Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo Lịch sử

Minh Di

Tên tự - Tên hiệu

Phần 2
  

III. Tên Hiệu và Biệt Hiệu

Việc lấy tên Hiệu và Biệt Hiệu thì giản dị hơn việc lấy tên Tự nhiều lắm, không bị câu thúc trong 1 số nguyên tắc như trong 1 số trường hợp lấy tên Tự vừa trình bày.
Nhìn chung, giữa tên Hiệu, Biệt Hiệu và Danh không có những tương quan ràng buộc như trong trường hợp giữa Danh và Tự.
Sau cùng, cũng cần nói rõ là: trong khi tên Tự thì, hoặc do chính người có tên Tự chọn lấy, hoặc do người khác chọn cho, và sự chọn lựa này thường đã phải căn cứ í nghĩa của Danh - và, trong nhiều trường hợp đây là 1 sự chọn lựa rất có 'học vấn'.
Trong khi đó, tên Hiệu và Biệt Hiệu rồi cũng do chính mình chọn lấy, hoặc do người khác - như  bạn bè, người quen biết, ngưỡng mộ... 'gán' cho. Tên Hiệu hay Biệt Hiệu tự chọn lấy, hoặc được người gán cho thường căn cứ những điểm sau đây:

1. Theo Địa danh

Địa danh này có thể là:
(a). Quê quán người mang tên Hiệu.
Liễu Tông Nguyên (773 - 819) được gọi là Liễu Hà Đông vì quê quán ông ở Hà Đông.
(b). Nơi cư trú.
Thiệu Ung (1011 - 1077), triết gia đời Bắc Tống, ẩn cư bên suối Bách Nguyên - còn được gọi là Bách Tuyền, trên núi Tô Môn, phía Tây Bắc huyện Huy, tỉnh Hà Nam, vì vậy mà người ta đã gọi ông là Bách Nguyên Tiên Sinh.
(c). Nơi nhiệm chức.
Sầm Tham (715 - 770), thi gia trứ danh thuộc phái Biên Tái triều Đường, vì có thời gian đã từng nhiệm chức Thích Sử Gia Châu cho nên người ta cũng gọi ông là Sầm Gia Châu.
Liễu Tông Nguyên có một thời gian nhiệm chức Thích Sử tại Liễu Châu, vì vậy mà người ta cũng gọi ông là Liễu Liễu Châu.

2. Theo Tước vị

Vương Duy (701 - 761), thi nhân, kiêm họa gia Sơn Thủy đời Đường, và cũng là người khai sáng Nam Tông họa phái, được người ta gọi là Vương Hữu Thừa, vì có thời gian ông từng giữ chức vu. Thượng Thư Hữu Thừa.
Thi hào Đỗ Phủ (712 - 770) cũng được người ta gọi là Đỗ Công Bộ, do ông đã từng nhiệm chức Kiểm Hiệu Công Bộ Viên ngoại lang.
Lưu Vũ Tích (772 - 842), văn học gia tiếng tăm Đường triều cũng được gọi là Lưu Tân Khách, vì chức vụ của ông có một dạo là 'Thái Tử Tân Khách'. Tiếng tăm của Lưu Vũ Tích lúc ấy cũng đã không kém Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên.

3. Theo sự vật có liên quan người mang tên Hiệu

Dương Vạn Lí (1127 - 1206), thi sĩ nổi tiếng đầu triều Nam Tống, đặt tên thư phòng của mình là Thành Trai, học giả đương thời nhân đó gọi ông là Thành Trai Tiên Sinh.

4. Theo sự việc

Lục Vũ (733 - 804) là ẩn sĩ đời Đường. Vào năm 758, lúc mới 26 tuổi, Lục Vũ đã biên soạn xong bộ 'Trà Kinh', tác phẩm luận Trà đầu tiên của Trung Quốc, và Thế giới, 1 tác phẩm nghiên cứu rất tinh tường về Trà Nghệ cũng như Trà nghiệp thời Đường. Nhờ đó mà người thời ấy đã rõ hơn về cách thức uống Trà, 'nấú Trà, cũng như cách thức chế biến Trà.............. Thời ấy người ta đã gọi ông là Trà Tiên. Tác phẩm này ngày nay chỉ còn giá tri. Lịch sử mà thôi, vì hầu hết những gì viết trong sách không thích hợp thời đại bây giờ, như 'Nấú Trà, chế biến Trà, chẳng hạn.
Các tiệm bán Trà sau đó tạc tượng Lục Vũ bằng đất nung, để trong bếp thờ, tôn là Trà Thần. Cứ  mỗi lần có chuyện giao dịch quan trọng thì dùng Trà cúng Thần! Và khách hàng người nào mua 10 món Trà khí thì sẽ được tặng 1 tượng Trà Thần.

5. Theo tính tình phong cách

Mễ Phất (1051 - 1107), Họa gia , Thư pháp gia trứ danh thời Bắc Tống.
Mễ Phất tính tình quái dị, nói năng ngược đời, ăn bận lại càng không giống ai, sống ở thời Tống mà lại áo quần, mũ mão theo i thời Đường, vô cùng quái dị. Ăn bận khác đời như vậy cho nên là mỗi lần ra đường là thiên hạ bu lại coi, thiên hạ càng đông Mễ Phất càng khoái chí, cho đến đỗi những người không biết Mễ Phất rồi cũng biết đó chính là Mễ Phất!
Tính tình, phong cách quái dị, khác đời, điên điên, khùng khùng như vậy cho nên rồi vào thời ấy người ta đã gọi Mễ Phất là Mễ Điên.
(6). Theo sở thích.
Trương Giới Tân (1563 - 1640), Y học gia nổi tiếng Minh triều. Về trị liệu, Trương Giới Tân vốn thích dùng vi. Thục Địa Hoàng, vì vậy mà đương thời người ta gọi ông là Trương Thục Địa.
Trước ông gần 300 năm Y học gia nổi tiếng Chu Chấn Hanh, thường được biết đến qua tên Hiệu Chu Đơn Khê (1281 - 1358), Nguyên triều, nhận định là cơ thể người 'Dương thường hữu dứ và 'Âm thường bất túc', do vậy chủ trương 'Dưỡng Âm'. Trương Giới Tân đã bác bỏ nhận định trên của Chu Đơn Khê, và chủ trương ngược lại là phải 'Ôn Bố, hay nói cách khác bất túc là Dương chứ không là Âm, do đó, chính Dương mới là yếu tố cần được Bổ.
Trương Giới Tân là một nhân vật trọng yếu của Phái gọi là 'Ôn Bố trong I học Trung Quốc, và ảnh hưởng của ông đối với I giới sau đó cũng không phải nhỏ.
Tác phẩm chủ yếu của ông có 'Cảnh Nhạc Toàn Thứ, 'Loại Kinh'. Cảnh Nhạc là tên Hiệu.

Nói tóm lại, vì không bị câu thúc trong 1 tương quan chặt chẽ với Danh hoặc Tự bởi vậy việc lấy tên Hiệu, lấy Biệt Hiệu rất là dễ dàng, có thể dùng bất cứ phương thức nào cũng đuợc.
Từ Vị (1521 - 1593), Thư, Họa gia trứ danh Minh triều (1368 - 1644), có hơn chục tên Hiệu và 1 trong những tên này là 'Điền Thủy Nguyệt'. 3 chữ này là 3 chữ hợp thành chữ 'Ví, tên ông.
Chữ 'Ví: - bên trái là Bộ 'Thủý, bên mặt trên là chữ 'Điền', dưới chữ 'Điền' là chữ 'Nguyệt'. Tên Hiệu này có nghĩa 'Trăng soi mặt nước ruộng'.  
                                                                           *
Trên đây là những nét chính về  tên Hiệu và Biệt Hiệu. 1 số điểm cần nói thêm là:
Trong tên Hiệu, Biệt Hiệu người ta cũng thường thấy những tiếng đi kèm, như: Cư Sĩ, Xử Sĩ, hay Đạo Nhân, Lão Nhân, Tản Nhân, Thượng Nhân, Dật Tẩu..... chẳng hạn:
+ 'Lục Nhất Cư Sí, tên Hiệu lúc về già của Âu Dương Tu (1007 - 1072), văn học gia, sử học gia nổi danh triều Bắc Tống, là 1 trong 'Đường Tống Bát Đại Giá.
+ Cao Khắc Cung (1248 - 1310), Họa gia trứ danh đầu Nguyên triều (1279 - 1368), có tên Hiệu là 'Phòng Sơn Lão Nhân'. Cao Khắc Cung thích vẽ mặc trúc và trong thể tài này thì tài của ông không kém Văn Đồng (1018 - 1079). Trong 1 bức Trúc họa Cao Khắc Cung đã đề như sau:
- 'Tử Ngang ta? Trúc thần nhi bất tự, Trọng Tân ta? Trúc tự nhi bất thần - kì thần nhi tự giả, Ngô chi lưỡng thử quân dã.'.
- 'Tử Ngang vẽ Trúc có thần mà chẳng giống, Trọng Tân vẽ Trúc giống mà chẳng có thần - vẽ vừa có thần lại vừa giống thì Tôi đạt được sở trường của cả 2 ông này.'.
Tử Ngang tức Triệu Mạnh Phủ, Trọng Tân tức Lí Khán (1245 - 1320) - 2 Họa gia nổi tiếng cùng một thời với Cao Khắc Cung. Tử Ngang và Trọng Tân là tên Tự của 2 Họa gia nói trên.
+ 'Tùng Tuyết Đạo Nhân' - tên Hiệu của Triệu Mạnh Phủ (1254 - 1322), Họa gia, Thư pháp gia kiệt xuất vào sơ kì Nguyên triều. Về Hội họa, Sơn Thủy, Hoa Trúc, Mộc Thạch.... thể tài nào ông cũng tài hoa. Về Thư pháp, thư thể nào ông cũng tinh thuần, lão luyện, tới độ 'nhập thất', nhưng sở trường nhất là các thể Chân, Hành, Tiểu Khải, tự thành 1 phong cách riêng, được mệnh danh là 'Triệu Thế.
Trong tập Bút kí 'Hào Am Nhàn Thoạí (Qu. I. 31), Trương Nhĩ Kì (1612 - 1677), học giả sơ kỳ Thanh triều, đã nhận định về Tự và Hiệu như sau:
- 'Tự dĩ biểu Đức, tôn Danh. Kì y Danh lập nghĩa, tự cổ dĩ nhiên. Cận đại, Tự ngoại phục hữu Biệt Hiệu; hoặc xuất tự học giả chi tiêu mục, hoặc bản nhân tự hữu kí thác, hoặc dĩ Địa, hoặc dĩ Đức, hoặc dĩ Sơn Thủy, giai dữ Danh, dữ Tự vô thiệp, duy hữu nghĩa sảo tương cận giả dịch xuất ngẫu nhiên, phi định lệ dã! Sổ thập niên lai hữu chuyên bàng Tự nghĩa chuyển thu? Biệt Hiệu hí.
'Tên Tự là để biểu thị cái Đức, tôn kính cái Danh của một người. Í nghĩa của tên Tự vốn căn cứ í nghĩa của Danh mà đặt, điều này thì từ xưa vẫn vậy. Thời cận đại, ngoài tên Tự, người ta còn lấy thêm Biệt Hiệu nữa; nguyên tắc lấy Biệt Hiệu thì, hoặc tùy ý hướng, hoài vọng của học giả, hoặc tùy tâm sự, hoài bảo, của người có Biệt Hiệu đó mà Biệt Hiệu, hoặc có thể là một địa danh, hoặc có thể là 1 Đức hạnh, hoặc có thể là tên Sông, Núi nào đó, và tất cả chẳng dính dấp gì tới í nghĩa của Danh và Tự; nhưng cũng có khi í nghĩa của Biệt Hiệu rồi tương cận với ý nghĩa của Danh và Tự thì đây cũng là điều ngẫu nhiên, chứ không phải là một định lệ! Mấy chục năm trở lại đây rồi có người thích lấy những chữ có í nghĩa gần với í nghĩa của tên Tự để làm Biệt Hiệú.  

