sứ Tiêu Ích, Ích viết:  Kim lâm vũ tích tuần, hải đạo hiểm viễn, Ngô Quyền kiệt hiệt, vị khả khinh dã; đại quân đương trì trọng, đa dụng hướng đạo, nhiên hậu khả tiến.'. ( Qu. CCLXXXI. Hậu Tấn kỉ 2).
 
Cao Tổ Thánh Văn Chương Vũ Minh Đức Hiếu Hoàng Đế. Thiên Phúc tam niên . 'Tướng trước kia của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền đem quân từ Ái châu ra Giao châu đánh Kiểu Công Tiễn. Công Tiễn cho sứ giả mang của hối lộ qua cầu cứu (Nam) Hán. Muốn thừa cơ Giao châu loạn mà chiếm lấy xứ này vua Nam Hán phong con mình là Vạn vương Hoằng Tháo làm 'Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ', chuẩn bị tấn phong Giao Vương, đưa binh cứu Công Tiễn. Còn vua  Nam Hán thì đích thân đóng quân tại cửa biển để tiếp ứng.
 
Vua Nam Hán hỏi kế sách quan Sùng Văn Sứ Tiêu Ích thì Tiêu Ích nói: Trời mưa dầm dề đã 10 ngày nay, đường biển thì xa xôi, nguy hiểm, còn Ngô Quyền lại là kẻ mưu mô quỉ quyệt, tình thế rồi không thể coi thường được; đại quân nên thận trọng, dùng nhiều người dẫn đường, có như vậy thì mới có thể tiến được.'.
 
Chúng ta thấy rất rõ, thiếu sót của tiến sĩ K.W. Taylor ở đây là danh tính của vị đình thần đã can ngăn vua Nam Hán, Lưu Cung. Thế nhưng  K.W. Taylor đã không biết mà ngay đến câu kết luận quan trọng của lời can ngăn đó K.W. Taylor cũng không biết luôn. Đây là tôi chỉ mới nói có 'Tư Trị Thông Giám'.
 
Sự việc trên đây, 2 Sử gia Ngô Nhiệm Thần (1631 - 1684), rồi Lương Đình Nam (1796 - 1861)     sau đó dưới Thanh triều (1644 - 1911) đã chép gần hệt như Tư Mã Quang, chỉ khác đôi chút về cách hành văn và 1 vài chữ mà thôi, không đáng kể.
 
Có điều, tiếp liền sau câu 'Nhiên hậu khả tiến', 2 Sử gia nói trên còn có thêm 1 câu nữa, đó là: 'phủ tắc binh vị trập dã', nghĩa là 'bằng không thì không thể điều động quân binh được'.
Xin coi:
             'Thập Quốc Xuân Thu'. Qu. LXIII. Nam Hán 6. Liệt Truyện. Tiêu Ích. 
             'Nam Hán Thư'. Qu. XII. Liệt Truyện 6. Chư thần Truyện 4. Tiêu Ích. 
 
Còn về lầm lẫn thì tác giả 'The Birth of Vietnam' đã lầm lẫn khi đặt bút viết rằng 'Ngô Quyền   là 1 đối thủ xảo quyệt, không thể coi thường được'.
 
Căn cứ những gì Tiêu Ích nói chép lại trong 'Tư Trị Thông Giám' thì có thể thấy:
 
(1). 'Trời mưa dầm dề đã 10 ngày nay', trong khi (2). 'đường biển thì xa xôi, nguy hiểm', thêm vào đó (3). 'Ngô Qyền lại là 1 kẻ mưu mô quỉ quyệt'.
 
Tất cả 3 yếu tố này tạo thành 1 'tình thế không thể coi thường được', không phải chỉ con người của Ngô Quyền không mà thôi!
 
Luận Binh pháp thì có thể thấy ngay là Tiêu Ích đã phân tích tình thế theo 3 yếu tố 'Thiên/Địa' và 'Tri Kỉ' ('Biết Mình') / 'Tri Bỉ' ('Biết Người'). 2 yếu tố trên đã được phân tích cặn kẽ trong thiên 'Thủy Kế', thiên đầu tiên, đồng thời cũng là Cương lãnh của bộ Binh pháp 'Tôn Tử' - và yếu tố thứ 3 được luận trong thiên 'Mưu Công', thiên thứ 3 của bộ Binh pháp trứ danh vừa kể.
 
Nói Lịch Sử là nói thời gian. Về năm tháng xảy ra trận chiến Bạch Đằng, K.W. Taylor viết:
'The Battle of Bach-dang River took place in the autumn of 938.'. ( Op. cit. p. 269).
'Trận chiến sông Bạch-đằng xảy ra vào mùa thu năm 938.'.

Cả 3 Bộ Sử: 'Tư Trị Thông Giám' (Quyển thứ đã dẫn, Mục đã dẫn ở một đoạn trên), cũng như 'Thập Quốc Xuân Thu' (Qu. LVIII. Nam Hán 1. Bản kỉ: Cao tổ bản kỉ.) và Bộ 'Nam Hán Thư' (Qu. III. Bản kỉ 3: Cao tổ kỉ 2.) đều chép thật rõ rằng trận chiến trên sông Bạch Đằng đã xảy ra vào mùa Đông, tháng 10 (Âm lịch), năm Mậu Tuất (938).
 
Sử gia Tư Mã Quang vì không coi Nam Hán là 1 triều đại chính thống cho nên đã chép Sự việc theo niên biểu của thời Ngũ Đại (907 - 960) ( trận Bạch Đằng, vì vậy, đã được chép trong mục các sự việc xảy ra vào tháng 10, Mùa Đông, năm thứ 3 Niên hiệu Thiên Phúc (936 - 942), dưới thời Cao tổ (892 - 942; tại vị: 936 - 942) triều Hậu Tấn (936 - 947).
 
