Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo Lịch sử

Minh Di

Tên tự - Tên hiệu

Phần 3
  

IV. Tự và Hiệu của Danh nhân Việt Nam

Phần này luận giải Danh / Tự và tên Hiệu của một số nhân vật Lịch sử Việt Nam tiền đại và 1 số vài nhân vật hữu danh thời cận đại.
- Nhân danh được xếp theo thứ tư. Niên đại.
- Để tiện duyệt tra Danh / Tự của nhân vật ở đây sẽ được ghi chú rõ thuộc trường hợp nào trong những trường hợp đã phân tích, trích dẫn, trước đây; nếu là các trường hợp Lục Dĩ Điềm đề cập tôi sẽ ghi trước mỗi số mục chữ L, chẳng hạn L1, L2, L3....
- Còn nếu là những trường hợp tôi đã nhận xét thì sẽ được ghi chữ M, như M2, M3, M6....
- Nếu như có trường hợp nào trước đây chưa luận cập, tôi sẽ có vài giòng phụ chú.
                                                                           *
1). Mạc Đỉnh Chi ( ? - ? ), Tự là Tiết Phụ
Đỉnh Tiết có nghĩa là giữ vững tiết tháo.
Ở đây, 1 chữ của Danh (Đỉnh) phối với 1 chữ của Tự (Tiết) mà thành 1 nghĩa nhất định - đây là 1 dạng của trường hợp M7.
Sử học gia Âu Dương Tu đã luận như sau về con người Đỗ Phủ (712 - 770):
- 'Sổ thường khấu loạn, đỉnh tiết vô sở ô. Vi ca thi thương thời náo nhược....'.
    /  Tân Đường Thự Qu. CCI. Liệt truyện 126. Đỗ Thẩm Ngôn - Phụ: Đỗ Phủ  /.
- 'Trải bao cảnh đời giặc giã, loạn lạc mà vẫn giữ vững tiết tháo phẩm cách, chẳng hề ô nhiễm! Thi ca của ông có nét thương cảm, ngậm ngùi trước thời thế suy đồi....'.
Mạc Đỉnh Chi là người ở khoảng trung kỳ thời Trần (1225 - 1400), đậu Trạng nguyên năm 1304 đời Trần Anh tông (1276 - 1320; tại vị: 1293 - 1314), làm quan trải 3 triều Anh tông, Minh tông (1301 - 1358; tại vị: 1314 - 1329) và Hiến tông (1319 - 1341; tại vị: 1329 - 1341).
Ngoài tài văn chương, ông còn rất nổi tiếng về tiết tháo.
2). Phan Phu Tiên (? - ?), Tự là Tín Thần.
Chữ 'Phú ở đây là chữ 'Phú trong Quẻ Trung Phu (Tốn / Đoài). 'Phú có nghĩa là 'Tin cậý:
Chu Dịch. Tạp Quái:
- 'Trung Phu, Tín dá.
- '(Quẻ) Trung Phu, là Tin'.
1 bộ phận của Danh (Phu) và Tự (Tín) cùng xuất 1 nguồn. Trường hợp M2(a).
Phan Phu Tiên (chữ 'Phú, có sách chép sai là 'Phú), tác gia? Bộ 'Đại Việt Sử Kí Tục Biên', là người khoảng cuối Trần triều (1225 - 1400).
3). Lí Tử Tấn (1378 - 1457 ?), Tự là Tử Tấn.
Lấy Danh làm Tự, trường hợp L4.
Danh thần thời Hậu Lê (1428 - 1527). Trong thời kì 10 năm kháng Minh (1418 - 1427) ông theo Lê Lợi (1385 - 1433; tại vị: 1428 - 1433) phụ trách việc văn cảo.
4). Lương Như Hộc (? - ?), Tự là Tường Phủ.
Hộc (Danh) là con Ngỗng trời.
Tường Phủ (Tự): Tường nghĩa là bay lượn, xoè cánh - chữ Phủ ở đây là hư ngữ.
Tự diễn tả 1 hành vi, 1 động tác của danh: Trường hợp M5.
Như Hộc có nghĩa là 'Như Con Ngỗng trờí. Về í nghĩa cũng như hình ảnh của Ngỗng trời tôi đã nói rất tường tận trong bài 'Hương Quan Hà Xự
Chữ 'Hộc', có người nghĩ rằng chữ Hộc sai, cho nên đã tự í sửa 'Hộc' thành 'Học' để rồi viết là Lương Như Học. Ngoài ra, có người cũng ghi là Lương Nhữ Hộc - Tất cả đều do nơi không hiểu tương quan Danh / Tự của cổ nhân mà sửa bậy, sửa bạ như vậy.
Lương Như Hộc từng đi Sứ Trung Hoa 2 lần vào các năm 1443 và 1459. Tương truyền ông đã là người đầu tiên đưa nghề in từ Trung Quốc về Việt Nam.
5). Nguyễn Trực (1417 -1473), Tự là Công Đĩnh.
Trực (Danh) nghĩa là 'ngay thẳng'. Công Đĩnh (Tự), Công là 'chung', Đĩnh là 'đứng thẳng'.
Người 'ngay thẳng' hành vi lúc nào cũng không có í riêng tư, lúc nào cũng thẳng thắn.
Tên Tự giải thích í nghĩa của Danh, đây là 1 dạng của trường hợp M5.
Nguyễn Trực đậu Trạng nguyên năm 1442. Ông từng đi sứ Trung Quốc, nhưng chưa rõ năm nào trong khoảng từ 1442 tới năm 1448. Trong khoảng này mỗi năm 'An Nam' đều vào 'nhập cống', và các năm 1457, 58, và 1460, 61, 63, 66, 69, rồi 1471, 72. 
6). Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), Tự là Hanh Phủ.
Chu Dịch. Quẻ Khiêm (Khôn / Cấn), Quái từ:
- 'Khiêm, hanh, quân tử hữu chung.'.
- 'Khiêm tốn thì mọi việc sẽ xuông xẻ, quân tử do đó sẽ có kết cục tốt'.
Đây là trường hợp M2(a).
Chữ Phủ trong tên Tự ở đây, cũng như chữ Phủ trong tên Tự của Lương Như Hộc, là 1 hư từ.
Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên Hiệu 'Bạch Vân Cư Sí. Thời thế loạn, ông từ quan về sống ẩn dật và lấy tên Hiệu này. Bạch Vân, như đã biết, là hình ảnh của sự ẩn cư, nơi ẩn cự
(Về hàm ý của 2 tiếng Bạch Vân: Coi bài 'Hương Quan Hà Xư). 
7). Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613), Tự là Hoằng Phụ
Danh Khoan là Rộng lớn. Khắc là 'đảm nhiệm, gánh vác'. Tên Tự là Hoằng nghĩa là Mở rộng.
Danh, Tự đồng nghĩa: Trường hợp M1.
8). Lê Quí Đôn (1726 - 1784), Tự là Doãn Hậu.
2 chữ Đôn và Hậu đồng nghĩa: Trung hậu, thành thực.
Quí Đôn: Trọng sự trung hậu. Doãn Hậu: Sử dụng lòng thành thực.
Danh, Tự đồng nghĩa, đây là trường hợp M1.
9). Lê Quang Định (1760 - 1813), Tự là Tri Chỉ.
Sách 'Đại Học' nói:
- 'Tri chỉ nhi hậu hữu định'.
                                           /  Đại Học. 01  /.
- 'Biết tới nơi tới chốn thì sau (chí hướng) mới định'.
Danh (Định) và Tự (Tri Chỉ) cùng xuất 1 nguồn. Trường hợp M2(a).
Lê Quang Định là người đầu triều Nguyễn (1802 - 1884).
10). Nguyễn Du (1765 - 1820), Tự là Tố Như, và Hiệu là Thanh Hiên.
Hứa Thận (30 - 124), Văn tự học gia thời Đông Hán (25 - 220), viết:
- 'Dụ Hành thủy dã. Tòng Phốc, tòng Nhân; Thủy tỉnh'.
                                                   /  Thuyết Văn Giải Tự. Qu. III. Hạ  /.
- 'Dụ Nước chảy. Chữ gồm chữ Phốc, chữ Nhân; Bộ Thủy tỉnh lược'.
Tố Như. Tố nguyên nghĩa là loại vải trắng tinh.
Suy diễn, Tố có nghĩa trong trắng, thanh khiết.
Như là trợ từ, không có nghĩa.
Và về tên Hiệu.
Thanh Hiên: Thanh có nghĩa là Trong, trái với Đục. Và Hiên có nghĩa Nâng cao, đưa cao lên.
Thanh Hiên, như vậy, hàm í Thanh cao.
Tóm lại, Tự cũng như Hiệu diễn tả 1 số tính chất nào đó của Danh.
Và ở đây là các tính chất Sạch (Tố), Trong (Thanh) của Giòng Nước chảy (Du).
Cách lấy tên Tự, tên Hiệu của tác giả 'Truyện Kiềú, cũng như của Lương Như Hộc kể trước đây có thể liệt chung trong một trường hợp trong đó Tự, Hiệu diễn tả động tác, hành vi, tính chất...... của Danh, và, như đã biết, đây là trường hợp M5.
11). Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858), Tự là Tồn Chất, Hiệu là Ngộ Trai, Biệt Hiệu là Hi Văn.
Trứ là Sáng sủa, Rõ ràng, Rực rỡ.
Sách 'Luận Ngứ (Ung Dã. 16) nói:
- 'Tử viết: Chất thắng văn tắc dã, văn thắng chất tắc Sử; văn, chất bân bân nhiên hậu quân tứ.
- 'Thầy nói: Cái chất phác trội hơn cái văn vẻ thì quê mùa, cái văn vẻ trội hơn cái chất phác thì như quan chép Sử; văn vẻ và chất phác có ngang ngang nhau thì đây mới là quân tứ.
Văn là vẻ lỗng lẫy, hào nhoáng, trau chuốt bên ngoài. Và như vậy, Văn và Trứ nghĩa đồng.
Hào nhoáng, trau chuốt bên ngoài quá đáng thì đến chẳng khác quan chép Sử, biết nhiều nhưng lại thiếu cái tâm thành thực; và tâm thành thực đây chính là sự chất phác.
Do đó Nguyễn Công Trứ lấy tên Tự là Tồn Chất, nghĩa là 'giữ lại cái chất phác', nói khác đi, đã 'Trư nên cần phải 'Tồn Chất' để đạt tới độ hài hòa 'Văn, Chất bân bân'.