Trữ Nhân Hoạch (? - ?), cũng đời Thanh, viết:
- 'Tích Tử Tư, Mạnh Tử xưng Khổng Tử dịch viết Trọng Ni, vị văn hữu Biệt Hiệu dã! Cận thế tru sinh, tiểu lại dịch các dĩ Biệt Hiệu tiêu trí! Siểm du chi đồ bất cảm xưng kì Tự, huống hữu nhất mệnh giả hồ?! Cựu hữu thi vân:
                               Mạnh Tử danh Kha tính vị ngôn.
                               Như kim đạo hiệu khước phân nhiên.
                               Tử qui bản thị danh dương điểu,
                               Hựu yếu nhân xưng tác Đỗ quyên.
                                            /  Kiên Hồ Tập. Thập Tập. Qu. I. Biệt Hiệu  /.
- 'Ngày xưa, Tử Tư, Mạnh Tử gọi Khổng Tử thì cũng chỉ gọi [tên Tự] là Trọng Ni, chưa hề nghe  [Khổng Tử] có Biệt Hiệu bao giờ! Gần đây những bọn chẳng ra gì, những hạng chức vị thấp kém kẻ nào cũng lấy Biệt Hiệu để ra vẻ ta đây! Những bọn nịnh bợ rồi chẳng dám xưng tên Tự nữa là bọn quan lại địa vị thấp kém?! Ngày trước có bài thơ nói rằng:
                                                  Mạnh Tử tên Kha, họ chẳng truyền,
                                                  Như nay đạo hiệu cứ huyên thuyên.
                                                  Tử qui vốn chỉ là con cuốc,
                                                  Lại muốn người kêu, gọi Đỗ quyên.     

+ Tóm lại, có thể lấy 2 đoạn văn trên đây của Trương Nhĩ Kì và Trữ Nhân Hoạch để tổng kết về  nguyên tắc đặt tên Tự, tên Hiệu cũng như Biệt Hiệu. Và cũng cần thêm 1 điểm quan trọng:
Thời cổ, Tự, Hiệu thì ai cũng lấy được, nhưng lấy mà dám dùng hay không lại là chuyện khác.
Tên Tự, như đã biết, bao hàm í hướng Tu thân, Xử thế, nói khác đi, mỗi tên Tự hàm một mục tiêu cao xa nào đó mà người mang tên Tự đó phải nỗ lực thực hiện trong đời sống của mình, và cũng chắc chắn không bao giờ nào có 1 tên Tự nói người ta đi làm những hành vi bất thiện, đây chính là lí do tại sao những bọn nịnh bợ, chưa nói hạng ác nhân, không dám xưng tên Tự của mình!
Và như vậy, rồi ra cũng chỉ  những người Học, vấn hơn người, phẩm hạnh hơn người, mới có thể an nhiên, tự tại nói tên Tự của mình ra cho người khác biết.
Như đã thấy, Danh có thể lấy mà làm tên Tự, nhưng tự cổ không hề thấy có Lệ lấy Tính (tên Họ) làm tên Tự, hoặc ghép trong tên Tự (trường hợp tên Tự 2 Chữ, 3 Chữ).
                                                                           &  

** Tổng Quan

Căn cứ những gì đã tự thuật, có thể đưa ra 1 số nhận xét quan yếu sau dây về vấn đề tên Tự:

1. Cách đặt tên Tự

Căn cứ tương quan nào đó giữa Danh và Tự có thể phân tên Tự thành 2 nhóm:
(A). Danh / Tự tương quan.
- Ý nghĩa tương hợp cũng như tương phản: Các trường hợp 1/. và 4/.
- Cùng xuất xứ: Trường hợp 2/.
- Tự mô tả 1 tính chất, hay 1 đặc tính nào đó của Danh, hoặc Danh biểu thị 1 điều kiện nào đó cho 1 hành vi, 1 động tác.... được diễn tả qua tên Tự: Trường hợp 5/.
- Cùng trong 1 nhóm sự vật, sự việc có liên quan với nhau: Trường hợp 6/.
- Danh / Tự nhắc lại 1 sự việc, hay hợp thành 1 ý tưởng nào đó: Trường hợp 7/. và 9/.  
Cần nói rõ là tương quan Danh / Tự luận ở đây là 1 tương quan về nội dung.
- Các trường hợp tương quan giữa Danh / Tự Lục Dĩ Điềm đề cập - mà tôi đã dẫn ở Mục [I] và phân dưới các Số hạng 1/., 2/., 4/. chỉ là những tương quan thuần hình thức, do đó tôi không xếp các trường hợp này nhập phân Mục (A).
(B). Danh / Tự không tương quan.
Tức 2 trường hợp còn lại, trường hợp 3/. và trường hợp 8/.
Và nếu như phân định tương quan Danh/Tự theo 2 phương diện Nội dung/Hình thức trên đây thì những trường hợp Lục Dĩ Điềm đưa ra rồi có thể được liệt nhập phân Mục (B). này.
Và cũng cần nói thêm ở đây là những trường hợp lấy tên Tự Lục Dĩ Điềm đưa ra mà tôi đã nói ở 1 đoạn trước đây là những trường hợp không mấy thông dụng.

2. Số Chữ của tên Tự

Về việc này tôi đã đề cập 3 loại tên Tự: tên Tự 1 Chữ, tên Tự 2 Chữ và tên Tự 3 Chữ.
Cần nói thêm về 2 loại tên Tự 2 Chữ và tên Tự 3 Chữ như sau:
Có những tên Tự 2 Chữ thực ra chỉ là tên Tự 1 Chữ, nếu xét về  hàm í; chữ kia chỉ là hư ngữ.
Các Hư ngữ thường thấy trong tên Tự song âm là: Phủ, Tử, Chị...
Các thí dụ về trường hợp này dẫn trong bài này là: Ni Phủ, Tử Minh, Hối Chi, Tiến Chị...
4 tên Tự vừa kể, xét về mặt í nghĩa, có thể xếp vào loại tên Tự 1 Chữ.
Còn về tên Tự 3 Chữ, xét tên Tự 3 Chữ của những nhân vật Lịch sử Trung Quốc người ta sẽ thấy hầu hết đây là những tiếng Phiên âm từ những Ngôn ngữ thuộc nhóm Tộc ngữ Phức âm của 1 số dị vực, hoặc từ Phạn ngữ, hoặc từ Khiết Đơn ngữ, hoặc từ Kim ngữ.......Cho nên, những người có tên Tự 3 Chữ thì đây - hoặc là những người thượng tôn Phật giáo, hoặc là những nhân vật thuộc các dị tộc như Tiên Ti (Khiết Đơn), Nữ Chân (Kim)....... Như tên Tự 'Đà La Ní mà Lục Dĩ Điềm cho là khó hiểu chỉ là 1 tiếng phiên âm từ Phạn ngữ, có nghĩa là 'Thần chu. 1 vài thí dụ nữa:
+ Khiết Đơn.
Mộ Dung Hối (269 - 333), thủ lãnh Bộ tộc Tiên Ti vào cuối thời Tây Tấn (265 - 317), có tên Tự là Dịch Lạc Côi.
Gia Luật Ất Tân (? - 1081), đại thần Liêu quốc (907 - 1105), có tên Tự là Hồ Đổ Cổn.
+ Nữ Chân.
Hoàn Nhan Lâu Thất (? - 1130), đại tướng Kim quốc, có tên Tự là Át Lí Diễn.
Sau cùng, trước đây Lục Dĩ Điềm đã đề cập Trương Thiên Tích có tên Tự là Công Thuần Giả.
Danh và Tự ở đây đều là Chữ lấy từ Kinh Thi (Lỗ Tụng. Bí cung):                                                                                 
                          'Thiên tích Công thuần giá.  ('Trời ban phúc lớn cho Vuá).
Trương Thiên Tích (? - ?; tại vị: 363 - 376) là quân chủ nước Tiền Lương (301 - 376), là 1 trong 16 Nước ('Thập Lục Quốc') cát cứ Trung Hoa vào khoảng cuối thời Tây Tấn và nhiễu loạn triều Đông Tấn (317 - 420) tiếp theo đó hơn trăm năm, từ năm 304 tới 439.
Quân chủ 16 Nước này hầu hết là những người thuộc 5 Chủng tộc Hung Nô, Tiên Ti, Yết, Chi và Khương mà Sử học Trung Hoa gọi chung là 'Ngũ Hố ('5 Sắc tộc ở phương Bắc'), hay cũng còn gọi thời kì này là 'Ngũ Hồ Thập Lục Quốc', hay gọn và rõ hơn là 'Ngũ Hồ Loạn Hoá.
Và trong tập Bút kí 'Long Xuyên Biệt Chi (Qu. Hạ), Tô Triệt (1039 - 1112) cũng có đoạn chép về 1 vị đạo sĩ thời Ngũ Đại (907 - 960) tên Khuất Đột Vô Vi có tên Tự là Vô Bất Vị

