Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo Lịch sử

Minh Di

Tên tự - Tên hiệu

Phần 1
  

Tự dư viết Linh Quân.
01 - 76 (85).
Danh dư viết Chính Tắc hề,
Tự dư viết Linh Quân.

                                                       &

Bài này tôi đã đăng trên 1 tờ Tuần báo tại Úc Châu cách đây 19 năm, vào năm 1987.
Bấy giờ Bài viết này rất súc tích. Năm 1995, 8 năm sau đó, hở tay được 1 chút tôi bổ túc 1 ít nữa và để qua 1 bên, để 8 năm sau nữa tôi bổ túc lần sau hết vào năm 2003! Từ sơ cảo đến hoàn cảo trải 3 lần viết, 2 lần dịch cảo (thay đổi bản thảo), mỗi lần cách nhau 8 năm!
Từ năm 2003 tôi bắt đầu gom lại 1 số Bài khảo cứu đã đăng rải rác trên các báo, duyệt lại để rà  coi có những sai, sót, hoặc lầm lẫn nào trong lần đăng đầu tiên hay không, sau đó bổ túc một số tài liệu nữa để viết lại thành những Bài viết phong phú hơn! Tất cả gom lại trong 1 tập có tựa đề là 'Hương Quan Tập', được gợi hứng từ câu 'Nhật mộ hương quan hà xứ thị?' của Thôi Hiệu.
Bài này là Bài thứ 2 trong 'Hương Quan Tập'.
Bản này rồi dài gấp 5 Bản đầu tiên, và Tư, Sử liệu tham khảo cũng đâu đó 5 lần hơn! Nội dung vẫn vậy, chỉ thêm ít nhiều minh chứng. Nhìn ở 1 góc độ nào đó có thể coi đây như 1 Bài mới.
Tôi cũng tạm hài lòng với Bản 2003 này, và không nghĩ sẽ có 1 lần thay đổi bản thảo thứ 3, vì lẽ tư. Bài viết đã như 1 cuốn sách mỏng, thêm nữa e rằng quá cồng kềnh, lại nữa những gì tôi muốn trình bày cũng đã được gói ghém tương đối đủ trong Bản 2003 này.   

Minh Di
Viết tại Bất Túc Trưng Thư Trai.
16 tháng 12 năm 2006.
Trời Úc Châu. Giữa đầu Hè.

                                                                  #    

Tiểu dẫn

Nếu lật Thư, Sử ghi chép tiểu truyện danh nhân Việt Nam những thời xưa cũ thì ngay những chữ đầu tiên chúng ta sẽ đọc được những chi tiết chung quanh Tên các vị đó như:
Mạc Đĩnh Chi, Tự là Tiết Phụ
Nguyễn Trãi, Hiệu là Ức Trai.
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tự là Hanh Phủ, Hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ.
Phùng Khắc Khoan, Tự là Hoằng Phụ
Lê Quí Đôn, Tự là Doãn Hậu, Hiệu là Quế Đường.
Nguyễn Du, Tự là Tố Như, Hiệu là Thanh Hiên.
Cao Bá Quát, Tự là Chu Thần, Hiệu là Mẫn Hiên.
Nguyễn Văn Siêu, Tự là Tốn Ban, Hiệu là Phương Đình.
Nguyễn Công Trứ, Tự là Tồn Chất, Hiệu là Ngộ Trai, Biệt Hiệu là Hi Văn.
.........................................
Thuở còn đi học hầu như không bao giờ tôi lại bận tâm - và tôi nghĩ, kể cả những bạn đồng học của tôi cũng vậy - về mớ tên Tự, tên Hiệu... rườm rà, lằng nhằng đằng sau tên của các cụ đó!
Hơn nữa, chừng như hồi đó, và mãi đến bây giờ đây, cũng chưa từng có người nào giảng luận về vấn đề này cho khá rõ ràng, đầy đủ, và nhất là chính xác trong khi sự chọn tên Tự, tên Hiệu của cổ nhân - nhất là tên Tự, trong hồ hết các trường hợp, có 1 ý nghĩa sâu sắc về đường tu thân, về hướng hành xử.
Đây là 1 nét của Văn hóa Cổ Việt Nam mà nếu không được nói lại thì đối con cháu sau này - và sau nữa, tên Tự, tên Hiệu của tiền nhân, tiên tổ, rồi chỉ là những Chữ vô nghĩa, rồi chỉ là những Tiếng vang, ngoài ra không còn gì hết!
                                                                           *
Mỗi xã hội có 1 suy nghĩ, 1 tư tưởng riêng, tổ chức xã hội với những định chế, luật lệ.... chính đã khởi đi từ suy nghĩ đó, tư tưởng đó! Hiểu được những định chế, những luật lệ....... của 1 xã hội là bước đầu lần lên tới tư tưởng nền tảng dựng nên xã hội đó! Nói khác đi, biết được Quả thì có thể lần lên tới Nhân, và ngược lại, hiểu được Nhân thì có thể suy ra Quả.
Và ở đây, biết được nguyên tắc lấy tên Tự, tên Hiệu trong những xã hội thời cổ là phần nào hiểu được tâm tư, suy nghĩ của con người sống trong những xã hội đó.
                                                                           #
I. Khái Thuyết

Sách 'Lễ Ki nói:
- 'Nam tử nhị thập, Quán nhi Tư...... Nữ tử hứa giá Kê nhi Tứ.
                                                                      /  Lễ Kí. Khúc Lễ Thượng  /.
- 'Con trai 20 tuổi thì làm Lễ Đội Mũ và lấy tên Tự.... Con gái đã hứa hôn thì làm Lễ Cài Trâm và lấy tên Tự.'
Và cũng Sách trên:
- 'Ấu danh, Quán Tự, ngũ thập dĩ bá, trọng, tư? Thụy, Chu đạo dá.
                                                                   /  Lễ Kí. Đàn Cung Thượng  /.
- 'Thuở nhỏ thì có tên, chừng làm Lễ Đội Mũ thì có tên Tự, tới tuổi 50 thì xưng thứ, bậc lớn nhỏ trong nhà, lúc chết đi thì có tên Thụy, đây là định chế của Chu triều.'
Và trong 1 Thiên khác nữa:
- 'Nhị thập nhi Quán, thủy học Lễ..... Nữ tử..... thập hữu ngũ niên nhi Kê, nhị thập nhi giá.'
                                                                                   /  Sd. Nội Tắc  /.
- '(Con trai) 20 tuổi thì làm Lễ Đội Mũ, bắt đầu học Lễ..... Con gái.... 15 tuổi làm Lễ Cài Trâm  và tới 20 tuổi thì lấy chồng'.
                                                                           *
- Thời cổ, việc lấy tên Tự hàm ý con người đã thành nhân, nghĩa là đã trưởng thành, và cũng do kính trọng cái tư cách thành nhân này mà người ta rồi kính trọng luôn cả tên Tự - biểu hiệu của sự thành nhân! Và, ý nghĩa quan trọng nhất của sự thành nhân là một người đã có đủ tư cách để làm cha, làm mẹ.
Từ những đời xa xôi, hàng hậu bối không bao giờ được phép gọi Tên (tức Danh, tên cha mẹ đặt) của bậc tiền bối, trưởng thượng, như cha, ông, tiên tổ, cũng như thầy học.... Vì thế mà khi đề cập những người trên, trước hàng hậu bối chỉ dám gọi tên Tự của các vị đó mà thôi!
Tóm lại, kính trọng Danh của 1 Người, không dám gọi Tên người ấy, đã là 1 sự tôn kính thì việc gọi tên Tự lại là 1 sự tôn kính khác.
La Đại Kinh (~ 1195 - ~ 1252) thời Nam Tống (1127 - 1279) viết:
- 'Ngụy Hạc Sơn vân: - Cổ nhân xưng Tự, tối bất khinh. Nghi Lễ: Tử tôn ư tổ nễ giai xưng Tự. Khổng môn chư tử đa xưng Phu tử vi Trọng Ni. Tử Tư, tôn dã, Mạnh Tử hựu Tử Tư đệ tử dã, dịch giai xưng Trọng Ni. Tuy kim nhân dịch xưng chi nhi nhân bất quái. Du, Hạ chi môn nhân giai Tự kì sư. Hán sơ duy Tử Phòng nhất nhân đắc xưng Tự. Trung thế hữu Tự kì chư phụ, Tự kì chư tổ giả. Cận thế do hữu hậu học hô Thoái Chi, nhi đồng tụng Quân Thực chi loại.
Quan Hạc Sơn thử thuyết, cổ nhân cái dĩ xưng Tự vi chí trọng, kim thế duy bình giao nãi xưng Tự; sảo tôn quí giả tiện bất cảm dĩ Tự xưng chi, dữ cổ dị hĩ! Lỗ Ai công lũy Khổng Tử dịch viết Ni Phủ, tắc quân dịch khả dĩ Tự thần.
Chu Ích công vị tiên quân viết 'Thọ Hoàng mỗi xưng Đông Pha duy viết Tử Chiêm nhi bất danh, kì khâm trọng như thử!'.
                               /  Hạc Lâm Ngọc Lộ. Ất Biên. Qu. I. Cổ nhân xưng Tự  /.
- 'Ngụy Hạc Sơn nói: - Việc gọi tên Tự đối với cổ nhân là điều cực kì quan trọng! Sách Nghi Lễ nói rằng đối với cha, ông thì hàng con cháu đều phải gọi tên Tự của mấy vị đó. Các vị xuất thân từ Khổng môn hầu hết đều gọi Phu Tử là Trọng Ni. Tử Tư là cháu nội Khổng Tử, Mạnh Tử lại là học trò của Tử Tư và cả hai đều gọi Khổng Tử là Trọng Ni. Người thời bây giờ tuy cũng theo đó mà gọi, nhưng rồi đã chẳng ai lấy làm lạ. Học trò của Tử Du và Tử Hạ đều gọi Thầy mình bằng tên Tự. Dưới triều Hán rồi chỉ 1 Tử Phòng là được gọi bằng tên Tự. Đến thời trung thế lại có tục gọi tên Tự của chú, bác, của ông chú, ông bác mình nữa! Thời gần đây vẫn có những kẻ hậu học gọi Thoái Chi, con nít gọi Quân Thực.
Cứ thuyết này của Hạc Sơn thì rõ cổ nhân coi việc gọi tên Tự của người khác là 1 chuyện cực kỳ quan trọng! Thời bây giờ thì chỉ những người ngang vai vế mới gọi tên Tự của nhau, còn đối với những người có vai vế, cũng như có địa vị tương đối cao, thì người ta không dám gọi Tên Tự của những người đó, thực khác với người xưa! Lỗ Ai công khi đọc điếu văn Khổng Tử thì cũng đã gọi Khổng Tử là Ni Phủ, cứ đó thì rõ vua cũng có thể gọi tên Tự của bề tôi.
Chu Ích công nói với tiên quân 'Thọ Hoàng mỗi lần nhắc tới Đông Pha thì chỉ gọi Tử Chiêm mà  không gọi Tên, tôn kính đến như vậy đó!'.
[+ Thọ Hoàng là Tôn hiệu của Tống Hiếu tông (1127 - 1194; tại vị: 1162 - 1189). Tôn hiệu này nguyên là: Chí Tôn Thọ Hoàng Thánh Đế. Thư tịch Nam Tống thường gọi tắt là Thọ Hoàng].
Cũng vậy, trong thư tịch cô? Trung Quốc, khi chép tên Tự của Người nào, hoặc của nhân vật nào thì điều này hàm ý kính phục, đề cao, còn nếu chỉ ghi danh, tính hoặc tước vị... không thôi thì đó hoặc là có ý coi thường, hoặc là có ý khinh rẻ. Nói rõ hơn, ở đây tên Tự rồi không gì khác hơn là một biểu hiện cho phẩm cách cao quí hơn người của người có tên Tự đó, đây là điều mà học gia? Vương Ứng Khuê (1683 - 1760) gọi là 'Tự dĩ biểu đức', nghĩa là 'Tên Tự biểu lộ cái đức'.
Vương Ứng Khuê đời Thanh viết như sau:
- 'Quán nhi Tự, thành nhân chi đạo dã. Thành nhân tắc quí kỳ sở dĩ thành nhân, ư thị hồ mệnh dĩ Tự chi. Tự chi vi hữu khả quí yên. Xuân Thu dĩ thư Tự vi bao, Nhị bách Tứ thập Nhị niên chi  gian Tự nhi bất Danh giả, thập nhị nhân nhi dĩ. Xương Lê Mộ, Chí sổ thập thiên, tiêu đề khái xưng quan phiệt, duy Lí Nguyên Tân, Liễu Tử Hậu, Phàn Thiệu Thuật xưng Tự. Dĩ kiến kì nhân bất tất dĩ tước vị vi trọng, thị dịch sở dĩ quí chi dã!'.
                                                    /  Liễu Nam Tục Bút. Qu. IV. Xưng Tự  /.
- 'Cử hành Quán lễ và lấy tên Tự, đây là biểu hiện của sự thành nhân! Thành nhân thì quí ở cái tư cách đã thành nhân, vì vậy mà gọi tên Tự của người đó. Gọi tên Tự của 1 người vì người đó có điều đáng cho người ta quí trọng. Sách Xuân Thu ghi tên Tự của người nào thì đó là có í đề cao.  Trong khoảng 242 năm, được Sách gọi bằng tên Tự, không gọi Tên rồi chỉ có 12 Người mà thôi! (Hàn) Xương Lê viết vài chục bài Mộ, Chí cho người, nhưng nhìn chung thì cũng chỉ nêu chức vị của người quá vãng, chỉ có Lí Nguyên Tân, Liễu Tử Hậu, Phàn Thiệu Thuật là ghi tên Tự. Cứ đó thì rõ con người không hẳn là được coi trọng vì chức tước, địa vị - ở đây 3 người vừa kể được gọi bằng tên Tự cũng chính vì họ có những điều đáng cho người ta kính trọng!'.