Còn 2 Bộ sử của Ngô Nhiệm Thần và Lương Đình Nam đều đã chép sự việc theo niên đại triều  Nam Hán (905 - 971). 2 Sử gia này đều ghi rõ trận Bạch Đằng xảy ra vào tháng 10, Mùa Đông năm thứ 11 Niên hiệu Đại Hữu (928 - 942) đời Cao tổ triều Nam Hán.
 
Sử thư Trung Hoa, và là Sử thư trứ danh, đã ghi rành rành là 'Mùa Đông' như vậy, tôi chẳng rõ tác giả 'The Birth of Vietnam' rồi căn cứ sách vở nào mà nói là 'Mùa Thu' như vậy?  
 
Sau cùng là 1 vấn đề địa lí.
 
'Tư Trị Thông Giám', 'Thập Quốc Xuân Thu' và 'Nam Hán Thư' đều chép rất rõ là khi ra lệnh Hoằng Tháo (Bộ 'Nam Hán Thư' ghi là Hồng Tháo) theo đường biển tiến chiếm đất Giao châu Nam Hán Cao tổ trú quân tại cửa biển để tiếp ứng.
 
'CỬA BIỂN', nguyên Hán văn chuyển qua âm Hán Việt là 'HẢI MÔN'. Nỗi khó khăn đáng kể khi đọc những tác phẩm cổ Trung Hoa nói chung, và Cổ Sử nói riêng, là trong 1 tác phẩm, có khi vài ba trăm trang, người đọc rồi chẳng hề thấy được 1 dấu phẩy - hoặc 1 dấu chấm - khả dĩ phân biệt câu này với câu kia, đoạn văn này với đoạn văn kia.........; lại nữa các tên riêng như Nhân danh, Địa danh... rồi cũng chẳng có 1 dấu hiệu nào để mà phân biệt với các chữ khác.
 
Chính vì lẽ đó mà ngày nay có những tác giả Trung Hoa đã bỏ công sức ra làm 1 công việc gọi là 'ĐIỂM HIỆU' (cũng còn gọi là 'HIỆU ĐIỂM') những tác phẩm của cổ nhân. Công việc này đại khái ngoài việc đính chánh những chữ, những câu in sai trong các Bản in cổ, cũng bao gồm các việc như chấm câu theo phương thức chấm câu ngày nay, phân biệt nhân danh, địa danh..... phân biệt bằng cách gạch 1 đường thẳng, hay 1 đường loăn quăn, tùy theo đó là nhân danh hay là địa danh, bên trái tên riêng đó.
 
Và, theo các Bản Điểm hiệu 'Tư Trị Thông Giám', 'Thập Quốc Xuân Thu' và 'Nam Hán Thư' của Trung Hoa Thư Cục 'Tiêu điểm Tiểu Tổ' ( của Từ Mẫn Hà, Chu Doanh và Lâm Tân Tông thì 'Hải Môn' là 1 'Địa danh'; có điều là Địa danh này ở đâu thì không 1 tác giả điểm hiệu nào trong số các tác giả kể trên chỉ rõ ra được.
 
Do đó cũng không lạ ngài tiến sĩ K.W. Taylor đã chuyển dịch 2 chữ 'Hải Môn' qua Anh ngữ là 'Sea Gate' và viết 'Hoa'. Nói K.W. Taylor đã trích dẫn 2 chữ này từ một người khác, hoặc có chuyển dịch thì cũng đã chuyển dịch từ Pháp văn hay Nhật văn thì đúng hơn - vì như đã thấy quá rõ, Taylor rồi có đọc 'Tư Trị Thông Giám' bao giờ đâu!
 
Tới đây có lẽ cũng cần sơ lược 1 vài giòng về cương vực Nam Hán.
 
Cương vực Nam Hán đã biến thiên qua nhiều thời kì. Cho tới năm 943, lãnh thổ Nam Hán gồm toàn cõi của tỉnh Quảng Đông + Trung bộ và Nam bộ tỉnh Quảng Tây + huyện Phú Ninh ở góc Đông Nam tỉnh Vân Nam hiện nay để sau đó, từ những cuộc chiến tranh với nước láng giềng là Sở (toàn tỉnh Hồ Nam + 2 mặt Bắc, và Đông Bắc tỉnh Quảng Tây hiện nay - lịch sử: 896 - 951)
 
Nam Hán đã mở rộng lãnh thổ về 2 mặt Bắc và Đông Bắc, để đến năm 954 cương vực quốc gia đã bao quát toàn tỉnh Quảng Đông + toàn tỉnh Quảng Tây (trừ huyện Thiên Nga ở một góc Bắc và huyện Toàn Châu ở 1 góc Đông Bắc) + 6 huyện ở mé cực Nam tỉnh Hồ Nam hiện nay, đó là các huyện Quế Đông, Vĩnh Hưng, Quế Dương, Lam Sơn, Nghi Chương, Nhữ Thành.
 
Tổng diện tích Quốc gia: trên 450,000 cây số vuông (csv.), trong đó Quảng Đông 210,000 csv. và Quảng Tây 230,000 csv.; đây là cương vực rộng nhất trong suốt 66 năm lịch Quốc gia này.
Kinh đô của Nam Hán đặt tại Phan Ngu, ngày nay là Thị xã Quảng Châu, tức Thủ phủ của tỉnh Quảng Đông.
 
Minh Di án:

Phan Ngu, hoặc Phan Ngung, nhưng vì không truy cứu, các sách Việt Nam đã theo âm đọc sai mà chép sai là Phiên Ngung.
Theo Tự điển 'Khang Hi' cũng như các bộ Từ điển 'Từ Hải', 'Từ Nguyên' thì chữ Phiên ở đây  phải  đọc âm Phan chứ không thể đọc âm Phiên.
 