Minh Di án:

Vương Sĩ Trinh (1634 - 1711) trong tập Bút kí 'Trì Bắc Ngẫu Đàm' (Qu. XXI. Nhất tư. Tự) cũng đã dẫn'Long Xuyên Biệt Chi khi đề cập Đạo sĩ Vô Bất Vi nói trên, có điều không rõ tại sao mà ông lại nói đạo sĩ này là người thời Tùy (589 - 618)?
Ngoài ra, cũng trong đoạn văn ngắn 'Nhất tư. Tứ ('Tên Tự 1 Chứ) trên đây Vương Sĩ Trinh còn dẫn Thi Văn tập của 1 vài học giả đề cập 1 số nhân vật Trung Hoa có tên Tự 3 Chữ, như:
+ Triều Cảnh Vu (1059 - 1129) tên Tự là Bá Dĩ Phủ.
Dẫn trong 'Lục Vụ Quan Văn Tập' của Lục Du 1125 - 1210).
+ Lưu Xưởng (1019 - 1068) lấy tên Tự là Bá Cống Phủ, em ông là Lưu Bân (1023 - 1089) thì lấy tên Tự là Trọng Nguyên Phủ. 
Dẫn trong bài 'Nguyên Phủ Mộ Chi của Âu Dương Tu (1007 - 1072).
Sau cùng, ông còn nêu thêm 2 ngườI nữa vào thời ông là Đào Nhất (? - ?), Tự là Chiêu Vạn Hữu và Phó Sơn (1605 - 1690) ngoài tên Tự là Thanh Chủ, còn tên Tự nữa là Công Chi Tha.

Triều Cảnh Vu đề cập trên đây tức Triều Duyệt Chi, em thứ Tư của Văn học gia Triều Bổ Chị  Lúc còn trẻ vì ngưỡng mộ nhân cách của Tư Mã Quang (1019 - 1086) bởi vậy đã lấy tên Hiệu là Cảnh Vụ Cảnh có nghĩa là 'ngưỡng mố, Vu có nghĩa là 'xa vời, cao xá.
Các tên Tự 3 chữ kể trên đây, 'Bá Dĩ Phú, 'Bá Cống Phú, 'Trọng Nguyên Phú, thật ra vốn chỉ là loại tên Tự 2 Chữ, các chữ 'Phú ở đây chỉ là hư từ, là trợ từ.
Về năm sinh, năm tử của Phó Sơn, theo ý Họa gia Du Kiếm Hoa (1895 - 1979) trong Bộ Từ điển trứ danh 'Trung Quốc Mĩ Thuật Gia Nhân Danh Từ Điển' của ông, thì còn có 2 Thuyết nữa là (1607 - 1684) và (1609 - 1690). Thuyết tôi ghi ở đây là thuyết của Du Kiếm Hoa.
Lại có thuyết nói ông sinh năm 1602, mất năm 1683. Phó Sơn Thi, Thư, Họa đều tinh thông.
Sau khi Thanh triều tiêu diệt Minh triều, Phó Sơn ở nhà đất, mặc áo đỏ để nuôi mẹ, và nhất định không ra làm quan! Thanh triều ép ông về Kinh nhận chức, ông lấy cái chết để từ chối, đành thả ông về. Tại quê nhà ông hành nghiệp I để sống, và nổi tiếng lương i. Ông còn lưu truyền lại 1 số I thư: 'Nữ Khoá, 'Nam Khoá, 'Ấu Khoá, 'Đại Tiểu Chư Chứng Phương Luận'.

Sau cùng, về tên Tự 1 Chữ thì Ngô Dực Phụng (1742 - 1819) đời Thanh cho biết:
- 'Nhất tư. Tự Đường thế tối đa, kiến vu Sử giả: - Phòng Nguyên Linh, Tự Kiều - Nhan Sư Cổ, Tự Trứu - Lí Chúng, Tự Sư - Trương Tuần, Tự Tuần - Quách Diệu, Tự Diệu - Lí Khôi, Tự Khôi - Lí Điều, Tự Kiên - Đậu Tư Nhân, Tự Thứ - Trương Nghĩa Phương, Tự Nghĩa. Hựu 'Ki. Đô Úy Lí Quân Bí danh Văn, Tự Ví.
                                              /  Tốn Chí Đường Tạp Sao. Đinh Tập  /.
- 'Tên Tự 1 Chữ thì đời Đường nhiều hơn cả, thấy trong Sử thư có: - Phòng Nguyên Linh, Tự là Kiều - Nhan Sư Cổ, Tự là Trứu - Lí Chúng, Tự là Sư - Trương Tuần, Tự là Tuần - Quách Diệu, Tự là Diệu - Lí Khôi, Tự là Khôi - Lí Điều, Tự là Kiên - Đậu Tư Nhân, Tự là Thứ - Trương Nghĩa Phương, Tự là Nghĩa. Và trong 'Bia khắc Tiểu sử Ki. Đô Úy ho. Li[cho biết] ông tên là Văn, tên Tự là Ví.  
                                                                           &
Phụ lục:

Thư tịch Trung Hoa phân 4 Bộ: Kinh, Sử, Tử, Tập, hoặc còn gọi Giáp, Ất, Bính, Đinh.
Kinh Bộ đứng đầu Tứ Bộ và 'Dịch Kinh' đứng đầu Kinh Bộ. Trong các Sách về Thư mục học cô? Dịch Kinh luôn luôn được để ở hàng đầu.
Đây là một bô. Kinh rất khó đọc với văn từ phần lớn là những hình ảnh tượng trưng, có khả năng gợi í rất cao, cùng 1 câu có thể suy diễn nhiều đường khác nhau - và nếu sử dụng chính ngôn từ Dịch mà nói thì đây chính là:
- 'Nhân giả kiến chi vị chi nhân, trí giả kiến chi vị chi trị
(Dịch. Hệ từ Thượng. V).
- 'Người nhân thấy đó thì gọi là nhân, người trí thấy đó thì gọi là trị
Do đó, đọc Dịch mỗi người rồi có thể tự tạo cho mình 1 thế giới riêng, tùy khả năng lí luận.
Do đó, nhìn từ một góc độ nào đó, có thể coi đây như là một 'Trò chơi Lí luận' - có điều đây là 1 trò chơi không phải ai cũng có thể chơi được.
1 trò chơi rất khó chơi, nhưng cũng là 1 trò chơi rất thú vị.
Không thú vị sao được khi mà số lượng các Bản chú giải Dịch Kinh rồi vượt rất xa số lượng các Bản chú giải các Bộ Kinh khác.
Tự cổ đã vậy mà đến nay địa vị của Dịch Kinh vẫn không hề suy giảm.
                                                                           *
Chỉ cần để ý một chút thì có thể thấy Danh, Tự của các nhân vật Lịch sử Trung Quốc lấy Chữ từ Dịch Kinh rồi nhiều hơn bất cứ bô. Kinh nào hết! Ở những đoạn trước đây tôi cũng đã trưng dẫn một số nhân vật Lịch sử có Danh, Tự lấy Chữ từ Kinh Dịch, sau đây tôi kể thêm một số nữa - và những người được dẫn ra ở đây là những người có hoặc Danh, hoặc Tự, hoặc cả 2, là những chữ trong Kinh Dịch và tương quan Danh/Tự ở đây hầu hết là những trường hợp phân tích trước đây và, như có trường hợp nào chưa được đề cập, trường hợp này, tôi sẽ có vài giòng ghi chú.
Vì chủ yếu nhằm vào 1 số những từ ngữ trong Kinh Dịch, cho nên ở đây có một vài nhân vật tuy không có tên Tự nhưng Tên gọi hoặc là 1 Chữ, hoặc là 1 Từ ngữ, hoặc là 1 câu trong Kinh Dịch cho nên cũng được liệt trong phần này. Cũng cần nói rõ ở đây, danh sách sau đây không phải là tất cả Danh / Tự của những nhân vật có chữ lấy từ Kinh Dịch.
Có thể nói là những nhân vật có Danh, Tự, Hiệu lấy chữ từ Kinh Dịch từ thời Đường (618 - 907) trở về trước rất hiếm, từ Đường trở về sau thì nhiều dần, nhất là Thanh triều (1644 - 1911).
Trong phần tự thuật sau đây, các nhân vật chủ yếu được ghi theo 2 lệ:
(1). Theo Quẻ Dịch.
Những nhân vật có Danh, Tự, Hiệu lấy chữ từ cùng 1 Quẻ Dịch sẽ được xếp vào cùng 1 nhóm và theo thứ tự trước sau của Quẻ trong 64 Quẻ Dịch.
(2). Theo nguyên tắc lấy tên Tự, tên Hiệu.
Nếu cùng lấy tên Tự, hoặc tên Hiệu, từ 1 Quẻ (từ tên Quẻ, từ Thoán từ, Hào từ.....), lại cùng theo 1 nguyên tắc lấy tên Tự, tên Hiệu các nhân vật sẽ được xếp cùng 1 Nhóm.
(3). Tên của những nhân vật là chữ lấy từ Quái từ, Thoán từ, hào từ, hay Hệ từ...... sẽ được xếp ở phần cuối, trừ khi nào đây là những nhân vật có năm sinh, năm tử, hoặc Tên là tên của một Quẻ trong 64 Quẻ, trường hợp này sẽ được xếp theo 2 lệ kể trên.