Như Liễu Tông Nguyên (773 - 819) kém Hàn Dũ (768 - 824) 5 tuổi mà lại được Hàn Dũ gọi theo tên Tự thì rõ là không chỉ hậu bối mới gọi trưởng bối bằng tên Tự, mà điều này còn xuất từ lòng kính trọng giữa những người ngang vai vế nữa; và ở đây, có nhìn theo quan điểm chính thống cổ  thì mới thấy hết được mức độ kính trọng của Hàn Dũ đối với Liễu Tông Nguyên.
Sau cùng, theo Lễ cổ, trước mặt cha mẹ con cái không được xưng tên Tự, và bề tôi trước mặt vua cũng vậy. Đây là điều Sách 'Lễ Ki (thiên 'Khúc Lễ. Thượng') đã qui định:
- 'Phụ tiền tư? Danh, quân tiền thần Danh'.
- 'Trước mặt cha, con cái chỉ xưng Tên, trước mặt vua bề tôi chỉ xưng Tên'.
Tới các thời Đường (618 - 907), Tống (960 - 1279), nhất là thời Tống, ngoài tên Tự thiên hạ còn ưa lấy thêm tên Hiệu và Biệt Hiệu nữa. Và rồi cũng ở đời Tống chẳng hiểu sao lại có quan niệm hậu sanh không được phép gọi tên Tự của bậc trưởng bối? Trước đây vốn là tôn kính thì bây giờ lại hóa ra là vô lễ, là bất kính. Có điều là, các bậc đại nho thời đó, như Chu Hi (1130 - 1200) và Ngụy Liễu Ông (tức Ngụy Hạc Sơn, 1178 - 1237)...... rồi đã không theo quan niệm vừa kể.
Và, dưới các thời Minh (1368 - 1644), Thanh (1644 - 1911) sau đó nữa người ta lại càng chuộng tên Hiệu hơn nữa, người nào đã ra làm quan rồi thì không dùng tên Tự nữa.

Luận về tên Hiệu và Biệt Hiệu, Vương Ứng Khuê viết:
- 'Biệt Hiệu cổ nhân sở vô, bất tri khởi vu hà thời? Hoặc vân tư. Hàn Tuyền Tử, Sư Lí Tử thủy. Chí Đường nhi tiệm chúng, chí Tống nhi ích đa. Cận tắc thị tỉnh đồ cô giai hữu Am, Trai, Hiên, Đình chi xưng. Nhược chỉ hữu Tự nhi vô Hiệu, Ngô Thứ Vĩ sở vị như thử đại nhã chi sĩ, ngô bất sác kiến dã.
Thường kiến Chúc Hi Triết 'Tiền Văn Kitái Giang Tây nhất lệnh tấn đạo, đạo đối viết:
- 'Thủ Ngu bất cảm'. Lệnh bất tri sở vị, vấn chi tả hữu, nhất tư vân:
- Thủ Ngu giả, kỳ Hiệu nhĩ!
Tắc tri kim nhật tặc dịch hữu Hiệu hĩ! Thử đẳng phong tục bất tri hà thời khả biến dã!'.
                                                      /  Liễu Nam Tùy Bút. Qu. III. 43  /.
- 'Biệt Hiệu, cổ nhân không có, không rõ có từ thời nào; có người nói khởi từ Hàn Tuyền Tử, Sư Lí Tử. Tới đời Đường thì người lấy tên Hiệu và Biệt Hiệu nhiều dần, tới thời Tống thì càng nhiều hơn. Gần đây thì, tại các chốn thị tỉnh những hạng làm những nghề thấp kém như mổ heo, mổ bò cũng như buôn hàng, bán quán, kẻ nào cũng xưng nào là 'Am, Trai, Hiên, Đình'. Còn như những người chỉ có tên Tự, không có tên Hiệu, thì đây là những người mà Ngô Thứ Vĩ nói lánhững bậc học thức cao nhã như vậy tôi thực ít thấý.
Tôi có lần đọc cuốn 'Tiền Văn Ki của Chúc Hi Triết kể chuyện một vị huyện lệnh ở Giang Tây hỏi cung 1 tên cướp, tên cướp trả lời: - 'Thủ Ngu không dám'. Huyện lệnh chẳng hiểu hắn nói gì mới day qua hỏi tả hữu thì 1 người chạy việc trong huyện đường nói rằng:
- Thủ Ngu là tên Hiệu của hắn đó thôi!
Cứ đó thì rõ đời bây giờ đến cả giặc cướp rồi cũng có tên Hiệu nữa là! Những phong tục như vậy không biết tới bao giờ mới thay đổi được?!'.   
Chúc Hi Triết Vương Ứng Khuê nói ở đây tức Chúc Doãn Minh (1460 - 1526), văn học gia và là Thư, Họa gia đời Minh. Hi Triết là tên Tự của ông.
Trong lãnh vực Nghệ thuật, tuy cũng có tài Hội họa nhưng vì họa phẩm lưu lại quá ít cho nên là chủ yếu Chúc Hi Triết được coi như 1 Thư pháp gia, và là Thư pháp gia tài hoa nhất đời Minh.
Trong đoạn văn dẫn trên Vương Ứng Khuê đã chỉ trích lại mỗi đoạn cuối của 1 Bài văn ngắn có tựa đề 'Cận thời nhân Biệt Hiệú trong cuốn 'Tiền Văn Ki nói trên.
Đoạn văn ngắn này của Chúc Doãn Minh cũng thú vị, cũng cần dẫn lại toàn văn ở đây.
Chúc Doãn Minh viết:
- 'Đạo hiệu, Biệt xưng, cổ nhân gián hữu chi, phi sở trọng dã. Dư thường vị vi nhân như Tô Văn Trung tắc nhi đồng mạc bất tri Đông Pha, vi nhân như Chu Khảo Đình tắc mông trĩ mạc bất thức Hối Am, ngôi tỏa chi nhân hà tất vọng tự tiêu bảng! Cận thế sĩ đại phu danh thực xứng giả cố đa hĩ! Kì tha cái duy nông phu bất nhiên, tự dư lư thị thôn khúc tế phu vị thường vô Biệt Hiệu giả! Nhi kì sở xưng, phi dung thiển tắc cuồng quái! Hựu trùng khả tiếu Lan, Quế, Tuyền, Thạch chi loại thử cứ bỉ chiếm, sở vị nhất tọa bách phạm! Hựu huynh Sơn tắc đê. Thủy, bá Tùng tắc trọng, thúc tất Trúc, Mai. Phụ thử vật tắc tử tôn dẫn thử vật ư bất dĩ! I, ngu hĩ tai! Chí ư cận giả tắc phụ nhân dịch hữu chị
Hựu truyền Giang Tây nhất lệnh thường tấn đạo, đạo hốt đối viết:
- Thủ Ngu bất cảm!
Lệnh bất tri sở vị, vấn chi tả hữu, nhất tư vân:
- Thủ Ngu giả, kì Hiệu nhĩ!
Tắc tri kim nhật tặc dịch hữu Biệt Hiệu hĩ! Thử đẳng phong tục bất tri hà thời khả biến?!'.
                                                  /  Tiền Văn Kí. Cận thời nhân Biệt Hiệu  /.
- 'Đạo hiệu, Biệt hiệu người xưa cũng có người có nhưng với cổ nhân đây không phải là chuyện quan trọng lắm. Tôi từng nói, 1 người như Tô Văn Trung thì rồi đứa trẻ con nào mà không biết là Đông Pha, 1 người như Chu Khảo Đình có đứa trẻ nít nào mà chẳng biết là Hối Am, những hạng chẳng ra chi rồi khỏi cần lăng xăng vỗ ngực xưng tên! Tên Hiệu của các bậc Sĩ, Đại phu vào thời gần đây đa số cố nhiên là xứng hợp với con người của các vị! Trong khi đó, rồi chỉ có những bọn làm ruộng làm rẫy thì không vậy, từ thôn ấp ra tới thị thành những bọn học thức nông cạn không kẻ nào mà không có Biệt hiệu! Và rồi, Biệt hiệu của những đám dân này, ý nghĩa nếu như không tầm thường, thiển cận thì cũng ngông cuồng quái đản! Chuyện càng buồn cười hơn nữa là những tên Hiệu có các chữ Lan, Quế, Tuyền, Thạch thì kẻ này giành kẻ kia giựt, thôi thì cứ loạn cả lên! Và, tên Hiệu của anh đã có chữ Sơn thì tên Hiệu của em rồi có chữ Thủy; anh cả đã lấy chữ Tùng thì bọn em út rồi lấy các chữ Trúc, Mai! Cha đã lấy tên Hiệu loại nào con cháu rồi cứ loại đó mà lấy theo mãi, không thôi! Ôi, ngu quá đi thôi! Cho tới thời gian gần đây cho đến đàn bà rồi cũng có tên Hiệu.
Và, người ta kể rằng: 1 vi. Huyện quan kia ở Giang Tây có 1 lần hỏi cung 1 tên cướp thì tên cướp bỗng đâu phát trả lời:
- Thủ Ngu không dám!
Huyện quan chẳng hiểu hắn nói cái gì, mới day qua hỏi những người chung quanh thì có 1 người chạy việc trong huyện đường nói:
- Thủ Ngu là tên Hiệu của hắn đó thôi!
Cứ đó thì rõ bây giờ cho tới cả giặc cướp rồi cũng có Biệt hiệu nữa là! Những phong tục như vậy không biết tới bao giờ mới thay đổi được?!'
                                                                           *
Trở lại vấn đề tên Tự.
Thời xưa, việc lấy tên Tự, như đã nói trước đây, vốn gắn liền với Quán lễ, và đây là định chế của Chu triều (1121 - 256 tr. Cn.), như thiên 'Đàn Cung' đã nói.
Điều này có nghĩa rằng trước đời Chu thì thời điểm lấy tên Tự và thời điểm cử hành Quán lễ vốn không trùng hợp, tới Chu triều thì 2 sự việc này mới nhập lại để thành định chế sau đó.
Chú giải câu 'Ấu Danh, Quán Tự...' trong thiên 'Đàn Cung', Tôn Hi Đán (1736 - 1784) viết:
- 'Nhiên tắc, tư. Ân dĩ tiền vi Tự bất tại Quán thời, bá, trọng bất đương ngũ thập, dĩ Ân thượng chất, bất húy Danh cố dá.
                                       /  Lễ Kí Tập Giải. Đàn Cung. Thượng  /.
- 'Như vậy thì từ Ân triều trở về trước việc lấy tên Tự không nhằm vào lúc cử hành Quán Lễ, và việc xưng thứ bậc lớn, nhỏ trong nhà không cần đợi tới tuổi 50; sở dĩ  như vậy là vì người đời Ân coi trọng sự chất phác, không kiêng việc gọi Tên'.