Trở lại vấn đề 'Hải Môn'.

Căn cứ Địa Lí hành chánh thời Nam Hán thì không có địa danh nào là 'HẢI MÔN' hết - chỉ có 1 địa danh là 'Hải Môn Trấn' - 1 thị trấn nhỏ bên bờ sông Hợp Phố (tức Nam Lưu Giang) cách bờ biển hơn 20 cây số, thuộc Châu Thường Lạc (nay thuộc huyện Hợp Phố, tỉnh Quảng Tây).
Xác định Kinh tuyến/Vĩ tuyến 'Hải Môn Trấn':  Kinh độ 109 0 12' / Vĩ độ 21 0 41' 25''.
Coi bản đồ 8, trang 197, trong 'The Birth of Vietnam', thì điểm ghi 'Sea Gate' coi có vẻ như là 'Hải Môn Trấn' trên bản đồ Nam Hán. Nói 'có vẻ' vì bản đồ rất sơ lược, không Kinh độ/Vĩ độ, do đó không thể xác định 'Sea Gate' của ông rồi có đúng là 'Hải Môn Trấn'hay không?

Có điều, trên Bản đồ Nam Hán, nếu như đối chiếu 'Hải Môn Trấn' với đảo Hải Nam ở mé dưới thì có thể thấy 'Hải Môn Trấn' nằm trên 1 đường thẳng cắt ngang góc trái đảo này trong khi đó  trên bản đồ của Taylor điểm 'Sea Gate' lại lệch hẳn ra ngoài, về mé trái, đảo Hải Nam khá xa.
 
Và nếu đi thẳng vào vấn đề thì có thể nói 2 chữ 'Hải Môn' chép trong 'Tư Trị Thông Giám' và 'Thập Quốc Xuân Thu', cũng như 'Nam Hán Thư' rồi không phải là 'Hải Môn Trấn' nói trên.
 
2 chữ 'Hải Môn' ở đây chỉ là 1 danh từ chung, là 'Cửa Biển' nói chung mà thôi! Hoằng Tháo theo hải đạo tiến đánh Giao châu; và để tiếp ứng con mình theo ngã này Nam Hán  Cao tổ đã chuẩn bị chiến thuyền sẵn sàng tại 'cửa biển', sẵn sàng.
 
Í của Tư Mã Quang, Ngô Nhiệm Thần, Lương Đình Nam cũng chỉ giản dị có vậy! 3 Sử gia này không 1 người nào có 1 ghi chú nào, dù sơ lược, minh thị 'hải môn' là 1 địa danh hết; thậm chí trong Bản Chú giải 'Tư Trị Thông Giám' uyên bác của Sử học gia Hồ Tam Tỉnh (1230 - 1302) Nguyên triều (1279 - 1368) người ta cũng không biết gì hơn về 2 tiếng 'Hải Môn'. Trong đoạn  chép việc Ngô Quyền đem quân từ Ái châu ra Giao châu đã dẫn trước đây, về địa danh Ái châu Hồ Tam Tỉnh còn có vài giòng chú thích, trong khi 2 chữ 'hải môn' thì không 1 chữ nào.
 
Nam Hán là 1 quốc gia duyên hải, cửa biển rất nhiều, nhất là 1 dải Quảng Đông. Bây giờ chúng ta hãy nghe 1 người Quảng Đông nói về 'hải môn', về 'cửa biển', của cả 1 vùng đất nơi mình sinh trưởng:

'Nam Hải chi môn tối đa.Tòng Quảng châu nhi xuất giả viết Hổ Đầu Môn, tối đại; tiểu giả viết Hổ Điều, viết Kê Tháp, viết Kê Đề, viết Tam Môn, viết Đông Châu. Thử Trung lộ chi hải môn dã.

Tòng Đông Quan nhi xuất giả viết Nam Đình; tòng Tân An nhi xuất giả viết Tiểu Tam Môn, viết Đồn Môn, viết Cấp Thủy viết Trung Môn, viết Lí Ngư, viết Song Trợ, viết Nam Phật Đường, viết Bắc Phật Đường; tòng Tân Ninh nhi xuất giả viết Đại Kim, viết Tiểu Kim, viết Trại Môn, viết Quan Môn; tòng Huệ Lai nhi xuất giả viết Giáp Tí; tòng Triều Dương nhi xuất giả viết Hà Độ; tòng Trừng Hải nhi xuất giả viết Thủy Hú. Thử Đông lộ chi hải môn dã.
Tòng Tân Hội nhi xuất giả viết Nhai Môn, viết Tùng Bách; tòng Thuận Đức nhi xuất giả viết Hoàng Dương; tòng Hương Sơn nhi xuất giả viết Kim Tinh, viết Thượng Thập Tự, viết Hạ Thập Tự, viết Mã Lưu, viết Hoàng Kinh; tòng Ngô Xuyên nhi xuất giả viết Hạn Môn; tòng Hải Khang nhi xuất giả viết Bạch Cáp. Thử Tây lộ chi hải môn dã.
Phàm tam lộ, Đông khởi Triều châu, Tây tận Liêm, Nam tận Quỳnh, Nhai, giai hữu thủy trại dĩ  thủ. Thủy trại tại Triều giả viết Giá Lâm, tại Huệ viết Kiệt Thạch, tại Quảng viết Nam Đầu, tại Cao, Triệu Khánh viết Ân Dương, tại Lôi viết Bạch Cáp, tại Quỳnh viết Bạch Sa; phàm 6 Trại.
Lục trại chi thân địa, kì cảng thâm giả tại Nam Đầu hữu Đồn Môn, Phật Đường; tại Giá Lâm hữu Đông Sơn, Hạ Hà Độ, tại Ân Dương hữu Thần Điện, Mã Lưu; tại Bạch Cáp hữu Bắc Ải Đầu, khả bạc đại thuyền; dư tắc cảng thiển, dương trung hữu ám sa, đại thuyền bất lợi. Tại Bạch Sa hữu Thanh Lan khả bạc đại thuyền; nhược Bạch Sa dữ Vạn Châu kì cảng dịch thiển; Quỉ Khiếu Môn dịch hữu ám sa; tại Kiệt Thạch hữu Bạch Sa Hồ khả bạc đại thuyền. Dư cảng đa ngoại thiển nội thâm, nan ư xuất nhập; Kiệt Thạch vệ hải thạch tha hà, thuyền dị xung cái; Giáp Tí Môn kì cảng dịch thiển.
Cái hải phòng thậm nan, nhất ngộ cụ phong, thuyền vô loan bạc, mỗi đa phúc nịch; thuyền thiểu hựu nan thủ. Cố tất lượng các Trại quảng, hiệp trí thuyền, chi vi chi bị.'( Quảng Đông Tân Ngữ. Qu. II. Địa Ngữ. Hải môn). Có nghiã:                                        
 