Ở đây, các nhân vật được liệt kê theo thứ tự triều đại trước sau - do đó, theo lí mà luận thì trong mỗi triều đại các nhân vật cũng phải được liệt kê theo thứ tự thời gian.
Tuy nhiên, với 2 lệ đưa ra trên đây, một tự thuật thuần theo niên đại nhân vật hầu như không thể làm được.
                                                                           *

+ Đường triều.
1). Tịch Dự (680 - 748), Tự là Kiến Hầu. (Thi từ gia).
Quẻ Dự (Chấn / Khôn), Quái từ:
- 'Dự. Lợi kiến Hầu, hành sứ.
- 'Quẻ Dự. Lợi trong việc lập các Chư Hầu, (cũng như) xuất sư chinh phạt'.
Dự là Quẻ thứ 16 trong 64 Quẻ Dịch.
Huyền tông (685 - 762; tại vị: 712 - 756) có lần cùng đình thần xướng họa Thi Phú, thơ Tịch Dự được Phê là - 'Thi nhân chi thủ xuất, tác giả chi quán miện.' ('Vượt trên các thi nhân, đứng đầu các tác giá). Bộ 'Toàn Đường Thí sưu tập được 5 bài thơ của Tịch Dự.
Tiến sĩ và từng làm tới Lễ bô. Thượng thư khoảng đầu Niên hiệu Thiên Bảo (742 - 756). 
2). Đỗ Hồng Tiệm (709 - 769), Tự là Chi Tốn. (Đại thần).
Tiệm (Tốn / Cấn) là Quẻ 53 trong 64 Quẻ.  6 hào Quẻ Tiệm đều mở đầu với câu 'Hồng tiệm'.
Chữ 'Tốn' trong tên Tự ở đây là Quẻ Tốn (Tốn / Tốn), chữ 'Chí nghĩa là 'đi tớí.
Tiệm có nghĩa là 'từ từ, dần dần'. Trong Quẻ, các Hào tuần tự đi từ dưới lên và ở đây Quẻ Tiệm dưới là que? Cấn, trên là que? Tốn, que? Cấn các hào tuần tự đi lên để đi đến que? Tốn. 
Trường hợp lấy tên Tự này chưa được đề cập trước đây, có thể thêm ở đây trường hợp thứ 10.
Quan chức tới Tể tướng (năm 764). Về già rất sùng Phật giáo, vào triều rất ưa nói Phật sự. 
3). Đỗ Hoàng Thường (738 - 808). (Đại thần).
Quẻ Khôn (Khôn / Khôn), hào 6/5:
- 'Hoàng thường, nguyên cát'.
- 'Phần dưới của I phục (có) màu vàng, (đây) là điều rất tốt lành'. 
Quẻ Khôn là Quẻ thứ 02 trong 64 Quẻ Dịch.
Đỗ Hoàng Thường là đại thần Đường triều.
4). Lí Tốn (749 - 809), Tự là Lệnh Thúc. (Đại thần, Thư pháp gia).
Quẻ Tốn (Tốn / Tốn), Thoán từ:
- 'Trùng Tốn dĩ thân mệnh'.
- '2 que? Tốn là theo đó để ban bố mệnh lệnh'.
Chữ 'Lệnh' trong tên Tự đồng nghĩa với chữ 'Mệnh'.
Lại Bộ Thượng thư thời Đường Thuận tông (761 - 806; tại vị: 805 - 806).
5). Viên Trung Phu (? - ?). (Thư pháp gia).
Trung Phu (Tốn / Đoài) là Quẻ thứ 61 trong 64 Quẻ Dịch.
1 trong 28 người trứ danh 'tinh học Thư triện' trong khoảng sơ kì và trung kì Đường triều, trong khoảng từ Niên hiệu Trinh Quan (627 - 649) tới Niên hiệu Nguyên Hòa (806 - 820).
6). Thẩm Kí Tế (~ 750 - ~ 800). (Văn học gia).
Kí Tế (Khảm / Li) là Quẻ thứ 63 trong 64 Quẻ Dịch.
Thẩm Kí Tế là tác giả bộ tiểu thuyết nổi tiếng 'Chẩm Trung Ki.
7). Lí Quán (766 - 794), Tự Nguyên Tân. (Văn học gia).
Quẻ Quan (Tốn / Khôn), 6/4:
- 'Quan quốc chi quang, lợi dụng tân vu vương'.
- 'Chiêm ngưỡng cảnh thịnh trị của quốc gia, tốt nhất là giữ cương vị khách của quốc quân'.
Quan, cũng đọc âm Quán, là Quẻ thứ 20 trong 64 Quẻ Dịch.
Lí Quán và văn hào Hàn Dũ (768 - 824) đương thời tiếng tăm ngang nhau.
Trong bài 'Lí Nguyên Tân Mộ Chí Minh', Hàn Dũ có đoạn nói về Lí Quán như sau:
- 'Nguyên Tân tài cao hồ đương thế, nhi hạnh xuất hồ cổ nhân'.
- 'Nguyên Tân tài cao đương thế, và đức hạnh vượt cả người xưá.
8). Cát Trung Phu (? - ?). (Thi nhân).
+ Triệu Tống.
1). Phạm Thản (? - ?), Tự là Bá Lí. (Họa gia).
Quẻ Lí (Càn / Đoài), hào 9/2:
- 'Lí đạo thản thản'.
- 'Đường đi bằng phẳng'.
Lí là Quẻ thứ 10 trong 64 Quẻ Dịch.
Phạm Thản sở trường về Sơn thủy, chim chóc, hoa cỏ, bút pháp lão luyện, cứng cỏi. Về Sơn thủy ông học theo các Họa gia Quan Đồng (? - ?), Lí Thành (919 - 967) thời Ngũ Đại.
2). Vương Thập Bằng (1112 - 1171), Tự là Qui Linh. (Học giả, Thi nhân).
Quẻ Tổn (Cấn / Đoài), hào 6/5, Quẻ Ích (Tốn / Chấn), hào 6/2 đều nói:
- 'Hoặc ích chi thập bằng chi quí.
- 'Có người đem cho cái mai rùa lớn đáng giá 10 cái vỏ só.
(Thời tối cổ chưa có tiền tệ người ta dùng vo? Sò như là 1 thứ hóa tệ, bên cạnh 1 số thứ khác, như vải chẳng hạn, để trao đổi vật sản).
Quẻ Tổn và Quẻ Ích là 2 Quẻ liền nhau, Quẻ thứ 41 và Quẻ thứ 42 trong 64 Quẻ.
3). Ngô Ích (? - ?), Tự là Thúc Khiêm. (Thư pháp gia).
Quẻ Khiêm (Khôn / Cấn), Thoán từ:
- 'Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm'.
- 'Đạo trời bớt chỗ đầy và bù chỗ vơí.
(Đạo trời ở đây chỉ qui luật thiên nhiên).
Quẻ Khiêm là Quẻ thứ 15 trong 64 Quẻ Dịch.
4). Đổng Chấn (1213 - 1280), Tự là Đông Phát. (Học giả).
Dịch. Thuyết Quái (V):
- 'Vạn vật xuất hồ Chấn, Chấn, Đông phương dá.
- 'Vạn vật xuất từ Chấn, Chấn là phương Đông'.
Chữ 'Phát' trong tên Tự 'Đông Phát', đồng nghĩa với chữ 'xuất'.
Quẻ Chấn là Quẻ thứ 51 trong 64 Quẻ Dịch.
5). Cao Nguyên Hanh (? - ?). (Họa gia).
Nguyên Hanh là Thệ từ (lời Bói) thường thấy ở cuối 1 số hào từ trong Kinh Dịch.
Cao Nguyên Hanh là Họa gia triều Bắc Tống, chuyên vẽ nhân vật, nhất là những nhân vật trong lãnh vực Phật giáo và Đạo giáo.
6). Lữ Nguyên Hanh (? - ?). (Họa gia).
Sở trường vẽ bông hoa, chim chóc.
7). Dịch Nguyên Cát (? - ?). (Họa gia).
2 tiếng 'Nguyên cát' là 1 Thệ từ (lời Bói) thường thấy ở cuối 1 số Hào từ trong Kinh Dịch.
Chuyên vẽ bông hoa, chim chóc, ong bướm, người đương thời cho là sau Từ Hi (? - ?) - Họa gia thời Nam Đường (937 - 975), chỉ mình ông tài hoa nhất. 
8). Hàn Nguyên Cát (? - ?). (Thư pháp gia).
Năm 1163, 1164 từng nhiệm chức Chuyển Vận sứ vùng Giang, Hoài.
9). Dương Vô Cửu (1097 - 1169), Tự là Bổ Chị (Thư, Họa gia).
Dịch. Hệ từ Thượng, (Thiên III):
- 'Vô cửu giả, thiện bổ quá dá.
- 'Không có lỗi vì biết mau mắn sửa lỗí.
Về Thư pháp học theo Thư pháp gia Âu Dương Tuân (557 - 641) đời Đường, về Hội họa ông học Lí Công Lân (1049 - 1106). Ông sử dụng Thư pháp Âu Dương Tuân vẽ Mai rất đẹp. Các thứ như Tùng, Trúc, Thạch, Thủy tiên cũng khéo. 