Cổ nhân tu thân rất nghiêm cẩn, kể cả trong ý hướng, các vị rất mực thận trọng đối với những gì thái quá cũng như bất cập, nhất là những gì phù phiếm, giả tạo mặt ngoài.
Chương cuối cùng sách 'Trung Dung' đã luận rõ điểm này:
- 'Ý cẩm thượng quính, ố kì văn chi trứ dá.
- 'Mặc áo gấm lại khoác áo vải gai bên ngoài, là vì ghét cái vẻ rực rỡ của nọ
Về tên Hiệu Hi Văn thì có 2 giải thích: - 1 liên quan đến Danh, và 1 liên quan tới hoài vọng của Nguyễn Công Trứ.
(a). Như đã biết, vì 'ngạí cái Danh 'Trư của mình cho nên Nguyễn Công Trứ đã chọn tên Tự là Tồn Chất - Nhưng, điều này như cũng chưa đủ sao đó ông lại gia 2 tiếng 'Hi Văn' để hỗ trợ cho tên Tự 'Tồn Chất'. Hi nghĩa là 'hiếm, ít'; Hi Văn nghĩa là 'ít văn vé.
(b). Vào sơ kì thời Bắc Tống (960 - 1127) ở Trung Quốc có một nhân vật tài kiêm văn võ, đức độ lại hơn người tên là Phạm Trọng Yêm (989 - 1052).
Phạm Trọng Yêm có 1 bài Kí hết sức trứ danh về Nhạc Dương Lâu, tông chỉ hành xử của ông đã được tóm lại trong đoạn cuối của bài Kí này:
- 'Cư miếu đường chi cao tắc ưu kì dân, xử giang hồ chi viễn tắc ưu kì quân, thị tiến dịch ưu thoái dịch ưu. Nhiên tắc, hà thời nhi lạc giả
Kì tất viết: - 'Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc dử!''.
Nghĩa là:
- 'Ở địa vị cao trọng tại triều đình thì lo cho dân, ở địa vị thấp, nhỏ tại các địa phương xa xa thì lo cho vua, tóm lại là, tiến cũng lo mà thoái cũng lo. Như vậy thì chừng nào mới vui đây?
Phải chăng đó là: - Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ?!''.
Hẳn Nguyễn Công Trứ rất phục công nghiệp, cũng như đức độ của Phạm Trọng Yêm cho nên đã lấy tên Tự của Phạm Trọng Yêm, là Hi Văn, để làm Biệt Hiệu của mình.
Tóm lại, qua tên Tự, Nguyễn Công Trứ tự nhận là Quân tử, và qua Biệt Hiệu ông cũng nhất định không chịu kém người xưa về tài kinh luân, thao lược. Cuộc đời ông rồi đã tỏ rõ điều này.
Tự cũng như Hiệu của Nguyễn Công Trứ là loại Danh / Tự tương phản, tức trường hợp M4.
12). Hà Tông Quyền (1798 - 1839), Tự là Tốn Phủ.
Chu Dịch. Hệ Từ Hạ, Chương VII:
- 'Tốn dĩ hành quyền'.
- 'Tốn (là thuận theo để) hành động cho hợp lẽ quyền biến'.
Trường hợp M2(a).
13). Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872), Tự là Tốn Ban.
Tốn Ban có nghĩa là 'Nhường bước, lui bước để ngang bằng ngườí, tỏ í khiêm cung, không dám lấn lướt người.
Danh / Tự tương phản, tức trường hợp M4.
14). Cao Bá Quát (? - 1854), tên Tự là Chu Thần, và tên Hiệu là Mẫn Hiên.
Chu Thần: Bề tôi của Chu triều.
Sách 'Luận Ngứ (Vi Tử. 11) chép:
- 'Chu hữu bát sĩ:
Bá Đạt - Bá Quát - Trọng Đột - Trọng Hốt - Thúc Dạ - Thúc Hạ - Quí Tùy - Quí Oá.
- 'Chu triều có 8 người hiền năng (là):
Bá Đạt - Bá Quát - Trọng Đột - Trọng Hốt - Thúc Dạ -Thúc Hạ - Quí Tùy - Quí Oá.
Đây là 8 anh em ruột. Theo truyền thuyết, mẹ của 8 người này có 4 vú.
Trường hợp lấy tên Tự của Cao Bá Quát chính là trường hợp M2(b), chỉ khác đi 1 chi tiết nhỏ là  Danh là nguyên văn trong sách, còn Tự là chữ tương đương (chữ Thần, thay vì chữ Sĩ).
Trước đây, trước 1975, hầu hết các Sách Giáo khoa Việt văn bậc Trung học, kể luôn những sách viết về Cao Bá Quát, đều chép tên Tự ông là Mẫn Hiên, tên Hiệu ông là Chu Thần; bên cạnh đó  cũng có 1 vài cuốn Giáo khoa hiếm hoi đã ghi ngược lại:
- Cao Bá Quát tên Tự là Chu Thần, và tên Hiệu là Mẫn Hiên.
Nhưng rồi, cũng chẳng người viết nào của cả 2 phía đưa ra được 1 giải thích cho thực chính xác tại sao lại có điểm trái ngược kể trên về tên Tự và tên Hiệu của Cao Bá Quát. Cũng có người đã từng thắc mắc, để rồi, nhìn quanh vẫn không thấy được giải đáp cho nên đã 'tùy tiện' cho đây là 1 'nghi vấn văn học'.
Tất cả rồi không ngoài nguyên do không hiểu nguyên tắc đặt tên Tự, tên Hiệu của người xưa.
Đã không rõ nguyên tắc lấy tên Tự, tên Hiệu của cổ nhân, đồng thời lại cho là sự trái ngược này không quan trọng, cho nên trước đây ở học đường người ta cũng đã dạy học sinh một cách rất là tùy tiện, Cao Bá Quát, tên Tự là Chu Thần cũng được, mà tên Tự là Mẫn Hiên cũng chẳng sao!
Và bây giờ, căn cứ nguyên tắc đặt tên Tự, tên Hiệu của cổ nhân tôi đã phân tích cặn kẽ, tôi đính chính như sau:
- Cao Bá Quát, tên Tự là Chu Thần, và tên Hiệu là Mẫn Hiên.
Ở đây có lẽ cũng cần thêm vài giòng về tên Hiệu của Cao Bá Quát.
Cao Bá Quát, Hiệu là Mẫn Hiên.
Như đã dẫn trước đây, trong tập Bút kí 'Liễu Nam Tùy Bút', Vương Ứng Khuê cho biết là trong tên Hiệu của cổ nhân người ta thường thấy các chữ Am, Trai, Hiên, Đình. Đây là 1 định lệ - và điều hiển nhiên ở đây là Cao Bá Quát khi lấy tên Hiệu cũng đã theo định lệ này.
Định lệ trên đây của việc lấy tên Hiệu có thể thấy rất nhiều nơi các danh nhân Việt Nam, dẫn ra 1 số như sau:
1/. Tên Hiệu có chữ Am.
Lí Tử Tấn, Hiệu là Chuyết Am.
Nguyễn Công Hãng (1680 - 1732), Hiệu là Tĩnh Am.
Nguyễn Cư Trinh (1716 - 1767), Hiệu là Đạm Am.
Bùi Huy Bích (1744 - 1818), Hiệu là Tồn Am.
Phan Huy Ích (1750 - 1822), Hiệu là Dụ Am.
Phan Huy Ôn (1755 - 1786), Hiệu là Chỉ Am.
2/. Tên Hiệu có chữ Trai.
Nguyễn Trãi (1380 - 1442), Hiệu là Ức Trai.
Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613), Hiệu là Nghị Trai.
Ngô Thời Ức (1690 - 1736), Hiệu là Tuyết Trai.
Lê Quang Định (1760 - 1813), Hiệu là Tấn Trai.
Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825), Hiệu là Cấn Trai.
Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858), Hiệu là Ngộ Trai.
3/. Tên Hiệu có chữ Hiên.
Phan Phu Tiên (? - ?), Hiệu là Mặc Hiên.
Đặng Minh Khiêm (1450 - 1522), Hiệu là Thoát Hiên.
Vũ Cán (1475 - ?), Hiệu Tùng Hiên.
Nguyễn Hãng (? - ?), Hiệu là Nại Hiên.
Ông là người cuối triều Hậu Lê (1428 - 1527), đầu triều Mạc (1527 - 1592).
Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775), Hiệu là Nghị Hiên.
Nguyễn Du (1765 - 1820), Hiệu là Thanh Hiên.
4/. Tên Hiệu có chữ Đình.
Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872), Hiệu là Phương Đình.
Nguyễn Thuật (1842 - 1904 hồi hưu), Hiệu là Hà Đình.
Ngày 8 tháng Chạp năm Nhâm Ngọ (16 tháng 01 năm 1883), Nguyễn Thuật theo sắc dụ của vua Tự Đức (1829 - 1883; tại vị: 1847 - 1883) sung chức Phó Sứ trong Sứ bô. Việt Nam, lên đường đi Sứ Trung Quốc, đến Thiên Tân gặp Lí Hồng Chương (1823 - 1901) bên Thanh triều - bấy giờ là Tổng đốc Trực Lệ, kiêm Bắc Dương Đại thần, nắm trong tay mọi quyền hành Chính trị, Quân sự cũng như Ngoại giao, để cầu cứu Thanh triều về việc Pháp xâm lược Việt Nam.
Cầm đầu Sứ bộ là Hình bô. Thượng thư Phạm Thận Duật (? - ?).
Sau hơn 1 năm ở Trung Quốc mà không đạt được 1 kết quả nào, Sứ bô. Việt Nam đành về nước - về tới Huế ngày 25 tháng chạp năm Quí Mùi (22 tháng 1 năm 1884). Trong chuyến Sứ trình này Nguyễn Thuật đã viết 1 tập Tựa là 'Vãng Tân Nhật Ki ('Nhật Kí đi Thiên Tân') ghi chép tất cả những gì trải qua trong hơn 1 năm ở xứ người. Đây là 1 Sử liệu giá trị về nhiều phương diện như Chính trị, Ngoại giao giữa Việt nam và Trung Hoa đương thời, bên cạnh đó là một vài nét mô tả sinh hoạt tại 1 số địa phương, rồi sự qua lại của Nguyễn Thuật với 1 vài danh sĩ Trung Quốc, và 1 vài nhân vật ngoại quốc, Tây phương cũng như Nhật Bản, hoạt động tại bản địa....
(Một số chi tiết nữa về tập 'Nhật Ki này, xin coi bài 'Lan Đình Kiển Chí).