Hải Môn . 'Cửa biển ở vùng Nam Hải rất nhiều.
Từ Quảng châu đổ ra là Hổ Đầu Môn, là cửa biển lớn hơn cả; còn các cửa nhỏ hơn có Hổ Điều, Kê Tháp, Kê Đề,Tam Môn, Đông Châu. Đây là những cửa biển ở ngã Trung lộ.
Từ huyện Đông Quan đổ ra là cửa Nam Đình; từ Tân An đổ ra thì có các cửa Tiểu Tam Môn, Đồn Môn, Cấp Thủy, Trung Môn, Lí Ngư, Song Trợ, Nam Phật Đường, Bắc Phật Đường; từ huyện Tân Ninh đổ ra có các cửa Đại Kim, Tiểu Kim, Trại Môn, Quan Môn; từ huyện Huệ Lai đổ ra có cửa Giáp Tí; từ huyện Triều Dương đổ ra có cửa Hà Độ; từ huyện Trừng Hải đổ ra có cửa Thủy Hú. Đây là những cửa biển ở ngả Đông lộ.
 
Từ huyện Tân Hội đổ ra có các cửa Nhai Môn, Tùng Bách; từ huyện Thuận Đức đổ ra có cửa Hoàng Dương; từ huyện Hương Sơn đổ ra là các cửa Kim Tinh, Thượng Thập Tự, Hạ Thập Tự, Mã Lưu, Hoàng Kinh; từ huyện Ngô Xuyên đổ ra là cửa Hạn Môn; từ huyện Hải Khang đổ ra là cửa Bạch Cáp. Đây là cửa biển ở ngã Tây lộ.
 
Tất cả 3 lộ, Đông khởi từ Triều châu, Tây tận ở Liêm châu, Nam tận ở Quỳnh châu, Nhai châu, lộ nào cũng có thủy trại để phòng thủ. Thủy trại ở Triều châu có trại Giá Lâm, tại Huệ châu có  trại Kiệt Thạch, tại Quảng châu có trại Nam Đầu, tại Cao châu, thuộc Triệu Khánh phủ, có trại Ân Dương, tại Lôi châu có trại Bạch Cáp, tại Quỳnh châu có trại Bạch Sa; tất cả gồm 6 Trại.
 
Trong phạm vi 6 Trại mà có hải cảng sâu thì trại Nam Đầu có các cảng Đồn Môn, Phật Đường; trại Giá Lâm có các cảng Đông Sơn, Hạ Hà Độ; trại Ân Dương  có cảng Thần Điện, Mã Lưu; trại Bạch Cáp có cảng Bắc Ải Đầu; thuyền lớn có thể đậu được trong các cảng vừa kể. Còn các   chỗ khác thì hải cảng cạn, lòng biển có cồn cát ngầm, bất lợi cho thuyền lớn. Ở trại Bạch Sa có vịnh Thanh Lan, thuyền lớn có thể đậu được; cũng trại Bạch Sa mà ở khoảng gần Vạn châu thì  hải cảng cũng cạn; cửa Quỉ Khiếu Môn cũng có cồn cát ngầm; trại Kiệt Thạch có Bạch Sa Hồ thuyền lớn đậu được. Còn những cảng khác thì đa số mé ngoài cạn, mé trong lại sâu, thuyền bè khó mà ra vào. Vùng biển chung quanh trại Kiệt Thạch đá ngầm lởm chởm, thuyền bè (ra vào)  dễ đụng phải; cửa Giáp Tí hải cảng cũng cạn.
 
Nhìn chung, việc phòng giữ vùng biển rất khó; [thuyền mà nhiều] thì mỗi lần gặp cuồng phong gió lốc mà không có vịnh để đậu, phần lớn thuyền rồi bị lật, bị đắm; còn thuyền ít thì khó mà  phòng thủ. Do đó, cần lượng định các thủy trại rộng, hẹp mà sắp đặt thuyền để phòng bị 1 cách thích đáng.'.
 
Tác giả bài văn có tựa đề 'Hải Môn' ('Cửa Biển') trên đây là Khuất Đại Quân (1630 - 1696), là 1 học giả đồng thời là 1 thi nhân nổi tiếng cuối triều Minh, đầu triều Thanh. Khuất Đại Quân sinh quán ngay tại huyện Phan Ngu, và nhà của ông cũng chẳng đâu xa, ngay bên bờ sông 'Ba La', 1 con sông nhỏ đổ ra Hổ Đầu Môn ( cửa biển lớn nhất Quảng Châu, như đã biết.
 