Tới đây, vấn đề đặt ra là: - Tục lấy tên Tự có từ thời nào?
Và, tuy thiên 'Đàn Cung', như đã biết, nói rằng việc lấy tên Tự là Định chế của Chu triều nhưng Cao Thừa (? - ?) đời Bắc Tống (960 - 1127) lại cho rằng sự việc đã khởi đi từ Thiếu Hạo đế:
- ''Lễ Ki, Giao Đặc Sinh viết 'Quán nhi Tứ chi, kính kì Danh dá.
Quán nhi Tự, thành nhân chi đạo dã. Tự sở dĩ quí Danh. Đế Vương Kỉ viết:
'Thiếu Hạo đế Danh Chí, Tự Thanh Dương', tắc tư. Kim Thiên thị thủy vi Tự dá.
                    /  Sự Vật Kỉ Nguyên. Qu. II. Công Thức Tính Húy Bộ đệ bát  /.
- 'Thiên Giao Đặc sinh sách Lễ Kí nói 'Cử hành Quán lễ và lấy tên Tứ là vì kính trọng cái Tên của người đó.
Cử hành Quán lễ và lấy tên Tự, đây là biểu thị cho sự thành nhân. Dùng tên Tự là bởi kính trọng cái Tên gọi (của cha mẹ đặt). Sách 'Đế Vương Thế Kí viết:
'Thiếu Hạo đế Tên là Chí, tên Tự là Thanh Dương', theo đó thì việc lấy tên Tự đã khởi đi từ Kim Thiên thí.
Minh Di án:    
'Đế Vương Thế Kí là một cuốn sách chép về các bậc Đế, vương thời cổ, từ Tam Hoàng cho đến đời Ngụy (220 - 265), thời Tam Quốc (220 - 280), tác giả là Hoàng Phủ Mật (215 - 282), 1 ẩn sĩ nổi tiếng thời Tây Tấn (265 - 317).
Thuyết về Tam Hoàng có đến chục thuyết, và theo thuyết của Hoàng Phủ Mật thì Tam Hoàng là Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế. Và, Thiếu Hạo nói ở đây là con của Hoàng Đế - về Ngũ Hành ứng Hành Kim cai trị thiên hạ cho nên Thiếu Hạo còn được gọi là Kim Thiên thị.
Thiếu Hạo là 1 nhân vật trong truyền thuyết thuộc thời tiền Sử, nếu có tên Tự, tên Hiệu thì cũng do hậu thế gán cho. Thuyết của Cao Thừa, do đó, không mấy khả tín.
                                                                           *
Tới đây, có lẽ cũng cần có vài giòng sơ lược về Quán lễ thời cổ.
Sách 'Lễ Ki có thiên 'Quán Nghĩá.
Như danh xưng cho thấy, thiên này giảng luận về ý nghĩa sâu xa của Quán lễ.
'Quán Nghĩá là một thiên rất ngắn, tất cả chỉ gồm 342 chữ nhưng ở đây tôi chỉ trích dẫn những đoạn chủ yếu, đủ để có 1 cái nhìn tương đối chính xác, toàn diện về cái Lễ đứng đầu Tứ Lễ.
Chi tiết hơn, có thể đọc thiên 'Sĩ Quán Lế trong Sách 'Nghi Lế, đồng thời tham khảo thêm các thiên 'Giao Đặc Sinh', cũng Sách 'Lễ Ki, và thiên 'Quán Tụng' sách 'Khổng Tử Gia Ngứ.
Thiên 'Quán nghĩá viết:
- 'Quán giả, Lễ chi thủy dã, thị cố cổ gia? Thánh Vương trọng Quán.
Cổ gia? Quán lễ thệ nhật, thệ tân, sở dĩ kính Quán sự. Kính Quán sự sở dĩ trọng Lễ, trọng Lễ sở dĩ vi Quốc bản dã!
Cố Quán ư Tộ, dĩ trứ đại dã; tiêu ư khách vị. Tam gia di tôn, gia hữu thành dã. Dĩ Quán nhi Tự chi, thành nhân chi đạo dã.
Hiện ư mẫu, mẫu bái chi; hiện ư huynh đệ, huynh đệ bái chi, thành nhân nhi dữ vi lễ dã....
Thành nhân chi giả tương trách thành nhân lễ yên dã; trách thành nhân lễ yên giả, tương trách vi nhân tử, vi nhân đệ, vi nhân thần, vi nhân thiếu giả chi lễ hành yên. Tương trách tứ giả chi hạnh ư nhân, kì Lễ khả bất trọng dử!
Cố Hiếu, Đệ, Trung, Thuận chi hạnh lập nhi hậu khả dĩ vi nhân; khả dĩ vi nhân nhi hậu khả dĩ trị nhân dã. Cố Thánh Vương trọng Lễ, cố viết: - 'Quán giả, Lễ chi thủy dã, gia sự chi trọng giã dá.
Thị cố, cổ giả trọng Quán. Trọng Quán cố hành chi ư miếu; hành chi ư miếu giả sở dĩ tôn trọng sự. Tôn trọng sự nhi bất cảm thiện trọng sự; bất cảm thiện trọng sự sở dĩ tự ti nhi tôn tiên tổ dá.
Dịch văn:
- 'Quán lễ là bước đầu của Lễ nghi cho nên thời cổ các bậc Thánh Vương rất coi trọng Lễ này.
Thời cổ, trước khi cử hành Quán lễ người ta chọn 'ngày lành tháng tốt', chọn ra người hiền năng đứng chủ lễ. Sở dĩ vậy là vì tôn kính Quán sự; tôn kính Quán sự là vì trọng Lễ; và trọng Lễ vì đó là nền tảng của Quốc giạ
Cho nên, cử hành Quán lễ tại Thềm phía Bắc thì điều này có nghĩa rằng người con trai này rồi sẽ thay cha mình mà làm chủ gia đình; còn giòng thứ thì cử hành Quán lễ ở ngoài nhà, ở mé Tây. Nghi thức gia quan (đội mũ) trước sau qua 3 lần đội mũ - (theo từng thứ bậc một) cứ mũ đội sau  tôn quí hơn mũ đội trước. Quán lễ hoàn tất bấy giờ mới đặt tên Tự, biểu thị của sự thành nhân.
Người đã xong Quán lễ, gặp mẹ thì mẹ vái chào, gặp anh em thì anh em vái chào vái chào đây là vái chào cái tư cách thành nhân của con mình, của anh em mình.
Thành nhân thì theo lễ thành nhân mà hướng dẫn; hướng dẫn theo lễ thành nhân là hướng dẫn về đạo làm con, đạo làm em, đạo làm bề tôi, đạo làm con cháu. Hướng dẫn 1 người theo 4 đức hạnh nói trên một Lễ như vậy rồi chẳng đáng trọng sao?!
Cho nên là có Hiếu, Đệ, Trung, Thuận thì mới có thể làm người; đã có thể làm người thì sau mới có thể trị người. Do đó mà các bậc Thánh Vương trọng Lễ, do đó mà nói: - 'Quán lễ là bước đầu của Lễ nghi, là việc trọng đại hơn hết trong các việc tốt đẹp'.

Bởi vậy, thời cổ người ta trọng Quán lễ. Trọng Quán lễ, do đó cử hành Lễ này  tại miếu; cử hành Lễ này tại miếu là do tôn kính việc trọng đại. Tôn kính việc trọng đại, do đó, không dám tự í làm những chuyện trọng đại để từ đó trở nên khiêm tốn mà tôn kính tiên tố.