Căn cứ định lệ 'Am, Trai, Hiên, Đình' về tên Hiệu kể trên, tôi đính chính về tên Tự, tên Hiệu của Cao Bá Quát như sau:
Cao Bá Quát tên Tự là Chu Thần, tên Hiệu là Mẫn Hiên.
Ngoài ra, tiện đây tôi cũng đính chính 1 lầm lẫn nữa liên quan bài Hát Nói của Cao Bá Quát có tựa là 'Uống Rượu Tiêu Sầú. Bài Hát nói này có 2 câu thơ Hán văn mà các sách đều chép là:
                                                Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu,
                                                Trầm tư bách kế bất như nhàn.
Trầm tư, đúng ra phải là Tầm tư. Tầm có nghĩa là Tìm. Tầm tư = Suy nghĩ đi suy nghĩ lại.
Người đi sau đã vọng cải (sửa bậy) chữ 'Tầm' thành chữ 'Trầm', cứ nghĩ rằng trong Việt ngữ ta chỉ nói 'Trầm tư mặc tưởng', mà không biết rằng đây chính là 2 Câu thơ Cao Bá Quát đã mượn từ bài Thất tuyệt 'Khiển Hứng' của Hàn Dũ đời Đường:
                                             Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu,
                                             Tầm tư bách kế bất như nhàn.
                                             Mạc ưu thế sự kiêm thân sự,
                                             Tu trước nhân gian tỉ mộng gian.
                         /  Toàn Đường Thị Qu. CCCXLIII. Hàn Dũ 8. Khiển Hứng  /.
                                             Dứt hết sầu đời duy có rượu,
                                             Lo toan trăm kế chẳng bằng nhàn.
                                             Chớ lo thế sự cùng thân sự,
                                             Cõi thế coi như giấc mộng trần.
15). Lê Ngô Cát (? - ?), Tự là Bá Hanh.
Cát: Tốt lành. Hanh: Xuông xẻ, thông suốt.
Cát, Hanh là 2 tiếng rất thường thấy ở cuối những Câu được gọi là 'Thệ Tứ(Lời bói). Trong các Quẻ, 2 tiếng này không đứng liền nhau, trừ ở Quẻ Thái (Khôn / Càn).
Quái từ Quẻ này nói:
- 'Thái, tiểu vãng, đại lai; cát, hanh'.
- 'Quẻ Thái, nhỏ (âm) đi, lớn (dương) lại; tốt lành, xuông xẻ.'.
Trường hợp M2(a).
16). Lí Văn Phức (1785 - 1849), tên Tự là Lân Chi, tên Hiệu là Khắc Trai.
Phức (Danh) có nghĩa 'mùi thơm', chữ 'Chí trong tên Tự là 1 loại Nấm sống kí sinh trên những thân cây khô, theo các sách Bản thảo Chi là loại thụy thảo, ăn vào sẽ thành tiên, nấm này do đó thường được gọi là Linh Chị Chữ Lân trong tên Tự có nghĩa là 'gần', như vậy Lân Chi có nghĩa   'Gần loại (Linh) Chí. Có mùi thơm vì nhờ gần Linh Chi, đây là 1 dạng của trường hợp M7.
Lí Văn Phức soạn một số tác phẩm có tính cách luân lí, như:
'Nhị Thập Tứ Hiếu Diễn Âm' và 'Phụ Châm Tiện Lãm'. 'Nhị Thập Tứ Hiếú được trích giảng ở bậc Trung học đệ nhất cấp vào trước 1975 ở miền Nam Việt Nam. 
17). Trương Quốc Dụng (1797 - 1864), Tự là Dĩ Hành.
Quốc Dụng (Danh) nghĩa là 'Quốc gia dùng', Danh, Tự hợp luận: - (Nếu) được Quốc gia dùng thì sẽ thi hành sở học của mình. Trường hợp M5.