Như đã biết, cửa biển tỉnh Quảng Đông cửa nào cũng có 1 tên gọi, vậy mà tại sao những Sử gia uyên bác như Tư Mã Quang, Ngô Nhiệm Thần, Lương Đình Nam rồi đã không ghi chép lại tên cửa biển Nam Hán Cao tổ đã đóng quân, chờ tiếp ứng cho Hoằng Tháo? ( Điều này cũng rất là dễ hiểu: - vì Sử liệu khiếm khuyết cho nên cả 3 Sử gia nói trên đã chỉ chép 'cửa biển' một cách chung chung, 1 'cửa biển' nào đó trong những cửa biển Khuất Đại Quân đã kể.
 
Còn vấn đề Nam Hán Cao tổ đã đồn quân tại cửa biển nào, tôi không thảo luận ở đây, vì lẽ đây     không phải là chủ đích của phần này.
 
Và như vậy, 1 số tác giả điểm hiệu Sử thư Trung Hoa, cũng như 1 số học giả Đông / Tây rồi đã tưởng tượng ra 1 địa danh không hề có - 'HẢI MÔN'. Và ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor, vốn chỉ theo đuôi, có sai cũng là chuyện rất dĩ nhiên!
 
1 điểm sau cùng, điểm này 'Tư Trị Thông Giám' và 'Thập Quốc Xuân Thu'  không thấy chép.  'Nam
Hán Thư' căn cứ bộ 'Cửu Quốc Chí' (Qu. IX. Nam Hán.) đã chép là khi Kiểu Công Tiễn qua cầu cứu, Cao tổ Nam Hán liền sai đại tướng Lương Khắc Trinh (? - ?) chỉ huy quân tiền bộ qua Giao châu, còn Hồng Tháo chỉ huy quân chủ lực sẽ tiến liền theo sau. Kết quả: Hồng Tháo  bị Ngô Quyền bắt sống và giết ngay sau đó; Lương Khắc Trinh sống sót trở về.
 
Sự kiện nói trên, xin coi 'Nam Hán Thư': 
          

Quyển III. Bản kỉ 3. Cao tổ kỉ 2.
Quyển VIII. Liệt Truyện 2. Vạn Vương Hồng Tháo.
Quyển XI. Liệt Truyện 5. Chư thần Truyện 3. Lương Khắc Trinh.
Và cũng cần nói thêm là trước đó, vào năm thứ 3 Niên hiệu Đại Hữu (928 - 942) - tức năm 930 tháng 9, mùa Thu, Lương Khắc Trinh đã từng qua đánh Giao châu, thắng trận trở về; qua tháng sau đó, tháng 10, mùa Đông, Lương Khắc Trinh theo đường biển xâm nhập Chiêm Thành cướp vàng bạc, châu báu rồi trở về. ('Nam Hán Thư'. Qu. III. và Qu. XI., các Mục đã dẫn).
 
Ngoài ra, 'Nam Hán Thư' còn có 1 số chi tiết lí thú về  Lưu Cung và Lưu Hồng Tháo mà 2 Bộ Sử 'Tư Trị Thông Giám' và 'Thập Quốc Xuân Thu' không có.

Và Lương Đình Nam còn soạn 1 tác phẩm nữa là 'Nam Hán Thư Khảo Dị' bổ túc Bộ 'Nam Hán Thư', tham khảo những Sử thư, những Dư Địa chí của những Sử gia đi trước viết về triều Nam Hán... đối chiếu, phân tích đồng, dị giữa này để rút ra  những gì tường tận nhất và xác thực nhất về triều đại này.
                                                                          
Tới đây thì có lẽ chúng ta, nhất là 2 vị Hue-Tam Ho Tai và Truong Buu Lam, đã thấy rất rõ cái chân diện mục của cái gọi là 'work of meticulous scholarship', của cái rất ghê gớm được gọi là 'mine of historical sources', của 'The Birth of Vietnam'.
 
Nếu cuốn 'The Birth of Vietnam' mà là một 'work of meticulous scholarship' thì Phê bình của Hue-Tam Ho Tai đúng là 'RIDICULOUS', 'LUDICROUS', 'PREPOSTEROUS'........, hoặc là  1 thứ gì đó cũng '-OUS', '-OUS' như vậy, không thể nào nói khác hơn!    
 
Và nếu cuốn Sách của ông tiến sĩ Sử học K.W. Taylor mà là 1 'mine of historical sources' thì e rằng chữ 'mine' của Truong Buu Lam ở đây rồi không thể được hiểu là 'hầm mỏ' mà phải hiểu là 'MÌN'.
 
Là 'Mìn', vì đọc cuốn 'The Birth of Vietnam' thì cũng như đi vào 1 bãi mìn, rồi phải hết sức thận trọng - những mớ kiến thức quơ quào, vá víu, trúng cũng không biết, mà trật cũng không hay, trong sách rồi là 1 đống mìn cho những ai cứ ngỡ rằng, cứ yên trí rằng đây là những kiến thức đã được kê khảo một cách đúng mức và tận nguồn. Quờ quạng như Truong Buu Lam thì chỉ có mà banh xác!
Có lẽ, Hue-Tam Ho Tai và Truong Buu Lam cũng nên suy nghĩ lại về những lời phê bình thiếu 'Học Vấn' của mình, nên suy nghĩ về câu 'Học dĩ Tụ chi, Vấn dĩ Biện chi' trong 'Dịch Kinh'.
 