Minh Di án:

Về thiên 'Quán Nghĩá trước hết cũng cần nói rõ là Quán lễ đề cập trong thiên này có 1 số điểm chỉ áp dụng cho Thiên tử, hoặc Chư hầu, nói chung là bậc Vương giả, mà thôi! - chẳng hạn như nói Quán lễ cử hành tại Miếu. Miếu nói đây tức Tổ Miếu, nơi tế tự người khai sáng triều đại. Về điểm này, thiên 'Quán Tụng', sách 'Khổng Tử Gia Ngứ (Qu. VIII.), đã ghi rõ hơn:
- 'Hành Quán sự tất vu Tổ Miếu.', nghĩa là 'Cử hành Quán lễ thì cử hành ở Tổ Miếu.'
Thiên 'Quán Tụng' tự thuật việc Khổng Tử trả lời Mạnh Ý Tử, quan đại phu nước Lỗ, về ý nghĩa của Quán lễ. Thiên này có một số chi tiết về Quán lễ mà thiên 'Quán Nghĩá Sách 'Lễ Ki không đề cập, điểm này tôi sẽ nói rõ hơn ở 1 đoạn sau.

Ý nghĩa của Quán lễ Lưu Hướng (77 - 06 tr. Cn.) cũng đã nói rất rõ trong 'Thuyết Uyển':
- 'Quán giả, sở dĩ biệt thành nhân dã. Tu đức thúc cung dĩ tự thân sức, sở dĩ kiểm kỳ tà tâm, thủ kì chính ý dã. Quân tử thủy Quán tất chúc, thành lễ gia quan dĩ lệ kì tâm. Cố quân tử thành nhân tất quan, đái dĩ hành sự, khí ấu thiếu hi hí đọa mạn chi tâm, nhi khản khản vu tiến đức tu nghiệp chi chị
         /  Thuyết Uyển. Qu. XIX. Tu Văn  /.
- 'Quán Lễ là để phân biệt (giai đoạn) thành nhân - là giai đoạn bắt đầu cho việc tự kiểm điểm thân tâm để tu dưỡng đức hạnh, ước thúc hành vi, từ đó kiềm chế tà tâm giữ chính niệm. Quân tử trước khi hành lễ Gia quan thì phải tế thần cầu phúc, tế tự xong chừng đó mới hành lễ Gia quan, đây là để khích lệ tâm chí người hành lễ. Cũng vì vậy mà quân tử tới tuổi thành nhân thì đội mũ, thắt đai để hành sự, từ bỏ tính khí ham chơi hời hợt của tuổi thơ để hăng hái cần mẫn trên đường tiến đức tu nghiệp'.

Nghi thức đội 3 lần mũ đề cập trong thiên 'Quán Nghĩá tục gọi là Tam gia:
- 'Thủy gia tri bố quan, tái gia bì biện phục, tam gia tước biện phục.'
- 'Trước hết đội cái mũ vải đen, kế đến đội cái mũ da, và lần thứ ba thì đội 1 cái mũ da thuộc'.
'Bì biện' là loại mũ ôm sát đầu làm với da nai trắng; 'Tước biện' là loại mũ làm bằng da thuộc sắc đỏ sậm ngả đen, chóp mũ vuông, rộng và bằng, hình dạng đại khái như Cái mũ các ông, bà tốt nghiệp đại học ngày nay đội.
Năm cử hành Quán lễ tục gọi là Quán niên, hay Cập Quán, Nhược Quán.
Cử hành Quán lễ thì người ta làm tiệc linh đình mời khách, và chỉ mời những khách chọn lọc mà thôi. Tới dự lễ tân khách mang theo lễ vật chúc mừng. Ngoài ra, trước đó, trước ngày cử hành lễ người con trai sắp 'Gia quan' còn phải đi đến nhà bà con, bạn bè để hành lễ, việc này tục gọi là 'Cáo Quán'; và bà con, bạn bè đưa lễ vật tới mừng trước thì gọi là 'Quán Kính'.
Tuổi cử hành Quán lễ, như đã biết, sách 'Lễ Ki qui định là 20 tuổi (tuổi Ta, tức 19 tuổi Tây).

Minh Di án:
Theo 'Lễ Ki là vậy, nhưng theo 1 số học giả thời cổ, tuổi hành Quán lễ lại ít hơn 1 tuổi, hay nói khác đi, 19 tuổi (18 tuổi Tây).
Tuân Huống (tức Tuân Tử: 340 - 245 tr. Cn.) thời Chiến Quốc (403 - 221 tr. Cn.) nói:
- 'Thiên tử, Chư hầu tư? Thập cửu nhi Quán. Quán nhi thính trị, kì giáo chí dã!'.
                                                        /  Tuân Tử. Qu. XIX. Đại Lược  /.
- 'Con của Thiên tử và Chư hầu 19 tuổi thì cử hành Quán lễ. Quán lễ xong thì tham dự chính sự với hàm ý là đã được giáo dục tới nơi tới chốn!'.
Hàn Anh ( ? - ? ), người thời sơ kì Tây Hán (206 tr. Cn. - 08 Cn.) nói:
- 'Thập cửu kiến chí, thỉnh tân Quán chí.
                                                     /  Hàn Thi Ngoại Truyện. Qu. VII /.
- '19 Tuổi, chí hướng đã định thì mời khách tới để cử hành Quán lễ (cho con mình)'.
Lưu Hướng (77 - 06 tr. Cn.) cũng nói:
- 'Chu Thiệu công niên thập cửu, kiến chính nhi Quán! Quán tắc khả dĩ vi phương bá Chư hầú.
                                                 /  Thuyết Uyển. Qu. III. Kiến bản  /.
- 'Chu Thiệu công 19 tuổi, chí hướng đã thuần chính thì cử hành Quán lễ! Khi đã xong Quán lễ thì có thể làm lãnh tu. Chư hầu 1 phương'.

Chưa hết, tuổi cử hành Quán lễ còn có thể là 1 tuổi khác nữa ngoài 2 tuổi 19 và 20 kể trên, hoặc  nói khác đi là nhìn từ bình diện tổng quát thì tuổi cử hành Quán lễ không nhất định như người ta vẫn nghĩ.
Sau khi lên ngôi Trâu Ẩn công sai quan đại phu đến gặp Mạnh Ý Tử, quan đại phu nước Lỗ, nhờ hỏi Khổng Tử về Lễ. Đây là nguyên ủy của thiên 'Quán Tụng' của bộ 'Khổng Tử Gia Ngứ.
Thiên này có 1 số chi tiết về Quán lễ mà thiên 'Quán Nghĩá, sách 'Lễ Ki, không có:
- 'Ý Tử viết: - Thiên tử vi. Quán tức vị, trưởng dịch Quán hồ?
Khổng Tử viết: - Cổ giả, Vương Thế tử tuy ấu, kì tức vị tắc tôn vi nhân quân; nhân quân trị thành nhân chi sự giả, hà Quán chi hữu?!'.
- '(Mạnh) Ý Tử hỏi: - Thiên tử chưa làm Quán lễ mà đã tức vị, lớn lên có làm Quán lễ không?
Khổng Tử nói: - Thời cổ, Thế tử của bậc Vương tuy còn nhỏ nhưng khi đã tức vị thì trở thành bậc quân vương; quân vương thì trị lí công việc của kẻ thành nhân, lớn lên làm gì có chuyện cử hành Quán lễ nữa?!'
Và ở 1 đoạn sau đó:
- 'Thiên tư? Quán giả. Vũ vương băng Thành vương niên thập hữu tam nhi tự vị. Chu công cư trủng tể, nhiếp chính dĩ trị thiên hạ. Minh niên, Hạ, lục nguyệt kí táng, Quán Thành vương nhi triều vu Tố.
- 'Quán lễ của Thiên tử. (Chu) Vũ Vương qua đời (Chu) Thành vương mới có 13 tuổi, Chu Công  ở vị trủng tể, nắm Chính sự cai trị thiên hạ. Năm sau, tháng 6 mùa Hạ, sau khi mọi Lễ nghi chôn cất (Vũ vương) đã xong xuôi, chừng đó (Chu Công) mới cử hành Quán Lễ cho Thành vương - và cho Chư hầu triều kiến ở Tổ miếú.
Sau cùng, trong Nghi thức 'Tam giá, trả lời Mạnh Ý Tử về ý nghĩa của 'thủy gia tri bố quan' thì Khổng Tử nói rằng đây là để nhắc nhở người ta đừng quên nguồn gốc của mình:
- 'Ý Tử viết: - Thủy quán tri bố chi quan, hà dã?
Khổng Tử viết: - Bất vong bản dã. Thái cổ quán bố, tư tắc tri chí.
- '[Mạnh] Ý Tử hỏi: - Trước hết đội cái mũ vải đen là í nghĩa gì?
Khổng Tử nói: - Là để nhắc nhở người hành Quán lễ, đừng quên nguồn gốc (của mình). Thời xa xưa người ta đội nón vải, có tang thì đem nhuộm đen'.
Bộ 'Thông Điển' (Qu. LVI. Lễ 16) của Đỗ Hựu (735 - 812) đời Đường viết:
- 'Chu chế: - Văn Vương niên thập nhị nhi Quán, Thành vương thập ngũ nhi Quán'.
- 'Định chế Chu triều: - Văn Vương 12 tuổi thì làm Quán lễ, Thành vương 15 tuổi làm Quán lế.
Nói tóm lại, về tuổi cử hành Quán lễ của Thiên tử và chư hầu thời cổ ít nhiều có những dị biệt so với qui định chung, trong khi đối với hàng sĩ thứ thì nhìn chung tuổi cử hành Quán lễ vẫn là tuổi 20. Nhưng sinh hoạt của con người đã không ngừng biến thiên qua từng thời đại, và định chế do con người đặt ra thì cũng con người thay đổi, thậm chí bỏ đi. Tuổi cử hành Quán lễ rồi không ra ngoài định lệ đó (đây mới thực là 1 điều cố định: tất cả rồi biến dịch). 
Tuổi này, trong những xã hội sau đó rồi tùy thời, tùy địa mà khác đi! Chẳng hạn là vào buổi đầu Thanh triều (1644 - 1911) ở tỉnh Sơn Đông, con trai trong khoảng tuổi 15 đến 20 có thể cử hành Quán lễ bất cứ lúc nào! Còn các vùng Giang, Hoài (tức 2 tỉnh Giang Tô và An Huy) thì hạn tuổi là 15, 16. Từ trung kì đời Thanh trở về sau đa số chờ cho tới đêm trước ngày hôn lễ mới cử hành Quán lễ cho con mình. Nhà giàu đa số cử hành trước 3 ngày, nhà nghèo thì 1 ngày mà thôi! Lúc cử hành lễ thì thỉnh bậc tôn trưởng chọn tên Tự cho thiếu niên hành lễ - tên Tự được viết ra giấy treo lên vách. Bà con, bạn bè thì góp tiền bạc tới chúc mừng. Và, gia đình cử hành Quán lễ cũng chỉ làm tiệc linh đình đãi khách chứ không hành lễ Gia quan.
Về tục làm lễ Gia quan tại phu? Thuận Thiên, tỉnh Hà Bắc, Hồ Phác An (1878 - 1947) viết:
- 'Sĩ, Đại phu gia tử đệ thập lục phụ mệnh Gia quan - hoặc nhạc trượng vị tế Gia quan'.
   /  Trung Hoa Phong Tục Chí. Thượng thiên. Qu. I. Thuận Thiên phủ. Quán lễ  /.
- 'Gia đình các bậc Sĩ, đại phu, khi con em tới tuổi 16 thì cha (anh) sai làm Lễ Gia quan - hoặc là cha vợ làm Lễ Gia quan cho con rế.   
Quán lễ tại vùng Huy châu, tỉnh An Huy, thì từ thời Triệu Tống (960 - 1279) đã rất đơn giản.
Tại vùng này Quán lễ cử hành tại nhà, có điều là không mời khách, và tại Huy châu thì con trai chưa qua Quán lễ thì tuyệt đối không được bước qua ngưỡng cửa từ đường của gia tộc.
Thời cận đại có người gọi Quán Lễ cử hành vào đêm trước ngày hôn lễ là 'Thượng Đầú - cũng gọi là 'Thượng Sớ (Sơ: Cái lược [dt.]. Chải đầu [đt.]).
Thực ra, 2 tiếng 'Thượng Đầú chẳng mới mẻ gì! Ngay vào buổi đầu triều Đông Tấn (317 - 420) con trai khi 'gia quan', con gái khi 'gia kế, 2 nghi thức này đều được gọi là 'Thượng Đầú. Cho tới thời Nam Tống (1127 - 1279) từ ngữ này vẫn còn được dùng để chi? Quán lễ.
Lí Diên Thọ (? - ?) đời Đường chép:
- 'Hoa Bảo, Tấn Lăng Vô Tích nhân dã. Phụ Hào, Tấn Nghĩa Hi mạt thú Trường An, niên bát tuế. Lâm biệt vi. Bảo viết: - Tu ngã hoàn đương vị nhữ Thượng Đầu.
Trường An hãm. Bảo niên thất thập bất Hôn, Quán'.
                         /  Nam Sử. Qu. LXXIII. Liệt truyện 63. Hiếu nghĩa thượng  /.
- 'Hoa Bảo người ở huyện Vô Tích, quận Tấn Lăng. Thân phụ là [Hoa] Hào, vào cuối Niên hiệu Nghĩa Hi, Tấn triều, theo quân đi giữ thành Trường An. Bấy giờ Hoa Bảo mới 8 tuổi! Lúc từ biệt Hoa Hào nói với Hoa Bảo: - Chờ ta về ta sẽ làm lễ Thượng Đầu cho con.
Sau đó thành Trường An thất thủ. Và cho tới năm 70 tuổi Hoa Bảo vẫn không lập gia đình, cũng không làm Quán lế.