+ Liêu. Kim. Nguyên triều.
1). Kim Lí Tường (1232 - 1303), Tự là Cát Phủ. (Học giả).
Quẻ Lí (Càn / Đoài), hào Thượng lục:
- 'Thị lí khảo tường, kì tuyền nguyên cát'.
- 'Xem xét những gì trải qua thì rõ tốt xấu, hay dở, nếu mọi việc đều chu toàn thì rất tốt'.
Kim Lí Tường là đệ tử của Hà Cơ (1188 - 1268), Thư pháp gia nổi tiếng về Khải thư, và là đệ tử đời thứ 2 của Chu Hi (1130 - 1200).
2). Hứa Khiêm (1270 - 1337), Tự là Ích Chị (Học giả).
Thụ nghiệp học gia? Kim Lí Tường (1232 - 1303) nói trên.
3). Chu Chấn Hanh (1281 - 1358), Tự là Ngạn Tụ (Y Dược học gia).
Quẻ Chấn (Chấn / Chấn), Quái từ:
- 'Chấn, hanh'.
- 'Quẻ Chấn, mọi sự (rồi) êm xuôí.
Quẻ Chấn (Chấn / Chấn), Đại Tượng từ:
- 'Tiến lôi, Chấn, quân tử dĩ khủng cu. Tu tỉnh'.
- 'Sấm sét ầm ầm, là Tượng của Quẻ Chấn, quân tử coi đó, sinh lòng sợ hãi mà Tu tỉnh'.
Chấn là Sấm sét. Sấm sét khiến người ta kinh sợ, vì có thể gây thương tổn cho thân thể. Từ ý này chuyển qua ý kinh sợ điều bất thiện có thể làm hại đức hạnh.
Chu Chấn Hanh là Y Dược học gia trứ danh sơ kì Nguyên triều, trứ danh với thuyết 'Bổ Âm', đã nhận định rằng trong cơ thể 'Dương thường hữu dư, Âm thường bất túc', bởi vậy ông chủ trương  'Dưỡng Âm'. Khoảng 300 năm sau Trương Giới Tân (1563 - 1640) đã bác bỏ nhận định nói trên và nhận định Sinh mệnh lấy Dương khí làm chủ, mà Dương khí thì vốn 'nan đắc, dị thất', vì vậy cần bô? Dương, từ đó đưa ra thuyết 'Ôn Bố. Thuyết này được trình bày tường tận trong Bộ Y thư chủ yếu của Trương Giới Tân là bộ 'Cảnh Nhạc Toàn Thứ. Cảnh Nhạc là tên Hiệu của ông.
2 Thuyết trên đây mỗi Thuyết đều có điểm cực đoan nhưng vẫn có chỗ khả thủ, người học Y cần châm chước trên thực tế lâm sàng để có thể nắm được chỗ khả thủ đó.
4). Lưu Lí (? - ?), Tự là Thản Nhiên. (Họa gia).
Tham khảo trường hợp Phạm Thản ở phần trước.
5).Vương Đỉnh (? - ?), Tự là Đức Tân. (Họa gia).
Dịch. Tạp Quái:
- 'Cách, khứ cố dã, Đỉnh, thủ tân dá.
- 'Quẻ Cách là bỏ cái cũ, Quẻ Đỉnh là theo cái mớí.
Quẻ Cách (Đoài / Li), Quẻ Đỉnh (Li / Tốn) là 2 Quẻ đứng liền nhau, Quẻ 49 và 50.
Vương Đỉnh là 1 Họa gia sở trường vẽ Trúc.
6). Lưu Thế Hanh (? - ?), Tự là Gia Phủ. (Họa gia).
Càn. Văn ngôn:
- 'Hanh giả, gia chi hội dá.
- 'Hanh là sự hội hợp của các điều tốt đẹp'.
Lưu Thế Hanh sở trường về Mặc trúc.
7). Triệu Nguyên (? - 1372), Tự là Thiện Trưởng. (Họa gia).
Triệu Nguyên sở trường về Sơn thủy họa.
8). Trương Trung Phu (? - ?), Tự là Tín Phủ. (Thư pháp gia).
Dịch. Tạp Quái:
- 'Trung Phu, tín dá.
- '(Quẻ) Trung Phu có nghĩa là tin'.
Trương Trung Phu sống dưới triều Liêu (907 - 1125).
+ Minh triều.
1). Lai Phục (1319 - 1391), Tự là Hiện Tâm. (Thư pháp gia).
Quẻ Phục (Khôn / Chấn), Thoán từ:
- 'Phục kì hiện thiên địa chi tâm hồ?'.
- 'Quẻ Phục là lúc tâm của trời đất chớm hiện đó chăng?'.
Quẻ Phục là Quẻ thứ 24 trong 64 Quẻ Dịch.
Lai Phục là 1 hòa thượng, tục tính Hoàng.
Thư pháp của ông có nét từa tựa Thư pháp của Thư pháp gia Triệu Mạnh Phủ (1254 - 1322).
2). Trương Phục (1403 - 1490), Tự là Phục Dương. (Thư, Họa gia).
Coi Thoán từ Quẻ Phục (Khôn / Chấn) đã dẫn ở 1 đoạn trên.
1 hào Dương của Quẻ Phục, tượng trưng sự trở lại của Dương, do đó lấy tên Tự Phục Dương
Thư pháp Trương Phục phảng phất Thư pháp của Triệu Mạnh Phủ (1254 - 1322). 
Về Họa, Trương Phục mô phỏng bút pháp của Ngô Trấn (1280 - 1354). Ông là 1 Đạo sĩ.
3). Trương Thiên Phục (? - ?), Tự là Phục Hanh.
Quẻ Phục (Khôn / Chấn), Quái từ:
- 'Phục, hanh. Xuất nhập vô tật, bằng lai vô cửú.
- 'Quẻ Phục, (mọi việc) êm xuôi, ra vào tật bệnh, bạn bè tới cũng không phạm lầm lỗí.
Trương Thiên Phục, tiến sĩ năm 1547, có tài Thi từ, Thư pháp.
4). Ngô Lí (? - ?), Tự là Đức Cơ. (Thư pháp gia).
Dịch. Hệ từ Hạ. VII:
- 'Thị cố, Lí đức chi cơ dá.
- 'Cho nên, Quẻ Lí là nền tảng của đức hạnh'.
Ngô Lí là Thư pháp gia sơ kì Minh triều sở trường về các thể Hành thư và Thảo thự
Trong khoảng Niên hiệu Hồng Vũ (1368 - 1398) ông là Tri huyện Nam Khang, Giang Tây.
5). Triệu Khiêm (1351 - 1395), Tự là Huy Khiêm. (Khảo cứ học gia, Văn tự học gia).
Quẻ Khiêm (Khôn / Cấn), Hào 6/4:
- 'Vô bất lợi huy khiêm'.
- 'Trải lòng khiêm cung ra thì không việc gì mà không thuận lợí.
Triệu Khiêm, trước tên Triệu Cổ Tắc, sau đổi thành Triệu Khiêm, lấy tên Tự là Huy Khiêm.
6). Vương Cấn (? - 1402), Tự là Kính Chỉ. (Sử học gia).
Quẻ Cấn (Cấn / Cấn), Thoán từ:
- 'Cấn, chỉ dã. Thời chỉ tắc chỉ, thời hành tắc hành, động tĩnh bất thất kì thờí.
- 'Cấn có nghĩa là Ngừng. Thời (đến phải) ngừng thì ngừng, Thời hành động thì hành động, dầu động hay tĩnh cũng không nghịch Thờí.
Cấn là Quẻ thứ 52 trong 64 Quẻ Dịch.
Vương Cấn từng giữ chức Tu Soạn, là chức đứng đầu các Sử quan trong Hàn Lâm viện.
7). Lưu Tự Cường (1508 -1582), Tự là Thể Càn. (Đại thần).
Quẻ Càn (Càn / Càn), Đại Tượng từ:
- 'Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức'.
- 'Đạo trời vận hành mạnh mẽ, quân tử coi đó mà cố gắng không ngừng nghí.
Hình bô. Thượng thư năm 1570.
8). Mã Tự Cường (1513 -1578), Tự là Thể Càn. (Đại thần).
Mã Tự Cường có tên Hiệu là Càn Am. Lễ bô. Thượng thư năm 1570.
9). Lữ Kiện (? - ?), Tự là Lục Dương. (Họa gia).
Chữ 'Kiện' đây tức chi? Quẻ Càn. Càn 6 hào đều Dương, do đó lấy tên Tự là 'Lục Dương'.
Chuyên vẽ bông hoa, chim chóc. 'Hoa Điểu Đố ông vẽ năm 1592 hiện lưu trữ ở Bắc Kinh.
10). Lí Triệu Hanh (? - ?), Tự là Hội Giạ (Thư, Họa gia).
Càn. Văn ngôn:
- 'Hanh giả, gia chi hộí.
- 'Hanh là sự hội hợp các điều tốt đẹp'.
11). Trâu Ứng Long (? - ?), Tự là Vân Khanh.
Quẻ Càn, Văn ngôn:
- 'Vân tòng Long, phong tòng Hố.
- 'Mây theo Rồng, gió theo Cọp'.
Tiến sĩ khoảng Niên hiệu Gia Tĩnh (1522 - 1566). Trong thời gian nắm chức Ngự sử ông đã từng liên kết với Lâm Nhuận (1530 - 1569), tố cáo cha con quyền thần Nghiêm Tung (1480 -1569) về những tội lạm quyền, tham nhũng.....
12). Mao Khôn (1512 -1601), Tự Thuận Phủ. (Văn học gia).
Quẻ Khôn (Khôn / Khôn), Văn ngôn:
- 'Khôn đạo kì thuận hồ?'.
- 'Bản chất của Khôn là thuận đó chăng?'.
Mao Khôn là người đầu tiên phê bình, nhận định là văn gia Trung Quốc, từ Đường đến Tống, có tất cả 8 Văn hào, tức sau này gọi là 'Đường Tống Bát Đại Giá:
Đường: Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên.
Tống: Âu Dương Tu, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt, Vương An Thạch, Tăng Củng.
Ông soạn 'Tam Tô Văn Saó, 'Đường Tống Bát Đại Gia Văn Saó.
13). Tiền Tượng Khôn (1569 - 1640), Tự Hoằng Tái. (Văn học gia).
Quẻ Khôn (Khôn / Khôn), Thoán từ:
- 'Khôn hậu tái vật, đức hợp vô cương'.
- 'Khôn rộng bao la chở (vạn) vật, đức không bến bớ.
Đương thời Tiền Tượng Khôn, Tiền Khiêm Ích (1582 - 1664), Tiền Long Tích (~ 1579 - 1645) và             Tiền Sĩ Thăng (1575 - 1652) được gọi là 'Tứ Tiền'. Ông là Lễ bô. Thượng thư năm 1628.
14). Viên Hoàng (? - ?), Tự Khôn Nghị (Sử học gia, Học giả).
Hoàng là Sắc vàng, sắc của Đất (Khôn), do đó lấy tên Tự là Khôn Nghị (Nghi = Tiêu chuẩn).
Viên Hoàng học thức rộng, từ Lịch pháp, Âm nhạc, Binh pháp, Địa lí, Tinh mệnh, Thủy lợi học... không khoa nào ông không đọc. Ông thường được biết nhiều hơn qua tên hiệu Liễu Phàm.
15). Hoàng Mông (? - ?), Tự Dưỡng Chính. (Thư pháp gia).
Quẻ Mông (Cấn / Khảm), Thoán từ:
- 'Mông dĩ dưỡng chính'.
- 'Lấy cái tâm thuần khiết để dưỡng sự ngay thẳng'.
Mông là Quẻ thứ 4 trong 64 Quẻ Dịch.
Sở trường Khải thự
16). Lí Dưỡng Chính (1559 - 1630), Tự Nhược Mông. (Đại thần).
Hình bô. Thượng thư năm 1625.
17). Bao Dung (? - ?), Tự là Mông Cát.
Quẻ Mông, hào Cửu nhị:
- 'Bao mông, cát'.
- 'Bao dung kẻ không biết thì đây là điều tốt'.
Bao Dung về các phương diện Thi, Thư, Họa đều tài.
18). Lâm Quán (? - ?), Tự là Dụng Tân. (Thư pháp gia).
Trường hợp lấy tên Tự ở đây như trường hợp Lí Quán đời Đường đã nói trước đây.
Lâm Quán sống vào khoảng đầu Minh triều, sở trường Lệ thự
19). Thẩm Quán (? - ?), Tự là Dụng Tân. (Họa gia).
Sơn thủy học tập Mã Viễn (? - ?) thời Nam Tống (1127 - 1279).
20). Từ Quán (? - ?), Tự là Thượng Tân. (Thư pháp gia).
Thượng Tân nghĩa là 'chuộng khách'.
Người Cao Li rất quí Thư pháp của Từ Quán, mỗi lần Sứ giả nước này vào Trung Hoa mua được Tự thiếp của ông thì rất hãnh diện.
21). Trần Di (? - ?), Tự là Khắc Dưỡng. (Họa gia).
Dịch. Tự Quái (Thượng):
- 'Di giả, dưỡng dá.
- 'Di có nghĩa là nuôi dưỡng'.
Di (Cấn / Chấn) là Quẻ thứ 27.
Sở trường vẽ nhân vật, bông hoa, chim chóc.
22). Ngô Hồng (? - ?), Tự là Lục Tiệm. (Thư pháp gia).
Quẻ Tiệm (Tốn / Cấn):
Thượng cửu: Hồng tiệm vu lục......
9/5: Hồng tiệm vu lăng......
6/4: Hồng tiệm vu mộc......
9/3: Hồng tiệm vu lục......
6/2: Hồng tiệm vu bàn......
Sơ lục: Hồng tiệm vu can......
6 hào đều có chữ tiệm, cho nên lấy tên Tự là Lục Tiệm.
23). Vương Bàn (? - ?), Tự Hồng Tiệm. (Họa gia).
Tên Tự, như có thể thấy ngay, xuất từ hào 6/2 Quẻ Tiệm.
Sở trường vẽ Cúc hoa.
24). Từ Trinh Minh (? - 1590). (Thủy Lợi học gia).
Dịch, Hệ từ Hạ (01):
- 'Nhật nguyệt chi đạo trinh minh giả dá.
- 'Đạo Âm Dương có tính chất sáng rõ và bền vững'.
Từ Trinh Minh là một Thủy lợi học gia từng đề nghị thực thi việc dẫn thủy nhập điền tại Khu vực Kinh thành, soạn cuốn 'Lộ Thủy Khách Đàm' luận về 14 lợi ích của thủy lợi tại Bắc phương đã thí nghiệm có kết quả. Sau đó ông được tiến cử làm Thiếu khanh, kiêm Giám sát Ngự Sử, và lãnh khai khẩn ruộng đất. Việc làm của ông bị giới quyền quí cản trở, vì đụng chạm quyền lợi.