Có lẽ, 2 vị thuộc giới khoa bảng, bằng cấp đầy mình, lại dạy Đại học nữa. Có điều tất cả những thứ này không có nghĩa 2 vị muốn nói gì thì nói, muốn phán gì thì phán; nói 'Học Vấn' thì 2 vị nên cho chúng tôi thấy cái thực tài, thực học của quí vị, bằng không cái Bằng của quí vị nên để treo chơi trong phòng khách cho vui, như là 1 mảnh giấy lộn, chỉ khác 1 điều là mảnh giấy này đôi lúc cũng giúp quí vị gói được 'nồi cơm' của mình!
 
Và dĩ nhiên, những thiếu sót, những sai lầm loại tôi đã trưng dẫn, của K.W. Taylor, không phải chỉ có chừng đó! Và, cũng dĩ nhiên, tôi không thể ngồi lâu hơn để chỉ làm 1 chuyện rất lu bu là viết thêm 5, 7 chục trang, hay cả trăm trang nữa. Chỉ vài dẫn chứng thôi cũng đã đủ để có được nhận định về giá trị của cuốn 'The Birth of Vietnam'. Chỉ cần coi lối tham khảo tư liệu, sử liệu căn bản của K.W. Taylor, người ta thấy ngay ông đã chơi Trò 'Bịt mắt bắt dê'; và, từ 1 căn bản như vậy, những lí giải, những suy diễn của ông nhiều lúc rồi không khỏi có tính cách lệch lạc.
 
3/. Tuyển trạch Sử liệu.
 
Như đã chứng minh, K.W. Taylor vốn không tham khảo trực tiếp các nguồn Tư liệu, Sử liệu cổ Trung Hoa, những nguồn mà rồi ông cũng biết là căn bản, không thể thiếu cho việc nghiên cứu  Cổ sử Việt Nam; có thể nói trong rất nhiều trường hợp đây là những nguồn tài liệu duy nhất về Việt Nam cho tới thế kỉ thứ 10.
 
Nếu như K.W. Taylor đã không tham khảo trực tiếp các nguồn Tư liệu, Sử liệu đã đề cập ở trên thì làm gì có việc tuyển trạch Sử liệu, thì phần này hóa ra thừa?
 
Thừa mà rồi cũng không thừa, vì, tuy có thể không tham khảo trực tiếp 1 số Tư, Sử liệu nào đó nhưng ít nhất thì 1 người nghiên cứu thực sự cũng phải có một sự hiểu biết tương đối khả quan về 'Thư Mục Học' trong lãnh vực mình nghiên cứu.
 
Nhưng, coi phần 'Thư Mục Tham Khảo' - Mục những tác phẩm Hán Văn của Trung Hoa - của cuốn 'The Birth of Vietnam', coi số lượng Tư liệu, Sử liệu, coi Thư loại K.W. Taylor biết được cũng như coi cách ghi Thư mục, nhà xuất bản... thì tôi có thể khẳng định là K.W. Taylor rồi đã rất mù mờ về Thư Mục học cổ Trung Hoa. Coi 'Mục' này, tôi có cảm tưởng là K.W. Taylor đã liệt kê các tác phẩm cho có, 1 thái độ thiếu đứng đắn của 1 người nghiên cứu đúng nghĩa, khác hẳn cách ghi cẩn thận của ông ở Mục những 'Nguồn Tư liệu Phụ' ('Secondary Sources').
 
Một điều rất sơ đẳng khi ghi Thư mục là phải ghi tên tác giả.Thư tịch cổ Trung Hoa có những tác phẩm rất nổi tiếng, việc ghi danh tánh tác giả trong những trường hợp này, đôi lúc, cũng chẳng có gì bắt buộc lắm. Tuy nhiên, danh tánh tác giả thì có thể không ghi nhưng tên người chú giải tác phẩm thì không thể không ghi.
 
Kinh điển Trung Hoa nói chung rất khó đọc, do đó, nếu không có những Bản Chú giải thì cũng khó mà thấu đáo văn nghĩa, khó mà nắm được những gì ở 'tại ngôn ngoại', cũng vì lẽ đó mà có rất nhiều tác phẩm cổ rồi đã gắn liền với những tác giả chú giải những tác phẩm đó; chẳng hạn,  khi nói 'Lễ Kí' thì phải nói đến 'Lễ Kí Tập Giải' - Bản chú giải tinh tường hơn hết của học giả Tôn Hi Đán (1736 - 1784); nói 'Sơn Hải Kinh', nói 'Nhĩ Nhã' thì người am tường thư mục cổ liền nghĩ ngay tới 'Sơn Hải Kinh Tiên Sớ', nghĩ ngay tới 'Nhĩ Nhã Nghĩa Sớ', là 2 bản chú giải tinh thâm, uyên bác của học giả Hách Í Hạnh (1755 - 1823); và nói 'Hậu Hán Thư' thì người ta nghĩ ngay đến Bản chú giải trứ danh của học giả Vương Tiên Khiêm (1842 - 1917) - đó là Bản 'Hậu Hán Thư Tập Giải'; và rồi, nói về bộ Địa Lí học trứ danh 'Thủy Kinh Chú' thì không thể không tìm cho được Bản chú giải 'Thủy Kinh Chú Sớ' của Dương Thủ Kính (1839 - 1915) và Hùng Hội Trinh (   - 1936) hợp chú.
 
Về 1 tác phẩm cổ nào đó, chỉ cần coi 1 người đã tham khảo Bản Chú giải nào thì người ta cũng có thể có được 1 nhận định tương đố chính xác về 'Học Vấn' của người đó. Ngoài ra, thời đại của tác giả cũng như của tác giả chú giải tác phẩm... cho tới tác phẩm do nhà xuất bản nào in, in năm nào..., trong 1 số trương hợp, cũng là những điểm cần được nêu rõ.
 