18). Phạm Phú Thứ (1820 - 1881), Tự là Giáo Chị
Sách 'Luận Ngứ (Tử Lộ. 09) nói:
- 'Tử thích Vệ, Nhiễm Hữu bộc. Tử viết: - Thứ hĩ tai!
Nhiễm Hữu viết: - Kí thứ hĩ, hựu hà gia yên? - Viết: - Phú chị
Viết: - Kí phú hĩ, hựu hà gia yên? - Viết: - Giáo chí.
Dịch văn:
- 'Thầy qua nước Vệ, Nhiễm Hữu giong xe. Thầy nói: - Dân cư ở đây thiệt là đông đúc!
Nhiễm Hữu hỏi: - Dân cư đã đông đúc thì cần làm gì nữa? - Thầy nói: - Làm cho dân giàu.
Nhiễm Hữu lại hỏi: - Dân đã giàu rồi thì cần làm gì nữa? - Thầy nói: - Thì giáo hóa họ.'.
Danh, Tự đều xuất từ Sách, lấy nguyên văn, đây là trường hợp M2(a).
Minh Di luận: 1 thí dụ thú vị của trường hợp M2(a).
19). Cao Xuân Dục (1842 - 1923), Tự là Tử Phát.
Dục (Tên) có nghĩa là 'Nuôí, là 'Sinh', Phát (tên Tự) có nghĩa 'Mở mang, phát triển, nảy nớ.
Có nuôi là có nảy nở, phát triển, và dĩ nhiên phải là 'nuôí đầy đủ và đúng mức. Nuôi nói đây có í nói về mặt đức hạnh, tài năng. Đây là 1 dạng của trường hợp M7
Cao Xuân Dục là tác giả 2 bộ 'Quốc Triều Khoa Bảng Lục', 'Quốc Triều Hương Khoa Lục'.
20). Chu Mạnh Trinh (1862 - 1905), Tự là Cán Thần.
Trinh: Cây cứng. Cán: Cành chính. Xây tường mà trồng 2 cây cột gỗ ở 2 mé bên gọi là Cán.
Từ ngữ Trinh Cán sau được dùng để ám chỉ 'căn bản, nền tảng' của sự vật, sự việc........ để tỉ dụ nhân tài.
Ở đây, Danh và Tự đều là thành phần của 1 từ đôi, biểu thị 1 í nhất định, cũng như trường hợp Danh và Tự của Mạc Đỉnh Chi đã phân tích trước đây, tức 1 dạng của trường hợp M7.

21). Phan Bội Châu (1867 - 1940), Hiệu là Sào Nam.
Tập 'Cổ Thi Thập Cửu Thú, Bài 1:
                                                           Hồ mã y Bắc phong,
                                                           Việt điểu sào Nam chí.
Ngựa Hồ là ngựa phương Bắc, nhớ quê, muốn về thì nương theo gió Bắc.
Việt điểu là chim phương Nam, nhớ nhà thì làm tổ ở cành phía Nam.
Sào Nam, với 1 tên Hiệu như vậy, trong một tình thế Đất Nước như vậy, tâm tư và hoài vọng của Phan Bội Châu ra sao, không cần nói cũng đủ rõ.
Việc lấy tên Hiệu của Phan Bội Châu ở đây là trường hợp M3 của nguyên tắc lấy tên Tự.
22). Trần Tế Xương (1870 - 1907), Tự là Tử Thịnh.
Xương: Đẹp đẽ, hưng thịnh. Thịnh: Đông, nhiều.
Xương và Thịnh nghĩa tương cận; và như vậy, đây là trường hợp M1.
23). Bùi Kỉ (1887 - 1960), Tự là Ưu Thiên.
Sách 'Liệt Tứ nói:
- 'Kỉ quốc hữu nhân ưu thiên địa băng trụy, thân vong sở kí, phế tẩm thực giá.
                                                      /  Liệt Tử. Qu. I. Thiên Thụy  /.
- 'Nước Kỉ có người lo trời sập, đất lở, thân mình rồi mất chỗ nương gởi, đến đỗi bỏ cả ăn ngú.
Trường hợp M2(a).
24). Đào Trinh Nhất (1900 - 1951), Tự là Quán Chị
Sách 'Luận Ngứ (Lí Nhân. 15):
- 'Tử viết: - Sâm hồ, ngô Đạo nhất dĩ quán chí.
- 'Thầy nói: - Này Sâm, Đạo của ta quán triệt hết rồi chỉ một quan niệm'.
Danh và Tự tương quan theo như trường hợp M2(a).
Đào Trinh Nhất là 1 nhà văn thời Tiền chiến. 
                                                                           &

V. Thụy hiệu

Thụy hiệu, hay Thụy danh, là Tên đặt cho người quá vãng. Danh hiệu này thông thường thì được đặt lúc sắp đem chôn. Nói chung, kể từ khi có tên Thụy người ta không còn gọi Tên của người đã qua đời nữa mà chỉ gọi tên Thụy của người đó.
Thụy hiệu được Hứa Thận (30 - 124) định nghĩa như sau:
- 'Thụy. Hành chi tích dá.
                                         /  Thuyết Văn Giải Tự. Qu. III. Thượng  /.
- 'Thụy. Dấu tích của hành ví.
Ban Cố (32 - 92) giảng rõ hơn như sau:
- 'Thụy chi vi ngôn dẫn dã, dẫn liệt hành chi tích, sở dĩ tiến khuyến thành đức, sử thượng vụ tiết dá.
     /  Bạch Hổ Thông Đức Luận. Qu. Thượng. Thụy  /.
- 'Thụy hàm ý là trưng dẫn, trưng dẫn, liệt kê, dấu tích của hành vi, từ đó đưa ra sự khuyên răn về đức hạnh để người trên (vua) chú trọng về điều tiết nghĩá.

Thời cổ, chỉ có thiên tử và giới quí tộc, khanh sĩ, đại thần....... mới được có Thụy hiệu. Dưới triều Chu (1121 - 256 tr. Cn.), chức vị từ Hạ đại phu trở xuống không được triều đình xét để truy tặng Thụy hiệu.
Thụy hiệu của Thiên tử trải các triều vẫn do Lễ quan nghị luận, rồi đề nghị lên triều đình. Riêng Thụy hiệu của khanh sĩ, đại thần.... tuy do thiên tử tứ cấp nhưng trước đó vẫn phải qua Lễ bộ. Nói tóm lại, trong mọi trường hợp, trong mọi triều đại..., việc luận định Thụy hiệu trước sau vẫn thuộc chức năng của Lễ bộ.
                                                                           *
Thụy pháp khởi từ Chu triều.
Đã dẫn trước đây, thiên 'Đàn Cung', Sách 'Lễ Ki ghi rằng ' ..... tư? Thụy, Chu đạo dá, nghĩa là '..... chết đi thì có tên Thụy, đây là định chế của Chu triềú.
Tới Tần triều (221 - 206 tr. Cn.) thì bãi bo? Thụy pháp.
Sau khi diệt lục quốc, thống nhất thiên hạ, 1 trong những quyết định quan trọng của Tần triều là bãi bo? Thụy pháp. Tần Thủy hoàng (259 - 210 tr. Cn.; tại vị: 221 - 210) nói:
- 'Trẫm văn thái cổ hữu Hiệu, vô Thụy. Trung cổ hữu Hiệu, tử nhi dĩ hành vi Thụy. Như thử tắc tử nghị phụ, thần nghị quân dã, thậm vô vị, trẫm phất thủ yên! Tự kim dĩ lai trừ Thụy pháp'.
                                                              /  Sử Kí. Qu. VỊ Tần Thủy Hoàng Bản kỉ  /.
- 'Trẫm nghe nói đời thượng cổ có tên Hiệu mà không có tên Thụy. Đến thời trung cổ thì, đã có tên Hiệu mà rồi khi chết đi (lại còn xét hành vi lúc còn sống mà) đặt thêm tên Thụy nữa; như vậy là con xét đoán cha, bề tôi xét đoán vua thực vô lí hết sức, trẫm quyết không theo lệ này! Từ đây trở đi trẫm bãi bo? Thụy pháp'.

Nhưng, sau khi Tần triều sụp đổ, không lâu sau đó, Hán triều (206 tr. Cn. - 220), tiếp đó, tái lập Thụy pháp. Có điều là vào những buổi đầu Thụy chế cũng rất giới hạn, chỉ áp dụng cho các bậc Quân, Hầu thôi; ngoài ra, Công khanh, Đại phụ...... đều ở ngoài vòng này. Và, cứ như ghi chép trong Bộ 'Bạch Hổ Thông' của Ban Cố thì tới đời Đông Hán (25 - 220) Thụy chế đã nới ra đến các bậc Công khanh, Đại phụ
Sau đó, Thụy chế đã có những thay đổi, tùy triều đại, để tới Triệu Tống (960 - 1279) thì thể lệ về Thụy pháp đã chặt chẽ lắm.
Sau đây là những nét đại cương về một số vấn đề liên quan Thụy hiệu, như luận Thụy, định Thụy cũng như phân loại Thụy, số chữ của Thụy hiệu, cải Thụy hiệu...
Thời cổ, Thiên tử băng hà thì triều thần ra Nam giao để luận định Thụy hiệu.
Sử học gia Ban Cố đã giải thích rất rõ điểm này:
- 'Thiên tử băng, thần hạ chí Nam giao Thụy chi giả hà?
- Dĩ vi nhân thần chi nghĩa mạc bất dục bao đại kì quân, yêm ác dương thiện giả dã, cố chi Nam giao minh bất đắc khi thiên dã!'.
                                                 /  Bạch Hổ Thông Đức Luận. Qu. Thượng. Thụy  /.
- 'Thiên tử băng hà, bề tôi tới Nam giao để định Thụy hiệu, điều này là sao vậy?
- Với cái nghĩa của bề tôi thì không ai mà không muốn khoa trương, nói hay nói tốt cho vua của mình, để rồi cái xấu thì che đi, cái tốt thì khoe ra, do đó, tới Nam giao (luận Thụy) là để tỏ rõ rồi không thể nào dối gạt được trời!'.