25). Viên Ứng Thái (? - 1621), Tự là Đại Lai. (Tướng lãnh).
Quẻ Thái (Khôn / Càn), Quái từ:
- 'Thái, tiểu vãng đại lai, cát hanh'.
- 'Quẻ Thái, nhỏ đi lớn lại, tốt đẹp, xuông xé.
'Nhó đây chỉ que? Khôn, 'Lớn' đây chỉ que? Càn.
26). Thường Trung Phu (? - ?). (Thợ luyện kim, thợ ngọc).
27). Hoàng Thường (? - ?).
Đạo sĩ. Thi, Thư, Họa đều tinh.
28). Hoàng Hoàng Thường (? - ?). Trà hồ nghệ nhân.
Chuyên làm Trà hồ bằng thiếc. Trà hồ của ông rất là tinh xảo, vang danh một thời. Bình chế tạo bằng thiếc mà coi chẳng khác chi bạc.
29). Thẩm Trinh Cát (? - ?). (Họa gia).
Thẩm Trinh Cát là 1 Đạo sĩ.
30). Hoàng Nguyên Cát (? - ?). (Tử sa hồ nghệ nhân).
+ Thanh triều.
1). Lí Quang Địa (1642 - 1718), Tự là Tấn Khanh. (Học giả)
Quang là Sáng, Địa là Đất. Quang ở đây tức que? Li, Địa ở đây tức que? Khôn, trên Li, dưới Khôn là Quẻ Tấn, do đó lấy tên Tự là Tấn Khanh. Từ Danh chuyển qua Tự, là những chữ tương đương trong Kinh điển, đây lại là 1 trường hợp nữa, trường hợp 11, về cách đặt tên Tự.
Lí Quang Địa là đại thần và học giả tiếng tăm, Chủ biên bộ 'Chu Dịch Chiết Trung', biên soạn năm 1715, theo lệnh của Thanh Thánh tổ, tức Khang Hi (1654 - 1722; tại vị: 1661 - 1722).
Về quan điểm chú giải, nhóm Biên soạn 'Chu Dịch Chiết Trung' kiêm dụng thuyết của 2 học gia?  Trình Di (1033 - 1107), Chu Hi (1130 - 1200), tức kiêm Nghĩa Lí / Tượng Số. Ngoài ra, còn tập các thuyết về Dịch từ Tần, Hán, cân nhắc các thuyết, và đưa ra nhận định trung dung, vì vậy mà gọi là 'Chiết Trung'. Đây là tác phẩm tiêu chuẩn trong việc giảng tập Kinh Dịch.
Các bản dịch Dịch Kinh nổi tiếng như Bản Anh ngữ của James Legge (1815 - 1897) - và nhất là Bản Đức ngữ của Richard Wilhelm (1873 - 1930) đều đã căn cứ bộ 'Chu Dịch Chiết Trung'.
2). La Khôn (? - ?), Tự là Hoành Tái. (Thư, Họa gia).
Quẻ Khôn (Khôn / Khôn), Thoán từ:
- 'Khôn hậu tái vật, đức hợp vô cương'.
- 'Khôn rộng bao la chở (vạn) vật, đức không ranh giớí.
(Khôn đây là Không gian suy niệm, bao hàm khái niệm Chứa).   
La Khôn sống dưới thời triều Khang Hi (1662 - 1722). Ông còn là 1 Họa gia vẽ Trúc và Cây.
3). Ngô Khôn (? - ?), Tự là Giai Lục. (Văn, Họa gia)
Quẻ Khôn (Khôn / Khôn) 6 hào đều Âm, do đó lấy tên Tự là 'Giai Lục', nghĩa là 'Đều Âm'.
Trong Dịch Kinh, hào Âm được gọi là 'Lục' (Số 6), hào Dương được gọi là 'Cửú (Số 9).
Ngô Khôn có tài viết văn, ca hát, lại thêm tài vẽ Sơn thủy.
4). Từ Khôn (? - ?), Tự là Tái Phụ (Thư, Họa gia).
Tinh Lục thư, và về Họa thì thích vẽ Bướm.
5). Cúc Lí Hậu (? - ?), Tự Khôn Cao. (Văn tự học gia).
Tinh thông Lục thư, khắc ấn khéo, có tập 'Ấn Văn Khảo Lược'.
6). Lí Hàm Chương (? - ?), Tự là Lan Trinh. (Thư pháp gia, Thi từ gia).
Quẻ Khôn (Khôn / Khôn), hào 6/3:
- 'Hàm chương khả trinh, hoặc tòng vương sự vô thành hữu chung'.
- 'Che giấu vẻ sáng đẹp đi mới có thể bền vững, (hành xử như vậy để) theo giúp bậc quân vương dầu không thành công đi nữa cũng trọn được đạo bề tôí.
Lí Hàm Chương là nữ Thư pháp gia đời Thanh, Tiểu Hành thư của bà có vẻ nhàn nhã, đẹp đẽ và cứng cỏi. Ngoài ra bà còn có tài sáng tác thi, từ.
Về hào 6/3 của Quẻ Khôn này có 1 chuyện khá thú vị.
Trước đây gần 40 năm, có người nói không riêng Việt Nam mới có Thể thơ Lục Bát, đây cũng là 1 thể thơ của Trung Hoa:
                                        Lục tam hàm chương khả trinh, 
                                        Hoặc tòng vương sự vô thành hữu chung.
Dĩ nhiên, đây chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, chỉ thuần căn cứ 2 Câu trên đây để vội đưa ra 1 kết luận như trên thì phải nói đây là một suy diễn quá lố, nếu không muốn nói là lố bịch.
7). Lí Khôn (1866 - 1916), Tự Hậu An. (Thư pháp gia).
Tên Tự của Lí Khôn lấy chữ từ Thoán từ Quẻ Khôn, như trường hợp của La Khôn, Từ Khôn.
Về Thư pháp, 2 thể Hành thư, Thảo thư, Lí Khôn học được hết Bút pháp của Triệu Mạnh Phủ.
Về Thi văn, có 'Tư Đình Thi Văn Saó, 'Tề Phong Thuyết', 'Ôn Tuyền Chị
Ông đậu tiến sĩ năm 1903.
8). Diệp Tử Càn (? - ?), Tự là Hành Kiện. (Họa gia).
Chuyên vẽ hoa cỏ, chim chóc, La hán. Theo đường lối của 'Viện Thế.
Quẻ Càn (Càn / Càn), Đại Tượng từ:
- 'Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức'.
- 'Đạo trời vận hành mạnh mẽ, quân tử coi đó mà cố gắng không ngừng nghí.
(Đạo trời đây tức chỉ sự 'Biến dịch' trong vũ trụ).
9). Trần Càn (? - ?), Tự là Kiện Hành. (Họa gia).
Trần Càn là 1 Họa gia chuyên vẽ nhân vật.
10). Khấu Kiện (? - ?), Tự Tượng Càn. (Họa gia).
Sở trường về Sơn thủy họa và vẽ Vượn với nhiều tư thế rất sinh động.
11). Hoàng Hành Kiện (? - ?), Tự là Tử Càn. (Họa gia).
Sở trường Hoa điểu và Nhân vật. Ông vẽ bức 'Độ Hải La Hán Đố, đường nét tinh tế không thua Lí Long Miên (1049 - 1106).
12). Diệp Tiêu Nguyên (? - ?), Tự là Thủ Càn.
Quẻ Càn có 4 Đức: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh.
Nguyên đứng đầu 4 Đức, do đó, lấy tên Tự là Thủ Càn, nghĩa là 'Đức đầu tiên của Càn'.
Về Thi từ, từ í mới lạ, không dùng những từ, í người trước đã dùng (Khứ tận trần ngôn).
Về Thư, Họa có nét độc đáo, tự thành 1 phong cách riêng.
Diệp Tiêu Nguyên đậu tiến sĩ năm 1742.
13). Uông Long (? - ?), Tự là Tiềm Dã. (Họa gia).
Quẻ Càn, hào Sơ cửu:
- 'Tiềm long, vật dụng'.
- 'Rồng (còn) ẩn, chớ hành động'.
Rồng ẩn ở đây í nói người hiền năng còn trong thời gian trau dồi đức hạnh cũng như tài năng và vì đức hạnh chưa thành tựu nên không ra xã hội hoạt động.
Uông Long và cha là Uông Hạo (? - ?) đều tinh thông Hội họa, tiếng tăm truyền khắp cả 2 vùng Lưỡng Giang (tức Giang Tô và An Huy), và được gọi là 'Phụ tư? Song tuyệt'.
14). Ngô Long (? - ?), Tự là Tại Điền, tên Hiệu là Vân Hữu. (Họa gia).
Quẻ Càn (Càn / Càn), hào 9/2:
- 'Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân'.
- 'Rồng hiện ra ở ruộng, lợi đi gặp bậc đại nhân'.
Tên Hiệu 'Vân Hữú cũng liên quan Quẻ Càn. Tên này có xuất xứ từ câu 'Vân tòng Long' trong
phần Văn ngôn Quẻ Càn.
Ngô Long sở trường vẽ Sơn thủy.
15). Doãn Kế Thiện (1696 - 1771), Tự là Nguyên Trưởng.
Ông là đại thần có nhiều thành tích về mặt cai trị.
16). Tra Thể Nhân (? - ?), Tự Nguyên Phủ. (Thi từ gia, Thư pháp gia).
Càn. Văn ngôn:
- 'Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân'.
- 'Quân tử hành xử theo đức nhân (cho nên) có thể lãnh đạo ngườí.
Về Thư pháp Tra Thể Nhân học Nhan Chân Khanh (708 - 784) và Liễu Công Quyền (778 - 865) đời Đường.
17). Khánh Thái (? - ?), Tự là Đại Lai. (Họa gia).
Tên Tự lấy chữ từ Thoán từ Quẻ Thái (Khôn / Càn) - như trường hợp của Viên Ứng Thái đã dẫn trong mục về các nhân vật đời Minh.
Khánh Thái sở trường vẽ cành Mai, hoa cỏ.
18). Vương Tam Tích (1716 - 1794 ?), Tự là Hoài Bang. (Thư, Họa gia).
Quẻ Sư (Khôn / Khảm), hào 9/2:
- 'Tại sư trung, cát, vô cửu. Vương tam tích mệnh'.
- 'Ở trong quân, tốt, không lỗi. Vua 3 lần giao phó quyền hành'.
Tiểu tượng từ hào này viết:
- 'Vương tam tích mệnh, hoài vạn bang dá.
- 'Vua 3 lần giao phó quyền hành, là có lòng thương các nước (chư hầu)'.
Sư là Quẻ thứ 7.
Danh là chữ của hào 9/2, Tự là chữ của Tiểu tượng từ hào này.
Tranh Sơn thủy của Vương Tam Tích đượm nét thanh nhã. Ngoài Sơn thủy ông còn vẽ Hoa cỏ và tùng, thạch, nhân vật........ những tranh vẽ tùng, vẽ thạch cỡ lớn của ông người đương thời cho là không ai hơn được. Còn những bức tranh cỡ nhỏ thì thanh nhã, đẹp đẽ, khả ái. 
19). Ngô Tam Tích (? - ?), Tự là Sư Trung. (Thư pháp gia).
Quẻ Sư, hào 9/2:
- 'Tại sư trung, cát, vô cửu. Vương tam tích mệnh'.
- 'Ở trong quân, tốt, không lỗi, vua 3 lần giao phó quyền hành'.
Sở trường thể Tiểu Khải. Sưu tập rất nhiều bi thiếp các thời Hán, Đường
20). Ngô Lí (1740 - 1801), Tự là Tuyền Cát. (Thư pháp gia).
Quẻ Lí, hào Thượng Cửu:
- 'Thị lí khảo tường, kì tuyền nguyên cát'.
- 'Xem xét những gì trải qua thì rõ tốt xấu, hay dở, nếu mọi việc đều chu toàn thì rất tốt lành'.
Về Hành thư và Bát Phân thư Ngô Lí có 1 phong cách rất độc đáo, tự thành 1 phái.
21). Hồ Đại Hữu (? - ?), Tự là Dĩ Khiêm.
Quẻ Đại Hữu là Quẻ thứ 14, và Quẻ Khiêm là Quẻ thứ 15.
Dịch. Tự Quái (Thượng):
- 'Hữu đại giả bất khả dĩ doanh, cố thụ chi dĩ Khiêm'.
- 'Có nhiều thì không thể đầy (mãi), do đó tiếp theo là Quẻ Khiêm'.
Hồ Đại Hữu về Thi, Thư, Họa đều tài hoa.
22). Ngô Khiêm (? - ?), Tự Lục Cát. (Y Dược học gia).
Quẻ Khiêm, hào Sơ lục, hào 6/2, hào 9/3 đều 'cát'. ('tốt').
3 Hào kia, Hào 6/4 và Hào 6/5 đều 'vô bất lợí ('không gì mà không thuận lợí), hào Thượng lục thì 'lợi dụng vu hành sư, chinh ấp quốc' ('lợi cho việc xuất quân, đánh các nước'); cả 3 hào này tuy không minh thị như ở 3 hào 1, 2, 3 nhưng í 'cát' ở đây thực hiển nhiên.
Tóm lại, 6 hào đều tốt cho nên lấy tên Tự là 'Lục Cát.
Ngô Khiêm là 1 Y Dược học gia trứ danh trong khoảng Niên hiệu Càn Long (1736 - 1795), đứng Chủ biên bô. Y thư nổi tiếng 'Y Tông Kim Giám'.
23). Trần Tại Khiêm (? - 1838), Tự là Lục Cát. (Thư, Họa gia)
Sở trường vẽ Mai.
24). Đái Khiêm (? - ?), Tự Cát Lục.
Như trường hợp Trần Tại Khiêm ở trên, chỉ khác là tên Tự đảo ngược lại là Cát Lục.
Tiến sĩ năm 1820, chết mới 46 tuổi.
25). Lí Dĩ Khiêm (? - ?), Tự là Địa Sơn. (Họa gia).
Quẻ Khiêm -  Quẻ Khôn (Địa) trên, que? Cấn (Sơn) dưới, tên Tự 'Địa Sơn' là do đó. Trường hợp lấy tên Tự này chính là trường hợp của Lí Quang Địa đã nói ở trên.
Lí Dĩ Khiêm sở trường đề tài Sơn thủy, Hoa cỏ, học theo Huy Thọ Bình (1633 - 1690).