Hoa Nhụy Phu Nhân (? - ?), thứ phi của Mạnh Sưởng (919 - 965; tại vị: 934 - 965), là hoàng đế triều Hậu Thục (932 - 965), có câu:
                                                       'Niên sơ thập ngũ tối phong lưu,
                                                       Tân tứ vân hoàn sử thượng đầú.
Thái Thao (? - ?) triều Nam Tống, trong tập Bút kí 'Thiết Vi Sơn Tùng Đàm' (Qu. II. 01), đã có đoạn nói về Quán lễ và cũng đã dùng từ ngữ 'Thượng Đầú để chi? Lễ này.
Thời viễn cổ, như đã tự thuật, Quán lễ là một Lễ rất trọng nhưng càng về sau người ta càng lơ là Lễ này. Theo như Văn hào Liễu Tông Nguyên (773 - 819) thì cả mấy trăm năm trước thời Đường Quán lễ đã bị phế thải. Quán lễ thời ông còn chăng chỉ còn tính cách như 1 phong tục tại một số ít địa phương mà thôi, không còn là 1 định chế của cả 1 triều đại, của cả 1 xã hội như ở các thời viễn cổ. Và cũng cần hiểu là nói 'phế bó đây là nói theo phương diện định chế xã hội.
Một chuyện người ta đã lơ là, nếu không muốn nói là hầu như không có ai làm, bỗng dưng lại có người 'nổi cơn' đi làm, 1 chuyện như vậy, đối với thiên hạ, đúng là 1 chuyện hết sức khôi hài!
Liễu Tông Nguyên có câu chuyện Tôn Xương Dận 'một mình phát phẫn' đi cử hành Quán lễ cho con mình, khiến đồng liêu trong triều ai nấy đều cười rần.
Trương Nhĩ Kì (1612 - 1677 - và cũng có thuyết nói là ông sinh năm 1616) đời Thanh, trong tập Bút kí 'Hào Am Nhàn Thoạí (Qu. II. 129) cũng đã nói:
- 'Cổ nhân trọng Quán lễ. Minh mạt thư? Lễ toại phế, gián hữu dụng giả nhân đa truyền tiếú.
- 'Cổ nhân trọng Quán lễ. Đến cuối đời Minh thì Lễ này bị phế bỏ, ngẫu nhiên mà có người nào cử hành thì người ta thường kể lại như 1 chuyện cười.'
Định chế đã phế thì người ta thấy không cần thiết phải cử hành làm chi, cho dầu nghi thức ngày càng đơn giản. Di ý của Thánh nhân rồi không còn ai nhớ, Chu Hi (1130 - 1200) đến phải nói:
- 'Quán lễ................ thị tự gia ốc lí sự, hữu thậm nan hành? Quan liễu môn, tương cân quan dữ tử đệ đái, hữu thậm nan?!'
- 'Quán lễ............. là việc ngay trong nhà có gì là khó làm? Đóng cửa lại, lấy khăn nón đội cho con em, có gì là khó đâu?!'.
(Dẫn trong 'Trung Quốc Phong Tục Từ Điển'. Giao Tế, Lễ Nghi loại. Gia quan).
Thời cổ, Quán Lễ là 1 Lễ rất trọng. Thiên 'Quán nghĩá nói 'Quán giả, Lễ chi thủy dá, nghĩa là 'Quán lễ là bước đầu của Lễ nghí; tiếp đến thiên 'Hôn nghĩá lại nói 'Phù Lễ thủy ư Quán, bản ư Hôn, trọng ư Tang, Tế.', nghĩa là: 'Lễ nghi khởi đi từ Quán Lễ, đặt nền tảng trên Hôn Lễ, xây dựng trang nghiêm từ Tang Lễ, Tế Lế. Thiên 'Hôn nghĩá cũng là 1 thiên của sách 'Lễ Ki.     
Minh Di án: Người Việt Nam thường nói 'Quan, Hôn, Tang, Tệ
Chữ 'Quan', nếu có nghĩa là cái Nón, cái Mũ thì đọc âm là 'Quan', còn nếu để chỉ lễ Gia quan thì phải đọc âm 'Quán'. Do đó, ở đây, đúng thì phải nói 'Quán, Hôn, Tang, Tệ
                                                                           *
Là Lễ quan trọng hơn hết nhưng Quán lễ cũng đã suy đồi sớm hơn Lễ nào hết!
Trong 1 lá thư trả lời Vi Trung Lập, luận về đạo làm thầy, Liễu Tông Nguyên có 1 đoạn viết:
- 'Ức hựu văn chi, cổ giả trọng Quán lễ, tương dĩ trách thành nhân chi đạo, thị Thánh nhân sở vưu dụng tâm giả dã! Sổ bách niên lai, nhân bất phục hành. Cận hữu Tôn Xương Dận giả độc phát phẫn hành chi. Kí thành Lễ, minh nhật tháo triều chí ngoại đình, tiến hốt ngôn ư khanh sĩ viết: - 'Mỗ tư? Quán tất.'
Ứng chi giả hàm vũ nhiên. Kinh Triệu doãn Trịnh Thúc Tắc phật nhiên dê. hốt khước lập viết:
- Hà dự ngã tai ?!
Đình trung giai đại tiếu!
Thiên hạ bất dĩ phi Trịnh doãn nhi khoái Tôn tử, hà tai? - Độc vi sở bất vi dã!'.
   /  Liễu Tông Nguyên Tập. Qu. XXXIV. Thự Đáp Vi Trung Lập Luận Sư Đạo  /.
- '(Tôi) lại nghe rằng người xưa trọng Quán lễ, lấy đó để hướng dẫn người ta trọn đạo làm người đây là cái dụng tâm lớn nhất của Thánh Nhân! Mấy trăm năm trở lại đây người ta không (còn ai) cử hành Lễ này nữa. Gần đây có Tôn Xương Dận một mình 'nổi cơn' mà cử hành Lễ này! Chừng Lễ xong thì ngày hôm sau vào triều tới mé ngoài Cung, vừa đeo thẻ bài xong Tôn Xương Dận đã nói với các khanh sĩ: - 'Con tôi vừa làm Quán lễ xong.'
Những người lên tiếng trả lời Tôn Xương Dận người nào rồi cũng lộ vẻ khó chịu; [riêng có] quan Kinh Triệu doãn Trịnh Thúc Tắc bực mình đưa tay kéo thẻ bài, đứng lui lại, nói:
- Chuyện đó thì dính dáng gì tới tôi ?!
Những người trong triều rồi ai nấy đều cười rần!
Thiên hạ không ai trách quan Kinh Triệu doãn ho. Trịnh mà lại đi cười ho. Tôn, là vì sao vậy? - Vì chỉ mình ho. Tôn đi làm 1 chuyện mà không ai làm cả!'.
                                                                           *
Quán lễ đến Liễu Tông Nguyên còn chăng chỉ là một dư hưởng đã mơ hồ lắm của mấy trăm năm xưa cũ! Nhưng, trước Liễu Tông Nguyên mấy trăm năm cũng như sau Liễu Tông Nguyên cả mấy trăm năm, và mấy, mấy trăm năm sau nữa..., chúng ta còn đọc được tên Tự của những người mà đức độ, công nghiệp cũng như Tư Tưởng thiên thu vĩnh tồn!
                                                                           *
Văn hóa Cổ Việt Nam rồi chỉ còn là 1 dư hưởng cũng đã mơ hồ lắm ?
+ Qua Thiên này nói riêng - và những Thiên trong 'Hương Quan Tập' này nói chung, thiên hạ rồi cười Minh Di tôi đi làm một chuyện mà ngày nay không hiếm người nghĩ rằng:
- Chuyện đó thì dính dáng gì tới chúng tôi ?