Nam giao là khoảng đất ở mé Nam, ngoài Kinh Thành không xa là mấy. Ở thời cổ, mỗi năm vào ngày Đông Chí thiên tử ra đó tế Trời, trên 1 cái đàn tròn gọi là Hoàn Khâu. Để tế Trời cho nên Hoàn Khâu cũng còn được gọi là 'Thiên Đàn'. Và, đại lễ tế Trời hàng năm này ngày trước được gọi là 'Nam Giao Đại Tứ.
Dưới các triều Đường, Tống, việc truy tặng Thụy hiệu cho giới quí tộc, đại thần, trước khi thành định luận, phải qua 1 số thủ tục.
Trước hết, quan Khảo Công lập 1 Bản tiểu sử tường trình phẩm hạnh, công nghiệp..... của người quá vãng, tiếp đó, chức Thái thường Bác sĩ sẽ căn cứ Bản tường trình này mà đề nghi. Thụy hiệu. Nếu xét thấy Thụy hiệu không phù hợp đức độ, công nghiệp......... của người đã khuất, chức quan Cấp Sự Trung có quyền đề nghị xét lại. Dưới các thời Đường, Tống chỉ có các bậc Vương, Công và các chức quan từ tam phẩm trở lên mới được triều đình nghị tứ Thụy.
Thời Triệu Tống, cứ như qui định buổi đầu gia đình người quá vãng phải lập 1 bản hành trạng - tức bản tiểu sử, của người này nộp cho cơ quan Thượng Thư Tỉnh để xin cứu xét việc tứ thụy cho người nhà của mình.
Nhưng rồi, về sau vì có những trường hợp con cháu, môn sinh...... tuy biết là cha, ông, thầy mình theo qui chế, được quyền xin triều đình Thụy, nhưng, những người này lúc còn sống đã có những hành vi không mấy tốt đẹp, sợ nếu xin triều đình sẽ định cho Thụy hiệu xấu, do đó đã lờ đi, hoặc chờ 1 thời gian khá lâu sau đó mới xin tứ Thụy.
Chờ một thời gian lâu sau mới xin tứ Thụy thì đây thường là trường hợp con cháu, môn sinh, hay thuộc cấp cũ của người quá cố cố tình che giấu những hành vi chẳng mấy tốt đẹp, để chỉ đưa ra những gì hay, đẹp, của cha, ông, thầy học, hay thượng cấp trước đây của mình. Để rồi, thời gian càng lâu, những hành tích bất thiện của người quá vãng nói trên đây, Sĩ, Đại Phu trong triều rồi không còn ai hay biết, bên cạnh đó thân tộc, môn sinh kẻ quá vãng lại chỉ đưa ra rặt những điều thiện mĩ, do đó các chức quan có thẩm quyền nghi. Thụy nếu chỉ thuần căn cứ những gì thân tộc cũng như môn sinh, thuộc cấp...... của người quá vãng cung cấp mà định Thụy hiệu thì việc này rồi trái với di chỉ của Thánh nhân.
Vì lẽ đó mà vào năm thứ 4 Niên hiệu Cảnh Hựu (1034 - 1038), tức năm 1037, theo kiến nghị của Tống Thụ (991 - 1040), thân phụ của học gia? Tống Mẫn Cầu (1019 - 1079), Tống triều lúc ấy ra một chiếu chỉ qui định rằng: - Nếu như chờ chôn cất đâu đó mới thỉnh Thụy triều đình sẽ không cứu xét đơn xin. Bấy giờ là dưới triều Nhân tông (1010 - 1063; tại vị: 1022 - 1063).
Tuy nhiên, trên đây chỉ là 1 mặt của vấn đề.
Từ buổi đầu triều Triệu Tống có lệ gia đình nào thỉnh Thụy cho người thân vừa quá vãng thì rồi phải đãi đằng quan chức có thẩm quyền ở Thượng Thư Tỉnh, cũng như quan chức đặc trách việc nghi. Thụy, như các chức Thái Thường, Khảo Công cũng phải được biếu xén, quà cáp, chút đỉnh gọi là.
Dĩ nhiên, đây không phải là pháp lệ của triều đình mà chỉ thuần túy là những vụ giao dịch giữa tư nhân và tư nhân với sự thỏa thuận ngầm của đôi bên.
Cũng chỉ vì không chấp nhận những vụ giao dịch 'phi chính đáng' này mà có rất nhiều Gia đình rồi đã bỏ không thỉnh Thụy cho người thân của mình, đó là chưa nói tới những gia đình cha ông vốn thanh liêm, không đủ khả năng để lo liệu những vụ giao dịch kiểu này.
Nhận thấy đây cũng là 1 tệ nạn cần bài trừ cho nên cũng vào năm thứ 4 Niên hiệu Cảnh Hựu đã nói ở 1 đoạn trước đây, cũng theo kiến nghị của Tống Thụ, Tống Nhân tông rồi ra chiếu chỉ cấm những chuyện đãi đằng, biếu xén, có tính cách lo lót trên đây. Sự kiện này đã được chép rất rõ ở Quyển CXXIV. Phần Lễ chí (27), bộ 'Tống Sứ.
Nhưng có lẽ rồi vẫn dứt không hết tệ nạn này cho nên là 11 năm sau đó, vào năm cuối Niên hiệu Khánh Lịch (1041 - 1048), tức năm thứ 8, triều đình lại ra Chiếu chỉ lập lại lệnh cấm kể trên, và trong chiếu chỉ lần này, quan chức nào mà nhận quà cáp biếu xén trong những vụ nghi. Thụy thì tội như tội nhận hối lộ. Còn người hối lộ thì không thấy nói có biện pháp chế tài nào.
Sau những chiếu chỉ kể trên thì con cháu những cựu thần trước đây đã không thỉnh Thụy bây giờ ùn ùn dâng biểu xin Thụy hiệu cho cha, ông mình. Sự tình này rồi gây phiền nhiễu khó khăn cho Lễ viện không ít.
Học gia? Tống Mẫn Cầu đã viết như sau:
- 'Quốc triều dĩ lai Bác sĩ vi thụy, Khảo công phúc chi, giai đắc nhu nhuận. Khánh Lịch bát niên hữu ngôn Bác Sĩ dĩ mỹ Thụy gia ư nhân dĩ lợi nhu nhuận hữu đồng nạp lộ, hữu chiếu bất hứa thu sở di. Ư thị cựu thần tử tôn cạnh lai thỉnh Thụy. Kí nhi Lễ Viện yếm kì phiền, toại tấu li cách.
Gia Hựu trung, Lý thượng thư Duy gia phục lai thỉnh Thụy - Bác Sĩ Lữ Tấn Thúc dẫn Chiếu dĩ bãi chí.
         /  Xuân Minh Thoái Triều Lục. Qu. Trung. 29  /.
- 'Từ buổi đầu Quốc triều cho tới nay chức [Thái thường] Bác sĩ  đề nghi. Thụy hiệu, [và sau đó]   chức Khảo Công xét lại lần nữa - với công việc này 2 chức quan nói trên đều đã kiếm chác được chút đỉnh! Vào năm thứ 8 Niên hiệu Khánh Lịch có lệnh là chức Bác sĩ đề nghị tên Thụy đẹp cho người nhằm kiếm chác lợi lộc thì tội cũng như tội nhận hối lộ, có chiếu chỉ không cho chức quan này nhận mọi sự tặng, biếu, từ phía gia đình thỉnh Thụy. Vì vậy mà con cháu của những cựu thần đã thi nhau tới thỉnh Thụy. Để rồi, chịu không nổi phiền nhiễu, Lễ Viện đã xin sửa đổi lại điều lệ về việc xin tứ Thụy.
Trong khoảng Niên hiệu Gia Hựu gia đình quan Thượng thư Lý Duy lại đến thỉnh Thụy thì quan Bác Sĩ Lữ Tấn Thúc đã viện dẫn Chiếu chỉ kể trên mà bác sự thỉnh cầu nàý.