Đã mù mờ về Thư Mục học thì sao có thể biện biệt được Tư liệu và Sử liệu người khác sử dụng Bản nào hay, Bản nào kém để mà dẫn dụng cho thích đáng. Một môn học nhập môn của người nghiên cứu mà K.W. Taylor còn không rành thì còn nói được chuyện gì đây?
 
Người Việt Nam thường nói làm nhà thì phải đắp nền. 19 năm trước đây (năm 1976), K.W. Taylor đã đắp 1 cái nền cho 'The Birth of Vietnam'. Sau đó, trong 7 năm, K.W. Taylor lại dập thêm cho nó chắc để xây cho rộng hơn, cao hơn; tiếc là cái nền đầu tiên đã đắp bằng cát, bây giờ có dọng, có dập mấy đi nữa thì nó vẫn cứ phập phà phập phều,chuồi đầu này, lún đầu kia, để rồi những gì xây thêm trên đó vẫn ọp à, ọp ẹp, gục gà gục gặc, có người đụng tới là sập liền!                                                                     
Ngoài phần khảo cổ học của ngài tiến sĩ K.W.Taylor.
 
Ngay câu đầu tiên của phần 'Đề Tựa' ('Preface') cuốn 'The Birth of Vietnam',K.W. Taylor còn gián tiếp cho biết thêm lập trường chính trị của cá nhân ông, nên ông đã nhân danh một cựu quân nhân trên bãi chiến trường Việt nam đã viết như sau:
 
'As an American soldier in Vietnam, I could not help being impressed by the intelligence and resolve of the Vietnamese who opposed us...'.
 
Ủa, thì ra chỉ có những người Việt Nam 'đối đầu' với người Mĩ của ngài tiến sĩ Keith Weller Taylor mới 'thông minh và quả cảm' vậy sao? Vậy thưa ông quân nhân K.W. Taylor còn những người Việt Nam bên nầy Vĩ tuyến 17, những người đã từng sát cánh chiến đấu với ông, chống lại cái đám người thông minh và quả cảm kia rồi là cái gì đây? Há lẽ chỉ là 1 đám ngu đần, tham lam, khiếp nhược?
 
Xin ông quân nhân Mỹ K.W. Taylor đừng nhìn chúng tôi, những người ở bên nầy vĩ tuyến 17, qua những Tên lãnh đạo quốc gia xôi thịt, cam tâm làm chó săn cho người Mĩ các ông để được phè phỡn, được quyền dung túng tay chân của mình buôn lậu ma túy, ăn hối lộ, đừng nhìn chúng tôi qua những tên tướng khiếp nhược. Xông pha chiến trận thì chẳng lúc nào sẵn sàng, chứ thị sát chiến trường với bộ quân phục thật thẳng, giầy trận thật bóng, gậy quơ quơ trong tay cứ chỉ chực gõ đầu lính thì buổi nào cũng sẵn sàng!
 
Chắc hẳn ông cũng đã thấy ngờ ngờ ngay trang giữa 1 số 'Paris Match' năm nào hình của 1 tên lãnh đạo quốc gia chúng tôi ngồi đọc báo, mé sau y là 1 cái Chuồng gà Chọi, với giòng ghi chú mỉa mai là 'Chuồng gà của ông ta đáng cả một gia tài'. Ôi, những người bạn của ông sao không biết nhục!
 
Những đám sâu dân mọt nước trên đây có thể đại diện cho mấy chục triệu con người ở bên đây vĩ tuyến 17 được chăng? Nếu như ông quân nhân tiến sĩ K.W. Taylor vơ hết nắm đủa thì tội quá!
 
20 năm sau chiến tranh súng đạn (1975 - 1995), rồi chẳng riêng gì K.W. Taylor, thế giới rồi đã quá rõ về sự 'thông minh và quả cảm' của cái đám người dám 'chống lại' người Mĩ, với những súng AK của Tiệp Khắc, với những xe Tăng T54 của Liên Sô, và với lương thực của Cộng Sản Trung Quốc kia!

Thông minh đến đỗi bây giờ đất nước Việt Nam là 1 trong những nước nghèo đói nhất thế giới!

 
Thời cổ đất nước chúng tôi đâu phải là không có những cuộc chiến tranh khốc liệt, nhưng chưa bao giờ - xin ông tiến sĩ Cổ sử học Việt Nam K.W. Taylor nhớ cho - chưa bao giờ sự hồi phục  của đất nước sau chiến tranh lại quá trì trệ quá sức tưởng tượng như vậy!
 
Và, cũng xin nhắc ông K.W. Taylor, bây giờ là thời đại của 'Gia Tốc Tiến Hóa', do đó 20 năm của đám người 'thông minh' này nếu đưa ngược về thời cổ thì có lẽ tiền nhân chúng tôi đến phải mất khoảng 1 vài trăm năm mới kiến thiết lại được Đất nước. 'Cái miệng thông minh' của họ có nói gì đi nữa, ông có cố gắng biện hộ gì cho họ đi nữa, tôi cũng chỉ lấy Lịch Sử đất nước chúng tôi mà biện luận, tôi nghĩ đó là công bình nhất!
 
Còn cái quả cảm của họ là dám làm những điều mà tiền nhân chúng tôi chưa bao giờ, và không bao giờ dám làm. Họ nhất định nắm giữ quyền hành cho riêng họ, và con cháu họ một cách hết sức là 'quả cảm'. Và có lẽ rằng ông cũng đã thấy, họ đã dám vác bị gậy đi ăn mày các quốc gia  giàu có, bất kể Âu, Á, cũng rất là quả cảm! Họ đã quả cảm như vậy, tôi còn biết nói gì hơn!
 