II. Tên Tự: Nguyên Tắc Lấy Tên Tự - Số Chữ Của Tên Tự

** Nguyên Tắc Lấy Tên Tự

Theo Lục Dĩ Điềm (1801 - 1865) đời Thanh thì có những cách lấy tên Tự như sau:
(1). 'Tự hữu phân kì Danh chi bán giả.'
Nghĩa là phân 2 Chữ ghép thành Tên của mình làm tên Tự, chẳng hạn:
+ Thời Triệu Tống (960 - 1279).
Quan Vịnh, tên Tự là Vĩnh Ngôn.
Chữ Vịnh gồm 2 Chữ ghép thành: Bên trái là chữ (Bộ) Ngôn, bên phải là chữ Vĩnh.
Tạ Ngao, tên Tự là Cao Vũ.
Chữ Ngao gồm 2 Chữ: Bên trái là chữ Cao, bên phải là chữ (Bộ) Vũ.
Minh Di:
Tạ Ngao (1249 - 1295), thi nhân, từng theo Văn Thiên Tường (1236 - 1283) chống Nguyên.
+ Thời Minh (1368 - 1644).
Phó Thứ, tên Tự là Như Tâm.
Chữ Thứ: Trên là chữ Như, dưới là chữ (Bộ) Tâm.
Lưu Đồng, tên Tự là Đồng Nhân.
Chữ Đồng: Bên trái là chữ (Bộ) Nhân, bên phải là chữ Đồng.

Chú thích:

Lưu Đồng, năm Sinh và năm Tử không rõ, qua đời năm 44 tuổi, đậu Tiến sĩ năm thứ 7 Niên hiệu Sùng Trinh (1628 - 1644), năm 1634, đời Minh Tư tông (1610 - 1644; tại vị: 1627 - 1644).
Lưu Đồng cùng Vu Dịch Chính (1597 - 1636) là tác giả cuốn 'Đế Kinh Cảnh Vật Lược', một tập Bút kí lý thú tự thuật về Cảnh, Vật của thành Bắc Kinh thời trước.
(2). 'Hữu đảo dịch kì Danh giả.'
Nghĩa là đảo ngược Tên mình làm tên Tự.
Thời Triệu Tống có Ngô Đại Hữu, tên Tự là Hữu Đại, thời Minh có Mạo Khởi Tông có tên Tự là Tông Khởi.
(3). 'Hữu điệp tự giả.'
Nghĩa là tên Tự là 1 tiếng đôi, và chẳng liên quan gì tới Tên mình.
Trường hợp này Lục Dĩ Điềm đưa ra 1 thí dụ duy nhất: Diêm Nhĩ Mai, tên Tự là Cổ Cổ.
(4). 'Dĩ Danh vi Tự giả.'
Nghĩa là lấy chính tên mình làm tên Tự.
Theo Lục Dĩ Điềm, trường hợp này từ thời Đường trở về trước có nhiều, nhưng từ thời Đường trở về sau ít thấy.
Thời Triệu Tống có Thích Đồng Văn, Trần Á Chi; thời Nguyên có Đinh Hạc Niên; triều Minh có Trịnh Khắc Kính, Vương Kính Trung, Chu Mạnh Giản; và dưới Thanh triều, đàn bà lấy Tên làm tên Tự thì vào buổi đầu triều chỉ thấy 1 Từ Chiêu Hoa.
(Về những gì dẫn trên đây, xin tham khảo: Lãnh Lư Tạp Chí. Qu. III. Tự).
Minh Di:
Đinh Hạc Niên (1335 - 1424) thuộc Hồi tộc, nhà tại huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, sở trường cả về Thi lẫn Họa; về mặt Hội họa Đinh Hạc Niên trứ danh về vẽ Mai. Ngoài ra, Đinh Hạc Niên có 1 tên Tự nữa là Vĩnh Canh.
Nhìn chung, những người Lục Dĩ Điềm đưa ra ở đây là những người chẳng mấy nổi tiếng. Và rồi vì chỉ nhằm nêu lên trường hợp những tên Tự tương đối hiếm thấy cho nên ông để tâm vào chính tên Tự nhiều hơn là người mang tên Tự. Cũng vì lẽ đó nên ông đã không đưa ra được những Góc cũng như Cạnh phong phú, đa dạng của nguyên tắc lấy tên Tự của cổ nhân.

** Số Chữ Của Tên Tự

Tên Tự có thể chỉ độc 1 Chữ, có thể 2 Chữ, mà cũng có thể là 3 Chữ, hoặc hơn nữa - đại khái là vốn không hạn định. Có điều, cổ kim người ta cũng chỉ thấy tên Tự đến 3 Chữ là nhiều nhất chứ chưa thấy các tên Tự 4 Chữ, 5 Chữ, 6 Chữ ....... bao giờ - ít nhất là xét theo bình diện tên Tự của các nhân vật Lịch sử.
Và xét tên Tự các nhân vật cổ kim, người ta thấy có tất cả 3 loại tên Tự:
- Tên Tự 1 Chữ. tên Tự 2 Chữ, và tên Tự 3 Chữ.
Trong 3 loại kể trên, loại tên Tự 2 Chữ thông dụng hơn hết, và do đó cũng nhiều hơn hết.
Còn 2 loại tên Tự 1 Chữ, tên Tự 3 Chữ vốn chỉ thấy lác đác, đây đó, chẳng có bao nhiêu, nhất là tên Tự 3 Chữ - đồng thời cũng là mẫu tên Tự của những người chẳng mấy tiếng tăm. Danh nhân rất hiếm người lấy tên Tự 1 Chữ hoặc 3 Chữ, nhất là tên Tự 3 Chữ thì hầu như không thấy ai!
Vì lẽ hiếm thấy cho nên tên Tự 1 Chữ và tên Tự 3 Chữ đã thường được nhắc tới trong một vài tập Bút kí của văn gia, học gia? Trung Hoa ngày trước khi đề cập tên Tự.
Cũng theo Lục Dĩ Điềm, trong Sách đã dẫn trên, thì tên Tự 1 Chữ từ các triều Chu, Tần cho đến Đường triều là thấy có nhiều, và từ Đường trở về sau thì vào triều Minh chỉ có 1 người học trò ở quận Nhữ Nam tên là Tần Cảo, tên Tự là Kinh. Và rồi theo Lục Dĩ Điềm thì tên Tự chỉ 1 Chữ lại lấy Tên của chính mình làm Tự cũng chỉ mỗi thời Đường là có, như Lưu Tế, Lí Tú, Trương Tuần, Vũ Văn Thẩm, Lí Tiêu, Quách Ái, Lưu Thoa.
Riêng về tên Tự 3 Chữ, Lục Dĩ Điềm dẫn Sách 'Trạm Viên Trát Ki nói rằng Trương Thiên Tích tên Tự là Công Thuần Giả, Khuất Mộ Mạt tên Tự là An Thạch Bạt, và, còn thêm là tên Tự 3 Chữ cổ kim rồi chỉ 2 người này.
Lục Dĩ Điềm bác điều kể trên, nói rằng tên Tự 3 Chữ rồi thấy rất nhiều trong bộ 'Bắc Sứ - như 12 người con của Chu Văn đế tên Tự 3 đều Chữ, như Hiếu Vũ đế có tên Tự là Đà La Ni và Vũ đế  tên Tự là Di Duy Đột...., những tên Tự này 'nghĩa đều khó hiểú ('nghĩa giai nan hiểú).
Còn về đàn bà tên Tự 3 Chữ thì ở Châu Hải Ninh có Lí Nhân tên Tự là Kim Thị Am, vợ của quan Quang Lộc Cát Vô Kì, nổi tiếng tiết hạnh.
                                                                /  Sd. Qu. I. Tự và Qu. IV. Tam tư. Tự  /.
Minh Di án:
Lục Dĩ Điềm đã sai khi nói tên Tự 1 Chữ từ Đường triều trở đi thì chỉ dưới Minh triều mới có, và cũng lầm thêm điểm nữa khi khẳng định tên Tự 1 chữ lại lấy chính Tên mình làm tên Tự rồi cũng chỉ đời Đường mới có.
Trong tập Bút kí 'Trì Bắc Ngẫu Đàm' (Qu. XV), trong mục thuật về tên Tự 1 Chữ ('Nhất tư. Tứ) học gia? Vương Sĩ Trinh (1634 - 1711) cho biết Đào Trừng ở huyện Bảo Ứng tên Tự là Quí, kế đó Đổng Tiều ở huyện Lai Dương tên Tự cũng là Tiều, và cả 2 người này đều là bạn của ông.
Còn riêng về những tên Tự 3 Chữ mà Lục Dĩ Điềm cho rằng 'nghĩa giai nan hiểú tôi sẽ đề cập ở phần 'Tổng Quan' về tên Tự và tên Hiệu. 
                                                                           *
Những gì Lục Dĩ Điềm viết về tên Tự dẫn trên đây chẳng qua chỉ là những lượm lặt trong một số thư tịch rồi đưa ra 1 vài trường hợp ông thấy là lạ. Lạ là bởi những trường hợp này hiếm thấy có người nào áp dụng để lấy tên Tự, và điều quan trọng là Lục Dĩ Điềm đã không xét vấn đề 1 cách  toàn diện hơn để có thể đưa ra những nguyên tắc tổng quát mà người xưa đã vận dụng khi chọn tên Tự cho bản thân - và cho người. Nhân vật lịch sử cổ kim thì rất nhiều, số lượng tên Tự do đó cũng không là ít! Tuy nhiên, nguyên tắc lấy tên Tự cũng đã chỉ giới hạn trong một số nguyên tắc nhất định! Những nguyên tắc này chẳng có 'Văn bản', chỉ cần được nhiều người vận dụng thì sẽ thành nguyên tắc, những nguyên tắc mà tôi sẽ phân tích trong phần tiếp theo đây.
                                                                           * 
Thời cổ, việc đặt tên Tự gắn liền với Quán lễ. Lễ này bị phế bỏ, từ lâu rồi, nhưng việc đặt tên Tự thì không thời nào suy. Nhân vật lịch sử nào rồi cũng có tên Tự, hay tên Hiệu, việc lấy tên Tự và tên Hiệu rồi thành 1 phong tục của cổ nhân Trung Hoa, cũng như cổ nhân Việt Nam.
Theo sự nghiên cứu và nhận xét của riêng tôi, tên Tự của người xưa thường đã được chọn căn cứ những nguyên tắc sau:

1. Danh / Tự ý nghĩa tương hợp

Nghĩa là ý nghĩa của Tên (Danh) và của tên Tự phải đi đôi, nói một cách khác, tên Tự phải được chọn sao cho ý nghĩa của nó phải gần gần, tương tự ý nghĩa của Danh. Chẳng hạn:
+ Thời Chiến Quốc (403 - 221 tr. Cn.).
Khuất Bình (343 - 299 tr. Cn. ), tên Tự là Nguyên.
2 chữ Bình ( Danh ) và Nguyên ( Tự ) nghĩa tương tự:
Bình = Bằng phẳng; Nguyên = Vùng đất bằng phẳng.
Khuất Nguyên viết trong thiên 'Li Taó:
- 'Danh dư viết Chính Tắc, Tự dư viết Linh Quân.'
- 'Đặt tên ta là Chính Tắc, đặt tên Tự ta là Linh Quân'.
Chữ 'Quân' ở đây có nghĩa là 'Bằng', 'Đềú, nghĩa tương cận các chữ 'Bình' và 'Nguyên'.
+ Tần triều (221 - 206 tr. Cn.).
- Trần Thắng (? - 208 tr. Cn.), tên Tự là Thiệp.
2 Chữ Thắng và Thiệp nghĩa gần gần:
Thắng = Vượt qua, khắc chế được điều gì đó; Thiệp = Vượt quạ
Đây là trường hợp sách 'Bạch Hổ Thông Đức Luận' (thường được gọi tắt là 'Bạch Hổ Thông') của Sử gia Ban Cố (32 - 92) gọi là 'Văn Danh tức tri kì Tự, văn Tự tắc tri kì Danh'.
Cách lấy tên Tự dẫn trên đây từ các triều Tần (221 - 206 tr. Cn.), Hán (206 tr. Cn. - 220) trở về trước nữa rất thông dụng, từ Tần, Hán về sau ngày càng hiếm đi.
Có điều, cũng cần nói rõ là phương thức chọn tên Tự trên đây đã không mất hẳn, mà đã biến thể thành 1 dạng thức khác - dạng của 1 tên Tự song âm trong đó 1 chữ chỉ là từ 'phụ giá, với 1 số mô thức khác nhau.
(a). Tên Tự song âm, trong đó 1 Chữ hoặc là hư từ, chẳng có nghĩa chi cả, hoặc là 1 Chữ chỉ để chỉ thứ bậc trong nhà của người mang tên Tự này, như Mạnh (trưởng), Trọng (thứ), Quí (út).
- Ban Cố, tên Tự là Mạnh Kiên.
Ở đây, chữ Cố (Danh) và chữ Kiên (Tự) đồng nghĩa, trong khi đó, chữ Mạnh đi kèm tên Tự là để biểu thị Ban Cố là anh lớn trong nhà.
Ban Cố là Sử học gia thời Đông Hán (25 - 220), tác giả bộ 'Hán Thứ, và 'Bạch Hổ Thông'.
- Ban Siêu (32 - 102), tên Tự là Trọng Thăng.
2 chữ Siêu (Danh), Thăng (Tự) có nghĩa tương tự, trong khi đó, chữ Trọng ghép trong tên Tự để cho biết Ban Siêu là em thứ trong nhà.
Ban Siêu là Quân sự gia lỗi lạc đầu thời Đông Hán (em trai Sử gia Ban Cố) có nhiều công trạng về Quân sự và Ngoại giao ở vùng Tây Vực. Năm 91, Ban Siêu nhiệm chức 'Tây Vực Đô hố, tước Định Viễn hầu. Ông trước sau hoạt động ở vùng Tây Vực 31 năm, tới già mới trở về.
+ Thời Triệu Tống (960 - 1279).
 -Tăng Củng (1019 - 1079), tên Tự là Tử Cố.
2 chữ Củng (Danh) và Cố (Tự) nghĩa gần gần, chữ Tử trong tên Tự là hư từ.
Tăng Củng, Văn học gia thời Bắc Tống (960 - 1127),  là 1 trong 'Đường Tống Bát Đại Giá.
Lúc trẻ chơi thân với Vương An Thạch (1021 - 1086); về sau An Thạch thi hành Biến pháp từ đó  2 bên không còn thân nữa. Ông phê bình An Thạch là: 'dũng vu hữu vi, lận vu cải qua, nghĩa là 'Hăng say, xốc vác trong công việc,(nhưng lại)  mắc cở khi phải sửa lầm lỗí.
(b). Tên Tự song âm, trong đó Từ phụ là 1 hình dung từ nhằm nhấn mạnh ý nghĩa của Từ chủ, là tên Tự.
- Từ Kiên (659 ? - 729), Tự là Nguyên Cố.
2 Chữ Kiên (Danh) và Cố (Tự) nghĩa đồng.
Chữ Nguyên trong tên Tự có nghĩa là Lớn. Đứng đầu. Ở đây, Chữ này được dùng để nhấn mạnh nghĩa của chữ Cố, chữ Chủ trong tên Tự.
Từ Kiên là học giả trứ danh Đường triều, tác gia? Bộ 'Sơ Học Ki, 1 tác phẩm tập lục những điều tinh yếu của Kinh Sử, Bách gia Chư tử, phân môn biệt loại mà tự thuật, tổng cộng 23 Bộ - tất cả  313 điều. Trong các bô. Loại Thư (đại khái như loại Bách khoa thư) ở thời Đường nói chung, tuy không uyên bác như bộ 'Nghệ Văn Loại Tú của Âu Dương Tuân (557 - 641) nhưng nếu luận về phương diện nhận định tinh thẩm thì 'Sơ Học Ki lại chiếm phần hơn.
(c). Tên Tự song âm, trong đó Từ phụ được chọn sao cho tương ứng với 1 tính chất tối hảo được nêu trong Danh.
- Lục Nguyên Lãng (550 ? - 630), Tự là Đức Minh.
2 Chữ Lãng và Minh đều có nghĩa là Sáng, là Trong.
Nguyên Lãng có nghĩa 'Trong sáng hơn hết trong các sự trong sáng' - và trong sáng hơn hết thì không gì hơn Đức Hạnh, do đó mà lấy chữ Đức ghép vào tên Tự.
Lục Đức Minh, Kinh học gia trứ danh Đường triều, tác gia? Bộ 'Kinh Điển Thích Văn' - thường được gọi giản lược là 'Thích Văn'), một tác phẩm  nghiên cứu rất trọng yếu về các phương diện Âm vận, Tự nghĩa, Văn nghĩa, cũng như dị đồng giữa các Ấn bản của 14 Bộ 'Kinh điển' cổ: Dịch, Thượng Thư, Thi, Chu Lễ, Nghi Lễ, Lễ Kí, Xuân Thu Tam Truyện (tức 3 Bộ: Tả Truyện và Công Dương Truyện, Cốc Lương Truyện), Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Lão Tử, Trang Tử, Nhĩ Nhã.
Nghiên cứu Kinh điển cổ thì đây là tác phẩm không thể không đọc.

2. Danh / Tự tương ứng xuất cùng 1 nguồn

Trường hợp này lại phân 3 trường hợp khác nhau đôi chút.
(a). Danh vốn là 1 Chữ từ Kinh Điển, Tự cũng nhân đó mà được chọn trong cùng 1 sách - và cả Danh lẫn Tự phải nằm trong cùng 1 câu văn, hay 1 đoạn văn. Chẳng hạn:
+ Thời Bắc Ngụy, hoặc Hậu Ngụy, (386 - 534).
- Lịch Đạo Nguyên (469 - 527), tên Tự là Thiện Trưởng.
Chu Dịch. Càn Văn ngôn:
- 'Nguyên giả, Thiện chi Trưởng dá. ('Nguyên là đầu mối của mọi điều Hay, Tốt.').
Lịch Đạo Nguyên là tác giả bộ sách trứ danh về sông ngòi Trung Quốc, bộ 'Thủy Kinh Chu.
Giá trị của tác phẩm này đối với Địa lí học Trung Quốc rất lớn; còn đối với Cổ sử học Việt Nam giá trị của nó cũng không nhỏ, vì rằng tác phẩm có 1 số ghi chép liên quan Cổ sử Việt Nam mà các bô. Sử thư khác không có, tuy rằng những ghi chép này không nhiều lắm.