Tóm lại thì, sợ rằng cha ông mình có những hành tích bất thiện không dám thỉnh Thụy cũng như  không chấp nhận những chuyện lo lót mà đã rồi bỏ không thỉnh Thụy, đây là hai mặt của vấn đề khi người thân qua đời một gia đình đã không thỉnh Thụy, mà chờ một thời gian khá lâu sau, để sự tình lắng xuống mới xin như đã nói trước đây.
Từ những sự kiện nói ở trên thì có thể thấy việc nghi. Thụy không phải lúc nào cũng vô tư, dầu là tương đối. Và, Thụy pháp, trong những điều kiện như vậy, rồi đã mất hết í nghĩa.
Chính vì tư tâm, định kiến, rồi đầu óc bè phái... của con người mà Thụy hiệu của 1 người đôi lúc không phải chỉ đặt 1 lần là định! Tôi muốn nói tới trường hợp Cải Thụy: Nếu xét thấy Thụy hiệu của 1 người không phù hợp cuộc đời người đó triều đình có thể điều chỉnh lại chính xác hơn! Có điều, 1 lần nữa, sự điều chỉnh này đôi lúc cũng rất điên đảo.
Như vào thời Nam Tống, Tần Cối (1090 - 1155) sau khi chết được truy tặng tước Thân vương, và rồi Tống Cao tông (1107 - 1187; tại vị: 1127 - 1162) còn thuận cho Thụy hiệu Trung Hiếu.
Và rồi sau, đó vào năm 1206, Tống Ninh tông (1168 - 1224; tại vị: 1168 - 1224) đã cho truất bỏ tước Vương của tên gian thần này đồng thời cải Thụy hiệu của hắn thành 'Mậu Xu, có nghĩa là 'Gian trá, Xấu xá (Mậu: gian trá; Xú: xấu xa). Nhưng rồi, điều mỉa mai là 2 năm sau đó, cũng chính Tống Ninh tông, theo lời tâu gian trá của tên quyền thần Sử Di Viễn (1164 - 1233), lại đã khôi phục tước Vương và truy tặng lại Thụy hiệu cho Tần Cối.
Con người có thể tư tâm, nhưng Lịch sử thì tuyệt vô tư tâm.
Sau đó 'Tống Sứ đã liệt Tần Cối vào hạng gian thần, hại dân, hại nước, phần Truyện (Tiểu sử) Tần Cối được xếp trong Mục 'Gian Thần'. ('Tống Sứ. Qu. CDLXXIII. 232. Gian thần 3).
Và như vậy, phán đoán sau cùng vẫn là phán đoán của Lịch Sử, Lịch Sử tuyệt vô tư tâm!
                                                                           *
Về Thụy pháp, Thụy chế dưới Minh triều (1368 - 1644), Lục Dung (1436 - 1494) viết:
- 'Quốc sơ tứ Thụy, duy Công, Hầu, Bá, Đô Đốc, phàm huân thích trọng thần hữu chi. Văn thần hữu Thụy thủy ư Vĩnh Lạc niên gian, nhiên đắc chi giả dịch tiển hĩ! Kim lục Khanh chi trưởng
Hàn Lâm chi lão tiển hữu bất đắc Thụy giả! Cổ chi Thụy tất hữu nghị, bản triều vô thử chế, cố chư lão Văn tập trung vô thử tác!'.
                                                    /  Tiêu Viên Tạp Kí. Qu. XIII. 08  /.
- 'Buổi đầu Quốc triều, được tứ Thụy chỉ có các bậc như Công, Hầu, Bá, Đô đốc - nói chung là những trọng thần có công lao, thân cận hoàng đế mới có! Văn thần được tứ Thụy, Sự việc rồi đã bắt đầu trong khoảng Niên hiệu Vĩnh Lạc, nhưng số người được tặng Thụy hiệu này cũng chẳng bao nhiêu! Còn như hiện nay thì các Chức quan đứng đầu 6 Bộ, những người lâu năm trong giới Hàn Lâm thì hiếm người mà không được tứ Thụy hiệu! Việc truy tặng Thụy hiệu đời cổ phải qua thủ tục nghi. Thụy, triều chúng ta không có định chế này, cũng vì vậy mà trong Văn Tập của các tiền bối đã không có những ghi chép về việc này!'.
+ Vĩnh Lạc (1403 - 1424) là Niên hiệu của Minh Thành tổ (1360 - 1424; tại vị: 1402 - 1424).

Từ Sư Tăng (1510 - 1573), phê bình gia Văn học, cho biết là Minh triều tuy cũng thành lập chức Thái Thường, nhưng chức quan này không phụ trách sự vụ nghi. Thụy như dưới thời Tống.
Khi một đại thần qua đời, gia đình vị này nếu thỉnh Thụy thì Lễ Bộ sẽ trình lên vua, và truy tặng  Thụy hiệu hay không là do vua quyết định. Nếu vua quyết định cho thì bên 'Nội Các' sẽ chọn ra 4 Chữ để vua quyết định. Một khi đã được truy tặng tên Thụy thì tất cả đều là tên Thụy đẹp, còn ngoài ra không đặt Thụy danh xấu (Ác Thụy) để răn đe kẻ ác. Việc 'Nghị Thụý, do đó, tự động bị bãi bỏ. Điều này giải thích tại sao khi nói về việc nghi. Thụy trong đoạn văn của Lục Dung đã dẫn ở 1 đoạn trước ông lại nói là 'bản triều vô thử chê.
+ Tham khảo: Từ Sư Tăng: 'Văn Thể Minh Biện Tự Thuyết' (Thụy Nghị).
Thụy Nghị là 1 Văn thể, và theo Từ Sư Tăng, cũng trong tác phẩm đã dẫn trên, văn thể này gồm có 4 loại như sau:
1/. Thụy Nghị.
2/. Cải Nghị.
3/. Bác Nghị.
4/. Đáp Bác Nghị, hay cũng gọi là Trùng Nghị.
Sở dĩ phải 'nghí tới 'nghí lui như vậy chẳng qua cũng là để nhận định đích xác lẽ phải, trái và đạt lẽ công bình mà thôi.
Còn các bậc danh thần, xử sĩ... nếu theo luật không thỉnh Thụy được thì các môn sinh hay những thuộc cấp cũ sẽ họp lại mà nghi. Tư Thụy cho thầy hay cấp trên trước đây của mình, và ở đây tuy nói 'nghí nhưng rồi môn sinh thì có bao giờ lại nghị xấu về thầy mình....  
                                                                           *
Tới Thanh triều (1644 - 1911) thì sự việc có hơi khác.
Lương Chương Cự (1775 - 1849) đã viết như sau:
'Tiền đại nghi. Thụy đa ủy chi Thái thường Bác sĩ vãng vãng thất đáng dĩ trí nghị bác phân phân! Ngã triều phàm nội, ngoại vương, đại thần chi lệ khả đắc Thụy giả, bản Bộ dĩ ưng phủ cụ tấu. Sĩ đắc thỉnh hậu, giao 'Nội Các Công Nghí tứ tự cung hậú.
                                                                       /  Nam Tỉnh Công Dư Lục. Qu. V. Thụy Điển  /.
- 'Trong các triều đại trước việc nghi. Thụy hiệu đa số được giao cho chức Thái thường Bác sĩ và trong nhiều trường hợp nghị luận của chức quan này đã tỏ ra không thích đáng để rồi thường xảy ra các cuộc tranh cãi lung tung! Dưới triều chúng ta, nói chung thì các hàng thân vương, các bậc đại thần trong cũng như ngoài triều, mà theo lệ có thể được hưởng qui chế tứ Thụy thì tại các Bộ nơi những người này tòng sự sẽ làm tờ trình tấu, nêu đầy đủ các lí do nên và không nên truy tặng Thụy hiệu. Chờ tới sau khi việc thỉnh Thụy được chính thức chấp thuận thì Sự vụ sẽ được chuyển giao cho bên Nội Các, để Cơ quan này thừa lệnh cứu xét, kèm theo 4 chữ 'Nội Các Luận Nghí.
                                                                           *
Còn những người qua đời lúc đang tại chức được triều đình truy tặng tên Thụy thì đây là sự kiện rất tự nhiên, không có vấn đề nào được đặt ra hết.
Và rồi có những người đã về hưu, hoặc vì tuổi già, vì tật bệnh, hoặc vì 1 lí do quan trọng nào đó (có tang cha, hay tang mẹ) ......., những người này lúc qua đời vẫn có thể được triều đình cứu xét để truy tặng Thụy hiệu như trường hợp đang tại chức.
 