26). Quách Khiêm (? - ?), Tự là Địa Sơn. (Họa gia).
Vẽ 'Mặc Trúc Đố năm 1822.
27). Phương Nhĩ Khiêm (1871 -1936), Tự Địa Sơn.
Và em là Phương Trạch Sơn đều nổi tiếng trên Văn đàn đương thời, được gọi là 'Nhị Phương'.
28). Vương Tiên Khiêm (1842 - 1917), Tự là Ích Ngộ (Học giả).
Khiêm cung là điều ích lợi cho bản thân, chữ 'Ngố trong tên Tự có nghĩa 'Ta, Tôí.
Quẻ Khiêm khẳng định với đức Khiêm con người chẳng những vượt qua được mọi khó khăn, mà còn tránh được hiểm nguy, hoạn nạn.
29). Lục Minh Khiêm (? - ?). (Họa gia).
Họa gia chuyên vẽ Sơn thủy, cây rừng.
'Minh khiêm' là câu mở đầu trong 2 hào Lục nhị và Thượng lục Quẻ Khiêm.
30). Hoàng Quán (? - ?), Tự là Dụng Tân. (Họa gia).
Có 'Dũ Đình Thi Tập'.
31). Trương Di (? - ?), Hiệu là Dưỡng Hòa. (Thư, Họa gia).
Dịch. Tự Quái:
- 'Di giả, dưỡng giá.
- 'Di nghĩa là nuôi dưỡng'.
Và ở đây là nuôi dưỡng đức 'Hòá.
Trương Di sở trường thể Khải thư, chuyên vẽ Sơn thủy. Ngoài ra còn biết trồng cây, trồng hoa.