Theo í ngu của tôi thì ông nên viết 1 cuốn sách nữa nói riêng về cái thông minh và quả cảm mà tôi phải nói là 'tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giả' này của cái đám người mà mỗi khi nhắc tới là đất nước chúng tôi phải gục đầu, muôn đời, vì lẽ cái thông minh và quả cảm này rồi sẽ là 1 đoạn trong giòng Lịch Sử đất nước chúng tôi.
 
Kiến thức về Cổ sử Việt Nam của K.W. Taylor thì chẳng có gì đáng nói, đáng nói chăng là câu mở đầu nói trên của ông. Đáng nói hơn nữa là cũng chính vì cái thiên kiến về 1 đám người ông cho là thông minh, quả cảm, đã xui ông đi làm 1 chuyện ngoài tầm với, lí lẽ cuối cùng của ông do đó không nói cũng đủ rõ là sẽ đi theo chiều hướng nào.

  • Kết luận phần một.

K. W. Taylor muốn làm một Sử gia, nhưng rất tiếc lại thiếu Tài, thiếu Học, thiếu Thức - nhất là   thiếu cái Tâm  Thuật để thành 1 Lương sử. Tài + Học + Thức + Tâm Thuật là 4 yếu tố của điều  mà Sử học lí luận gia trứ danh Chương Học Thành (1738 - 1801) gọi là 'Sử Đức'. Đáng tiếc!
 
Tuy nhiên, 'The Birth of Vietnam' không phải là không có những điều khả thủ, dù rất hiếm; có điều nếu phải đọc 1 cuốn Sách, nhất là 1 cuốn Sử, mà trong đó Đúng/Sai lẫn lộn, và phải nói là Sai nhiều hơn Đúng, như bộ Sử 'The Birth of Vietnam', thì đây là 1 bất lợi cho những người có 1 hiểu biết vừa phải về Cổ sử Việt Nam.
 
Minh Di.
Viết tại Bất Túc Trưng Thư Trai.

Ất Hợi (1995).

Cao nguyệt đại.

Thập Nhị nhật. Mang Chủng hậu tam nhật.

Nói Có Sách Hán Văn:
 
[1]. Hậu Hán Thư Tập Giải. 
Lưu Tống. Phạm Việp.

Thanh. Vương Tiên Khiêm tập giải.

Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1984 / Sơ.

[2]. Tư Trị Thông Giám.
Triệu Tống. Tư Mã Quang.

Nguyên. Hồ Tam Tỉnh chú.

Trung hoa Thư Cục (TQ)      1987 / 7.

[3]. Cửu Quốc Chí.
Triệu Tống. Lộ Chấn.

Bút Kí Tiểu Thuyết Đại Quan Bản.

Giang Tô Quảng Lăng Cổ Tịch Khắc Ấn Xã      3/1984 / Sơ.

[4]. Thập Quốc Xuân Thu.
Thanh. Ngô Nhiệm Thần.

Từ Mẫn Hà & Chu Doanh điểm hiệu.

Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1983 / Sơ.

[5]. Nam Hán Thư.

[6]. Nam Hán Thư Khảo Dị.
Thanh. Lương Đình Nam.

Lâm Tân Tông hiệu điểm.

Quảng Đông Nhân Dân Xuầt Bản Xã      1981 / Sơ.

[7]. Quảng Đông Tân Ngữ.
Thanh. Khuất Đại Quân.

Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1985 / Sơ.

[8]. Văn Sử Thông Nghĩa.
Thanh. Chương Học Thành.

Chương Học Thành Di Thư Bản.

Văn Vật Xuất Bản Xã (TQ)      1985 / Sơ.

[9]. Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập.
(Ngũ Sách: Tùy. Đường. Ngũ Đại Thập Quốc thời kì).

Đàm Kì Tương chủ biên.

Địa Đồ Xuất Bản Xã (TQ)      1982 / Sơ.

[10]. Lễ Kí Tập Giải.
Thanh. Tôn Hi Đán tập giải.

Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1989 / Sơ.

[11]. Kinh Truyện Thích Từ.
Thanh. Vương Dẫn Chi.

Nhạc Lộc Thư Xã (TQ)      1984 / Sơ.

[12]. Cổ Đại Hán Ngữ Hư Từ Loại Giải.
Trần Hà Thôn.

Sơn Tây Giáo Dục Xuất Bản Xã      1992 / Sơ.

[13]. Khang Hi Tự Điển.
Thanh. Thánh Tổ (Khang Hi) sắc soạn.

Cao Thụ Phiên trùng tu.

Lăng Thiệu Văn đẳng toàn tu.

Trương Thư Ngọc đẳng tổng duyệt.

Linh Kí Xuất Bản Hữu Hạn Công Ti (HC)      1981 / Sơ.

[14]. Từ Hải (Hợp Đính Bản. 1947 Bản).
Dân Quốc. Thư Tân Thành, Từ Nguyên Cáo, Trương Tướng chủ biên.

Trung Hoa Thư Cục (HC)      1983 / Trùng ấn.

[15]. Từ Nguyên (Tu đính Súc ấn Hợp đính Bản).
Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Hà Nam Tu đính Tổ.

Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC)      1987 / Sơ.

Đọc tiếp Phần 2 : Trò "Bịt Mắt Bắt Dế" của ông bà tiến sĩ thời nay

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đào Như

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Liên hiệp quốc

a

Lý Đại Nguyên

a

Mai Thanh Truyết

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thiếu Nhẫn

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Nguyễn Văn Hoàng

a

Lm. Nguyễn Văn Lý

a

Phạm Đình Hưng

a

Ht. Thích Quảng Độ

a

Ht. Thích Thiện Minh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Saturday, 29 January, 2011 23:40