Ban Cố viết:
- 'Khanh, Đại phu lão qui, tử  hữu Thụy hà?
- Thụy giả, biệt tôn ti, chương hữu đức dã; khanh, đại phu qui vô quá do hữu lộc vị, cố hữu Thụy dá.
   /  Bạch Hổ Thông Đức Luận. Qu. Thượng. Thụy  /.
- 'Các bậc khanh, đại phu già về trí sĩ, lúc qua đời cũng được tứ Thụy là sao vậy?
- Thụy hiệu là để phân phẩm trật cao, thấp, tuyên dương người có đức hạnh; các bậc khanh cũng như đại phu lúc trí sĩ mà không có lỗi lầm gì thì coi như vẫn còn quan chức, vì vậy lúc mất đi thì cũng được truy tặng Thụy hiệú.
                                                                           *
Như đã biết, một người sau khi qua đời, để được triều đình truy tặng Thụy hiệu thì người đó phải có 1 tước vị tối thiểu nào đó, tùy qui định của từng triều đại. Và như vậy, những người không đủ tiêu chuẩn, hoặc thuộc hàng thứ dân, rồi chỉ có thể có một loại Thụy hiệu gọi là 'Tư Thụý - là Thụy hiệu do người trong thân tộc, bằng hữu, môn sinh.... đặt cho.
Đây là trường hợp rất thường thấy nơi các danh sĩ có phẩm tháo, đức hạnh hơn người và nơi các học giả có thanh danh lớn lao đương thời, chẳng hạn như - Trần Thực (104 - 187), danh sĩ triều Đông Hán (25 - 220), có Tư Thụy là Văn Phạm, như Vương Thông (584 - 617), Tư tưởng gia vào thời Tùy (589 - 618), có Tư Thụy là Văn Trung.
Tư Thụy có từ thời Xuân Thu (770 - 403 tr. Cn.), bắt đầu thịnh hành dưới thời Đông Hán, để rồi cực thịnh ở triều Triệu Tống (960 - 1279), cho đến Minh triều (1368 - 1644) thì Sĩ thứ người nào rồi cũng có Tư Thụy.
Vào khoảng cuối Minh triều, trong Tập Bút kí 'Tảo Lâm Tạp Trớ, Đàm Thiên (1593 - 1656) đã chép lại tất cả 51 trường hợp Tư Thụy. (Sd. Hòa tập. Tùng Chuế).
                                                                           *
Khi đặt tên Thụy thì người ta đã có sẵn cả một bản liệt kê các Thụy hiệu trong các Sách luận về Thụy pháp. Ý nghĩa của từng Thụy hiệu một đã được định nghĩa đâu ra đó, chỉ cần coi Chữ nào phù hợp thì lấy mà đặt cho người quá vãng. Và, Thụy hiệu thì có Mĩ Thụy, có Ác Thụy.
Về các phẩm cách trong Thụy pháp, Ban Cố cho biết:
'Vi Thụy hữu thất thập nhị phẩm.', nghĩa là 'Thụy hiệu thì có tất cả 72 phẩm hạng.'.
                                                      /  Sd. trên, Quyển thứ đã dẫn, Mục đã dẫn  /.
Có điều tiếc là Ban Cố đã không liệt kê '72 Phẩm hạng' này - cũng như đã không cho biết là có bao nhiêu Chữ để đặt Thụy hiệu?
Các triều đại sau đó phẩm hạng, do đó số lượng Thụy hiệu, đã gia tăng đáng kể, chẳng hạn:
Trương Thủ Tiết (? - ?) đời Đường (618 - 907), trong Mục 'Thụy pháp giảí, 1 trong những phần Phụ lục của Tác phẩm 'Sử Kí Chính Nghĩá, soạn xong năm 736, đã liệt kê 194 Phẩm hạng của 102 Thụy hiệu.
Tô Tuân (1006 - 1066) triều Bắc Tống, trong cuốn 'Thụy Pháp', đã liệt kê 311 Phẩm hạng của 168 Thụy hiệu.
Lương Chương Cự (1775 - 1849) triều Thanh, đã dẫn ở 1 đoạn trước đây, trong tập bút kí tựa đề là 'Nam Tỉnh Công Dư Lục' (Qu. V.) đã liệt kê 584 Phẩm hạng của hơn 1 trăm Thụy hiệu.
Và nhìn chung, Thụy hiệu cổ kim có nhiều lắm cũng chỉ khoảng 200.
                                                                           *
Sau cùng là vấn đề số Chữ của Thụy hiệu.
Số chữ của Thụy hiệu có thể là 1 Chữ, có thể 2 Chữ, có thể 3 Chữ, hoặc nhiều nữa thì có thể lên tới mười mấy, hai chục Chữ. Tuy nhiên, Thụy hiệu 1 Chữ và Thụy hiệu 2 Chữ là 2 loại Thụy hiệu thông dụng hơn cả. Thụy hiệu mười mấy, hai chục chữ là Thụy hiệu của hoàng đế.
Về Thụy hiệu 1 chữ và Thụy hiệu 2 chữ có một vấn đề thường được các học giả thời trước đưa ra thảo luận: - Thụy hiệu 1 chữ và Thụy hiệu 2 chữ, Thụy hiệu nào quí trọng hơn?
Lương Chương Cự viết:
- 'Vương Văn Giản Công 'Cư Dị Lục' vân:
'Cổ lai Thụy pháp quí nhất tự, nhị tự, kì thuyết bất nhất.
Âu Dương Vĩnh Thúc sơ nghi. Thụy 'Văn', dục dĩ phối Hàn Thoái Chi, nhi thường trật tăng nhất tự vi 'Văn Trung'. Nghị giả dĩ vi tất lưu thử dĩ đãi Vương An Thạch. Dĩ nhi quả nhiên.
Chu Nguyên Hối nghi. Thụy, Thái Thường sơ nghĩ 'Văn Chính', Khảo Công Lưu Di Chính vị tiên sinh đương kế Hàn Văn Công, nghị đặc Thụy 'Văn'. Tòng chị
Tự hậu Chu, Trình, Trương, Lữ chư nho giai dụng nhất tự. Thử quí nhất tự dã.
Kinh Thương, Thụy 'Văn Mục', kì tư? Nguyên thỉnh tị gia húy cải Thụy 'Văn Trung'. Nghị giả dĩ vi Dương Ức cự nho kí Thụy viết 'Văn', nghị giả dục gia nhất 'Trung' tự cánh bất chi dữ.
Gia nhất tự do bất khả huống nhị tự cực mĩ hồ?! Thử quí nhị tự  dã.
Nhị thuyết bất tri hà giả vi thị? '
Kim dĩ bản triều chư Vương chi Thụy hành chi tắc nhất tự chi quí ư nhị tự hiển nhiên.
Văn Giản thử ngữ tự thượng tại vị định lệ chi tiền dá.
                                 /  Nam Tỉnh Công Dư Lục. Qu. V. Thụy phân Nhất tự, Nhị tự  /.
- 'Sách 'Cư Dị Lục' của Vương Văn Giản Công nói:
'Từ xưa đến nay, trong Thụy pháp, Thụy hiệu 1 Chữ quí, hay Thụy hiệu 2 Chữ quí, giải thuyết về vấn đề này rồi vẫn bất nhất.
Âu Dương Vĩnh Thúc lúc đầu được đề nghi. Thụy hiệu là 'Văn', đề nghị này là có í muốn đưa ông  ngang hàng với Hàn Thoái Chi; có điều theo thường trật thì phải thêm 1 chữ, để cuối cùng thành 'Văn Trung'. Những người nghi. Thụy bấy giờ đã cho rằng Thụy hiệu Một chữ này rồi dành đó để chờ Vương An Thạch. Sau quả nhiên đúng như vậy.
Khi đề nghi. Thụy hiệu cho Chu Nguyên Hối thì mới đầu chức Thái thường Bác sĩ  đề nghị 2 Chữ 'Văn Chính', quan Khảo Công Lưu Di Chính nói rằng Tiên sinh xứng đáng là người kế thừa Hàn Văn Công cho nên đề nghị đặc biệt truy tặng Thụy hiệu 'Văn'. Vua i theo đề nghị này.
Từ đó về sau, khi truy tặng Thụy hiệu cho các đại nho như Chu, Trình, Trương, Lữ thì tất cả đều dùng Thụy hiệu 1 Chữ. Đây là chứng cứ cho thuyết Thụy hiệu 1 Chữ quí.
Kinh Thương có tên Thụy là 'Văn Mục', con là Nguyên nại lí do gia húy,  xin xét để đổi lại thành 'Văn Trung'. Những người nghi. Thụy  cho rằng Dương Ức là học giả trứ danh, Thụy hiệu là Văn, trước đây, trong khi nghi. Thụy có người muốn đề nghị thêm [cho ông] 1 Chữ 'Trung' mà rốt cục cũng không được.
Đề nghị thêm 1 chữ còn không được nói chi là xin thẳng Thụy hiệu 2 Chữ là loại Thụy hiệu rất là tốt?! Đây là chứng cứ cho thuyết Thụy hiệu 2 chữ quí.
2 thuyết rồi không rõ thuyết nào đúng?'
Như hiện nay, xét Thụy hiệu của các Thân vương bản triều thì rõ ràng là Thụy hiệu 1 chữ quí hơn Thụy hiệu 2 chữ.
Đoạn văn này của Văn Giản  chừng như được viết vào lúc còn chưa có định lệ về vấn đề nàý.
                                                                           *
Tử Cống (tên Đoan Mộc Tứ: 520 - 450 tr. Cn.) có lần hỏi Thầy:
- 'Khổng Văn tử hà dĩ vị chi Văn ?
Tử viết: - 'Mẫn nhi hiếu học, bất sỉ hạ vấn, thị dĩ vị chi Văn'.
                                                           /  Luận Ngữ. Công Dã Tràng. 14  /.
- 'Khổng Văn tử tại sao lại được gọi là Văn ?
Thầy nói: - 'Thông minh mà hiếu học, lại không mắc cở khi hỏi người kém hơn mình, bởi vậy mà được gọi là Văn'.