32). Mã Hàm (? - ?), Hiệu là Trạch Sơn. (Thư, Họa gia).
Quẻ Hàm - trên là que? Đoài, dưới là que? Cấn; Đoài là Đầm nước (Trạch), Cấn là Núi (Sơn).
Tên Hiệu Trạch Sơn là do đó. Hàm là Quẻ thứ 31 trong 64 Quẻ Dịch.
Về Thư pháp, Mã Hàm tinh thông Tiểu Khải thư - Về Hội họa, về tranh Sơn thủy, ông mô phỏng Lí Chiêu Đạo (? - ?), tức con Lí Tư Huấn (653 - 718), người khai sáng Bắc tông Họa phái, và kế đến là Quách Trung Thứ (? - ?) cuối thời Ngũ Đại đầu thời Triệu Tống.

33). Trương Trạch Hàm (? - ?), Tự là Hư Thụ. (Thư, Họa gia).
Quẻ Hàm (Đoài / Cấn), Đại Tượng từ:
- 'Sơn thượng hữu trạch, Hàm, quân tử dĩ hư thụ nhân'.
- 'Trên núi có đầm nước, là Quẻ Hàm, quân tử coi đó mà lấy tâm vô tư cư xử với ngườí.
34). Tào Hằng (? - ?), Tự là Cửu Ự (Thư, Họa gia).
Quẻ Hằng (Chấn / Tốn), Quái từ:
- 'Hằng. Hanh, vô cửu, lợi trinh'.
- 'Quẻ Hằng. (Mọi sự) êm xuôi, không lầm lỗi, lợi cho việc giữ lòng chuyên nhất'.
Giải thích câu trên của Quái từ, Thoán từ viết:
- 'Hằng hanh, vô cửu, lợi trinh, cửu ư kì đạo dã. Thiên địa chi đạo hằng cửu nhi bất dĩ dá.
- 'Quẻ Hằng sở dĩ mọi việc êm xuôi, không mắc lầm lỗi, lợi cho việc giữ lòng chuyên nhất là do bền lòng trong lẽ đạo, như đạo của trời đất vận hành hằng cửu, không lúc nào ngừng nghí.
Tào Hằng sở trường về Sơn thủy, hoa cỏ. Thọ ngoài 80 tuổi. 
35). Trần Triệu Hầu (? - ?), Tự là Tấn Khang. (Họa gia).
Quẻ Tấn (Li / Khôn), Quái từ:
- 'Tấn. Khang hầu dụng tích mã phiên thứ, trú nhật tam tiếp'.
- 'Quẻ Tấn. Chư hầu được (vua) ban thưởng nhiều xe ngựa, trong 1 ngày được tiếp kiến 3 lần'.
Quẻ Tấn là Quẻ thứ 35.
Trần Triệu Hầu là 1 Họa gia chuyên vẽ bông hoa, chim chóc.
36). Hạ Long Tích (? - ?), Tự là Khang Hầu. (Họa gia).
Sở trường thể Tiểu Khải, về Họa pháp các đề tài Sơn thủy, Nhân vật, lan, Trúc đều tinh diệu.
37). Đồng Thế Tấn (? - ?), Tự là Khang Hầu. (Họa gia).
Về Sơn thủy, học Hoàng Công Vọng (1269 - 1354) và Cao Khắc Cung (1248 - 1310).
38). Dương Hiền (? - ?), Tự là Đỉnh Ngọc. (Họa gia).
Quẻ Đỉnh, hào Thượng cửu:
- 'Đỉnh ngọc hiền, đại cát, vô bất lợí.
- 'Cái đỉnh có quai bằng ngọc, cực tốt, không gì mà không thuận lợí.
Năm 1644, Dương Hiền vẽ lại Họa phẩm 'Sơn Khẩu Đãi Đố ('Chờ Đò Ở Đường Vào Núí) của Đổng Nguyên (? - 962), Họa gia trứ danh đời Nam Đường (937 - 965); họa phẩm này hiện đang lưu trữ ở Cố Cung Bác Vật Viện', Bắc Kinh.
39). Vũ Chi Đỉnh (1647 - ?), Tự là Thượng Cát. (Họa gia).
Quẻ Đỉnh (Li / Tốn) có 3 hào tốt: Hào 9/2 'cát', Hào 9/3 'cát', hào Thượng cửu thì 'đại cát'.
Lấy nghĩa Cát của Quẻ Đỉnh, và lấy cái Cát của hào Thượng cửu. chữ Thượng trong tên Tự của Vũ Chi Đỉnh ở đây chính là chữ 'Thượng' trong 'Thượng cửú.
40). Hồ Chấn (1817 - 1862), Tự là Bất Khủng. (Thư pháp gia).
Quẻ Chấn (Chấn / Chấn), Đại Tượng từ:
- 'Tấn lôi, Chấn, quân tử dĩ khủng cụ tu tỉnh'.
- 'Sấm sét ầm ì, quân tử coi đó, kinh sợ mà tu, xét thân mình'.
Tên Tự 'Bất Khủng' có nghĩa 'Không kinh sớ, hàm í không kinh sợ phải tu sửa thân mình.
Hồ Chấn về các thể Lệ thư, Hành thư đều cao nhã, cổ kính.
41). Tưởng Phương Chấn (1882 - 1938), Tự là Bách Lí.
Quẻ Chấn, Quái từ:
- 'Chấn kinh bách lị
- 'Sấm sét kinh động (ngoài) trăm dặm'.
Xuất thân Sĩ quan Bộ binh, từng giữ một số chức vụ quan trọng trong Quân đội và Chính phủ và có thời gian hoạt động văn hóa với Hồ Thích (1891 - 1962), Từ Chí Ma (1896 - 1931).
42). Tưởng Cấn (? - ?), Tự Kiêm Sơn. (Họa gia).
Quẻ Cấn (Cấn / Cấn) gồm 2 que? Cấn nên Đại Tượng từ Quẻ này nói:
- 'Kiêm sơn, Cấn, quân tử tư bất quá kì ví.
- '2 núi (chồng lên nhau), là Quẻ Cấn, quân tử coi đó, có suy nghĩ cũng không quá phận mình'.
Sở trường Sơn thủy, Hoa điểu, nhưng tinh diệu nhất là Mặc trúc. Tưởng Cấn thích uống rượu và mỗi lần rượu vào là hành động lỗ mãng, nhưng cũng là lúc phóng bút nhập thần.
43). Hầu Cấn Dương (? - ?), Tự là Kiêm Sơn. (Thư, Họa gia).
Về Thư pháp sở trường các thể Khải thư và Hành Thảo.
Về Họa, dùng bút pháp Thảo thư vẽ Lừa có nét mới lạ; về Sơn thủy bút pháp cũng già dặn.
44). Tào Trung Phu (? - 1835), Tự là Mộc Chu. (Thư pháp gia).
Quẻ Trung Phu (Tốn / Đoài), Thoán từ:
- 'Lợi thiệp đại xuyên, thừa mộc chu hứ.
- 'Lợi qua sông lớn, đi thuyền mà quá.

Về Thư pháp Tào Trung Phu sở trường thể Khải thự

45). Từ Dịch (? - ?), Tự Tượng Cửu. (Họa gia).
Kinh Dịch luận Biến động, và trong Dịch học Số 9 là Số tượng trưng cho Biến dịch, cho nên lấy tên Tự là Tượng Cửu.
                                                                           *

Trên đây là 100 nhân vật có Danh, Tự, Hiệu là những Chữ lấy từ Dịch Kinh, và nguyên tắc lấy tên Tự, tên Hiệu hầu hết đều là những nguyên tắc đã tự thuật trước đây.

Thân kính mời đọc tiếp phần 3

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đào Như

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Liên hiệp quốc

a

Lý Đại Nguyên

a

Mai Thanh Truyết

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thiếu Nhẫn

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Nguyễn Văn Hoàng

a

Lm. Tadeo Nguyễn Văn Lý

a

Phạm Đình Hưng

a

Ht. Thích Quảng Độ

a

Ht. Thích Thiện Minh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Tuesday, 18 January, 2011 12:06