Trong Thụy pháp, 1 Thụy hiệu có thể có 1 số í nghĩa khác nhau cho nên 2, 3, hay nhiều người có thể có cùng 1 Thụy hiệu, nhưng không nhất thiết đức hạnh, công nghiệp của họ rồi giống nhau.
Trong Phần 'Thụy Pháp Giảí của Sách 'Sử Kí Chính Nghĩá, Trương Thủ Tiết đã đưa ra tất cả 6 định nghĩa của Thụy hiệu 'Văn':
1/. 'Kinh vĩ thiên địa viết Văn'. ('Trị lí việc trong thiên hạ đâu ra đó gọi là Văn').
2/. 'Đạo đức bác văn viết Văn'. ('Đạo đức, biết nhiều hiểu rộng gọi là Văn').
3/. 'Học cần hiếu vấn viết Văn'. ('Siêng học, ham hỏi gọi là Văn').
4/. 'Từ huệ ái dân viết Văn'. ('Nhân từ, yêu dân gọi là Văn').
5/. 'Mẫn dân huệ lễ viết Văn'. ('Thương dân, trọng lễ gọi là Văn').
6/. 'Tích dân tước vị viết Văn'. ('Ban bố tước vị cho dân gọi là Văn').

Và Thụy hiệu 'Hiến' có 2 định nghĩa:
1/. 'Thông minh duệ triết viết Hiến'. ('Kiến văn uyên bác, sáng suốt minh triết gọi là Hiến') .
2/. 'Tri chất hữu thánh viết Hiến'. ('Tri thức sâu sắc, đạo đức quán thế gọi là Hiến').

2 Thụy hiệu 'Văn', và 'Hiến' vừa dẫn trên đây, như định nghĩa cho thấy, thuộc loại Thụy hiệu gọi là 'Mĩ Thụý.
Ngược lại, những Thụy hiệu gọi là 'Ác Thụý chỉ cần đọc định nghĩa là nhận ra ngay:
1/. 'Bất hối tiền quá viết Lế. ('Không hối hận lỗi lầm đã phạm gọi là Lế).
2/. 'Hộ uy tứ hành viết Xụ ('Cậy sức mà hành động, không kiêng dè gì cả gọi là Xu).
3/. 'Ngoại nội tòng loạn viết Hoang'. ('Trong nhà, ngoài nhà đều loạn gọi là Hoang').

Ngoài ra, cũng có những Thụy hiệu mà 'Mí, 'Ác' lẫn lộn, nghĩa tốt có, nghĩa xấu cũng kiêm:
1/. 'Loạn nhi bất tổn viết Linh'. ('Loạn mà không trừ được gọi là Linh').
2/. 'Cực tri quỉ thần viết Linh'. ('Trí năng quán triệt sự lí sâu xa gọi là Linh').

Sau cùng, còn 1 loại Thụy hiệu nữa gọi là Bình Thụy. Thụy hiệu loại này rồi không nhằm đưa ra một phán đoán thiện / ác, tốt / xấu, do đó đã được mệnh danh là Bình Thụy. Bình Thụy là 1 loại
Thụy hiệu chỉ 1 hoàn cảnh cá nhân nào đó, như thân thế, cảnh ngộ, tình trạng thể chất....
1/. 'Tảo cô đoản chiết viết Aí. ('Chưa trải nhân sự đã qua đời gọi là Aí).
2/. 'Tảo cô phu vị viết Ú. ('Mới tức vị đã qua đời gọi là Ú).
3/. 'Tại quốc tao ưu viết Mẫn'. ('Ở ngôi vị mà gặp nhiều lo buồn gọi là Mẫn').
                                                                           *
Cổ nhân có câu 'Sinh danh tư? Thụý.
Nếu có những trường hợp cha mẹ đã cân nhắc, đắn đo, chọn 1 cái Tên thực đẹp, thực có ý nghĩa cho đứa con mới ra đời thì việc đặt Thụy hiệu cũng là một sự cân nhắc, chọn lựa - có điều là sự chọn lựa ở đây, theo đúng í chi? Thụy pháp, không có tính cách tùy tiện, chủ quan, tự do có muốn chọn thì chọn, không chọn thì thôi, như trường hợp đặt tên.
1 người Tên 'Đức' có thể phần lớn cuộc đời chuyện bê bối lại là phần hơn; 1 người Tên 'Tri mà cuộc sống có thể là 1 chuỗi hết chuyện đần độn này tới chuyện đần độn khác!
Nhưng với Thụy hiệu thì người ta có thể có 1 kết luận 'tương đốí chắc chắn về 1 con người, vì lẽ giản dị đã rõ là tên Thụy chỉ được quyết định khi toàn thể ngôn hành, công nghiệp, tóm lại là cả cuộc đời của 1 con người đã được duyệt xét xong.
Ở một đoạn trước đây tôi đã nói là đa số các triều đại trước đây chỉ phong Thụy hiệu cho những người có một địa vị tối thiểu nào đó trong triều đình. Một người càng ở địa vị cao thì ảnh hưởng càng nhiều đối với những người chung quanh nói riêng cũng như với đám dân chúng dưới quyền cai trị của mình nói chung. Ảnh hưởng đây tức Quyền sinh sát. Dân rồi sướng hay khổ tùy thuộc tài năng đức độ của người cai trị. Cho nên hơn ai hết, thiện sự, ác tích của những người này cần phải được xét duyệt và công bố, qua Thụy hiệu, nhằm khuyến khích, cũng như răn chừng những người có trọng trách cai trị dân. Đây là một ngụ í sâu xa của Sự việc truy Thụy hiệu cho những người có tước vị cao trong quan trường.
Danh chỉ là 1 ước vọng của cha mẹ, trong khi đó Thụy là một 'sự xác định lạí những gì đã được thể hiện trong đời 1 người, nói khác đi, đây là 1 Sự phán đoán có tính cách xã hội - và mục đích của phán đoán này, như đã rõ, là 'biệt tôn ti, chương hữu đức'. Và rồi, sâu xa hơn nữa, định chế Thụy pháp, theo như Ban Cố giải thích, nhằm:
- 'Minh biệt thiện ác sở dĩ khuyến nhân vi thiện, giới nhân vi ác'.
                                                          /  Sd. Quyển, Mục đã dẫn  /.
- 'Phân biệt rõ thiện ác để khuyên người ta làm điều thiện, và răn người ta đừng làm điều ác'.

Ý nghĩa sau cùng của Thụy chế là ở đó!
Tần Thủy hoàng bỏ đi Thụy pháp, cho là việc con nghị luận cha, bề tôi nghị luận vua là chuyện  vô lí, đây là tâm lí của kẻ độc tài, đồng thời là 1 suy nghĩ thiển cận. Cho bề tôi phê bình mình là việc quá phận, nếu vậy con cháu của bề tôi mình nghị luận mình thì sao? như vậy có phải là còn quá 'quá phận' không?

Lại nữa, Thụy pháp chỉ là một định chế để xét đoán hành vi của những cá nhân trong 1 hệ thống cai trị. Phán đoán của này không phải lúc nào cũng vô tư, chính xác - và trường hợp này còn có công luận.

Thân kính mời đọc tiếp phần Phụ lục 1

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đào Như

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Liên hiệp quốc

a

Lý Đại Nguyên

a

Mai Thanh Truyết

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thiếu Nhẫn

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Nguyễn Văn Hoàng

a

Lm. Tadeo Nguyễn Văn Lý

a

Phạm Đình Hưng

a

Ht. Thích Quảng Độ

a

Ht. Thích Thiện Minh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Tuesday, 18 January, 2011 12:14