+ Thời Đường (618 - 907).
- Lục Vũ (733 - 804), tên Tự là Hồng Tiệm.
Chu Dịch. Quẻ Tiệm (Tốn / Cấn), Thượng Cửu:
- 'Hồng Tiệm vu Lục, kì Vũ khả dụng vi nghí.
- 'Đàn Ngỗng trời từ từ bay vô đất liền, lông cánh nó có thể dùng làm trang sức nghi tiết'.
Lục Vũ là tác giả bộ 'Trà Kinh', soạn năm 758, gồm 3 Quyển - phân làm 10 Thiên, tự luận 1 số vấn đề như khởi nguyên cũng như sản địa, của Trà, các dụng cụ nấu Trà và uống Trà, cách thức nấu Trà và uống Trà ....... Văn từ tuy giản dị, nhưng cao nhã, cổ kính. Đây là tác phẩm luận Trà đầu tiên của Trung Quốc và của cả Thế giới nữa.
Sau này hậu thế tôn Lục Vũ là Trà Thần.
+ Thời Triệu Tống.
- Lữ Mông Chính (946 - 1011), tên Tự là Thánh Công.
Chu Dịch. Quẻ Mông, Thoán từ:
'Mông dĩ dưỡng Chính, Thánh Công dã.'
Lữ Mông chính là 1 đại thần lỗi lạc thời Bắc Tống, từng 3 lần nhiệm chức quan đầu triều.
- Triều Bổ Chi (1053 - 1110), Tự là Vô Cửu.
Danh và Tự xuất từ Dịch Kinh, Thiên Hệ Từ Thượng (Chương III.):
- 'Vô Cửu giả, thiện Bổ quá dá. ('Không có lỗi (Vô Cửu) là vì biết mau mắn sửa lỗí).
Triều Bổ Chi là Văn học gia tiếng tăm cuối triều Bắc Tống (960 - 1127) - môn sinh của văn hào Tô Đông Pha (1036 - 1101). Về thơ Triều Bổ Chi sở trường thể 'Sở Tứ.
Hoàng Đình Kiên (1045 - 1105), Tần Quan (1049 - 1100) và Trương Lội (1054 - 1114) cùng với Triều Bổ Chi được người đương thời gọi là 'Tô Môn Tứ Học Sí, nghĩa là 4 vị học sĩ xuất thân từ nhà ho. Tộ
 + Thanh triều.
- Phó Dĩ Tiệm (1609 - 1665), Tự là Vu Bàn. Đại thần.
Danh là Tiệm, 1 trong 64 Quẻ Dịch, Quẻ thứ 53: Nội quái Cấn, Ngoại quái Tốn.
Tự là Vu Bàn, là Chữ trong Hào 6/2 (Lục nhị) Quẻ Tiệm:
Tiệm, 6/2: 'Hồng Tiệm Vu Bàn'. ('Đàn ngỗng trời từ từ bay tới mỏm đá ven bờ.').
Phó Dĩ Tiệm từng giữ chức Tổng tài trong 1 số công trình biên soạn Sử học. Ngoài ra, ông từng theo lệnh triều đình cùng với Tào Bản Vinh (? - ?) soạn bộ 'Dịch Kinh Thông Chu.
- Trương Lí Tường (1611 - 1674), Tự là Khảo Phụ
Danh là Lí Tường, là 2 Chữ trong Hào 9/6 (Thượng Cửu) Quẻ Lí (Càn / Đoài), Quẻ thứ 10.
Quẻ Lí, 9/6: 'Thị Lí khảo Tường'. ('Nghiệm kĩ lại những gì mình đã trải quá).
Tự là Khảo Phu, chữ Khảo ở đây chính là chữ Khảo trong câu vừa kể. Chữ Phu là 1 trợ từ.
Trương Lí Tường là 1 học giả và 1 Nông học gia, chủ trương việc trị quốc phải dựa trên căn bản Nông nghiệp, bản thân ông cũng đã ra sức canh tác hơn 10 mẫu ruộng. Năm 1658 ông viết xong bộ 'Bổ Nông Thứ tổng kết lại những kinh nghiệm chủ yếu về mặt sản xuất nông nghiệp của các triều đại trước đó cũng như đương thời. Ngoài ra ông còn soạn thuật 1 số tác phẩm trong một số lãnh vực khác như 'Độc Dịch Bút Ki, 'Độc Sử Ngẫu Kị...
Toàn bộ tác phẩm của ông được tập lại trong 'Dương Viên Tiên Sinh Toàn Tập' - Dương Viên là tên Hiệu của ông.
- Đái Chấn (1723 - 1777), Tự là Thận Tụ
Danh và Tự xuất từ Đại Tượng từ Quẻ Chấn (Chấn / Chấn), Quẻ thứ 51.
Chấn, Đại Tượng từ:
- 'Tiến Lôi, Chấn, quân tử dĩ khủng cu. Tu tỉnh'.
- 'Sấm sét ầm ầm, là Tượng của Quẻ Chấn, quân tử coi đó, sinh lòng sợ hãi mà Tu tỉnh'.
Sợ hãi đây là ẩn dụ về sự sợ hãi những hậu quả của những hành vi không chính đáng.
Đái Chấn là 1 Tư tưởng gia, 1 Khảo cứ học gia tiếng tăm, xuất thân từ 1 gia đình buôn bán.
Vừa trưởng thành, các ngành như Kinh học, Thiên văn, Lịch toán, Địa lí, Âm vận học, cũng như Huấn cổ học..... không ngành nào ông lại không nghiên cứu tinh tường. Ông là thầy học của các học giả tiếng tăm đương thời, như Đoàn Ngọc Tài (1735 - 1815), Văn tự học gia trứ danh với Bộ chú giải 'Thuyết Văn Giải Tự Chu, của hai cha con học gia? Vương Niệm Tôn (1744 - 1832) và Vương Dẫn Chi (1766 - 1834). 
- Chu Trung Phu (1768 - 1831), Tự là Tín Chị
Trung Phu (Danh) là 1 trong 64 Quẻ Dịch, Quẻ thứ 62: Nội quái Đoài, Ngoại quái Tốn.
Chu Dịch. Thiên 'Tạp Quáí nói: - 'Trung Phu, Tín dá. ('Quẻ Trung Phu nghĩa là Tin vàó).
Ở đây cũng cần để í một điều là tên Tự từ 2 Chữ, 3 Chữ... lấy từ Kinh sách không nhất thiết theo đúng như thứ tự viết trong sách.
Gia Hiền Ông (1213 ? - 1298) đời Nguyên kể lại rằng lúc ông mới đến Doanh Châu thì quen với 1 người tên Quách Thuấn Nguyên. Thuấn Nguyên có 1 đứa con tên Tấn, thông minh ham học và cầu tiến không thôi.
Trong bài văn tựa đề 'Đức Chiêu Tự Thuyết' ('Luận về Tên Tự Đức Chiêú), Gia Hiền Ông có đoạn viết về đứa trẻ này như sau:
- 'Tỉ Gia quan, mệnh danh viết 'Tấn', tỉ dư vi chi Tự chi. Dư thủ 'Tấn' chi Đại Tượng 'Quân tử tự chiêu minh đức' chi nghĩa, Tự chi viết 'Đức Chiêu.
                  /  Toàn Nguyên Văn. Qu. CDVIII. Gia Hiền Ông 2. Đức Chiêu Tự Thuyết  /.
- 'Chừng đến tuổi Gia quan đặt tên nó là 'Tấn', nhờ tôi chọn tên Tự cho nó. Tôi căn cứ ý nghĩa của Đại Tượng từ Quẻ 'Tấn' 'Quân tử tự làm sáng cái đức sáng của mình' mà đặt tên Tự cho nó là 'Đức Chiêu.
Đại Tượng Từ Quẻ Tấn: - 'Minh xuất Địa thượng, Tấn, quân tử dĩ tự chiêu minh đức'.
- 'Ánh sáng ra khỏi Đất, là Quẻ Tấn, quân tử coi đó mà tự làm sáng cái đức sáng của mình'.
Trong nguyên văn là 'Chiêu minh Đức', chữ Chiêu phía trước, chữ Đức ở sau, Gia Hiền Ông đã đảo thứ tự lại là 'Đức Chiêú.
Ngoài ra, qua đoạn văn trên thì có thể thấy là đến tuổi thành niên (gia quan), đứa trẻ vốn có thể được đặt cho 1 cái Tên khác với Tên được đặt cho lúc sinh ra, tên Tự, do đó, cũng có thể đổi.   

(b). Cũng như trường hợp (a) đã tự thuật, chỉ khác 1 điều là Danh ở đây chỉ là 1 chữ đồng nghĩa với 1 chữ của Sách, nói khác đi, Danh không là chữ nguyên văn trong Sách.
+ Minh Triều (1368 - 1644).
- Hà Đằng Giao (1592 - 1649), Tự là Vân Tòng.
Chu Dịch. Càn Văn ngôn:
- 'Vân tòng Long, phong tòng Hổ.' ('Mây theo Rồng, gió theo Cọp.').
Giao, theo cổ thư, thuộc chủng loại Long, do đó 2 tiếng Giao Long thường đi đôi. Về hình tướng con Giao thì các thuyết rất phân vân.... Có sách nói thân có vảy là Giao Long; có sách lại nói là Giao thân cá, đuôi rắn; có sách, mô tả với nhiều chi tiết hơn, thì nói Giao dạng giống rắn mà có 4 chân, đầu nhỏ, cổ thon, dưới cổ có 1 cái bướu trắng, thân lớn cả mười mấy người ôm,...... cũng  có sách nói con Giao có thể phun nước làm mưa.
Giao cũng thuộc loại Long, do đó lấy 2 chữ Vân Tòng làm Tự.
Hà Đằng Giao là đại thần triều Nam Minh (1644 - 1683), từng giữ nhiều chức vụ quan trọng về Văn cũng như Võ. Năm 1649, bị quân Thanh bắt, tuyệt thực 7 ngày mà chết.
- Khương Viết Quảng (? - 1649), Tự là Cư Chị
Chu Dịch. Càn Văn ngôn:
- 'Quân tử học dĩ tụ chi, vấn dĩ biện chi, khoan dĩ  cư chi, nhân dĩ hành chí.
- 'Quân tư? Học là để tích lũy kiến thức, Hỏi là để biện biệt Đúng / Sai, lấy lòng khoan dung mà cư xử với người, lấy đức nhân mà thi hành trong đời sống'.
Quảng (Danh) và Khoan (Chữ của Sách) đồng nghĩa là Rộng Lớn, do đó lấy tên Tự Cư Chị
Năm 1626, Khương Viết Quảng được lệnh đi sứ Triều Tiên - khi về ông tường trình tất cả 8 điều luận về tình hình tại hải ngoại, cũng như những điều mắt thấy tai nghe có thể đem lại lợi ích cho quốc gia
Lúc Kim Thanh Hoàn (? - 1649) chiếm lãnh Nam Xương, tỉnh Giang Tây, chống lại Thanh triều vào năm 1648, Khương Viết Quảng cũng tới trợ giúp. Năm sau, Kim Thanh Hoàn thua trận, còn bị trúng tên, nhảy xuống biển tự tận thì Khương Viết Quảng cũng nhảy xuống biển chết.  
(c). Danh và Tự tuy cùng lấy từ một Sách, nhưng cả 2 không cùng ở 1 câu văn, 1 đoạn văn như ở 2 trường hợp (a) và (b) đã nói trên mà sự liên quan Danh / Tự ở đây có tính cách của một thứ tự nào đó giữa các điều, mục... trong sách.
+ Minh triều.
- Uông Bỉnh Khiêm (? - 1625), Tự là Triệu Dự.
Trong 64 Quẻ Dịch Quẻ Khiêm (Khôn / Cấn) đứng liền trước Quẻ Dự (Đoài / Khôn) bởi vậy mà chọn tên Tự là Triệu Dự. Triệu có nghĩa là 'bày ra, lộ ra trước' - như chúng ta vẫn thường nghe nói 'mộng triệú; triệu là 'cái điềm'.
- Diêm Ứng Nguyên (1607 - 1645), Tự là Lệ Hanh.
Chu Dịch. Quẻ Càn, Quái từ:
- 'Càn: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh'. ('Quẻ Càn có 4 đức: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh').
 Danh, Tự ở đây theo thứ tự 'Nguyên / Hanh'. Lệ Hanh, Lệ có nghĩa là 'Gắn liền vớí.

3. Tên Tự là Chữ lấy từ Sách

Có điều, ý nghĩa của Tự lại chẳng liên quan chút nào với ý nghĩa   của Danh, nói rõ hơn thì đây là trường hợp chọn tên Tự từ Sách nhưng lại không muốn câu thúc ở ý nghĩa của Danh.
+ Đường triều.
- Bạch Cư Dị (772 - 846), Tự là Lạc Thiên.
Chu Dịch. Hệ Từ thượng, Chương IV:
- 'Lạc Thiên tri mệnh cố bất ưú.
- 'Vui với Mệnh Trời, í thức được hoàn cảnh của mình cho nên không lo lắng.'.
Tên Cư Dị cũng là Chữ lấy từ Sách.
Sách 'Trung Dung', Chương XIV:
- 'Thượng bất oán Thiên, hạ bất vưu nhân, cố quân tư? Cư Dị dĩ sĩ Mệnh'.
- 'Trên không oán Trời, dưới không giận người, cho nên, quân tử tùy địa vị, hoàn cảnh mà cư xử để chờ Mệnh Trờí.
Ở đây, tuy việc chọn tên Tự là tùy í nhưng Bạch Cư Dị rồi đã cố ý chọn 2 chữ 'Lạc Thiên' nhằm đối với 2 chữ 'Oán Thiên' trong câu từ đó tên mình được rút ra.
+ Minh triều.
- Cố Nguyên Khánh (1487 - 1565), Tự là Đại Hữu.
Đại Hữu là 1 trong 64 Quẻ Dịch, Quẻ thứ 14: Nội quái Càn, Ngoại quái Li
Cũng như 'Chiêu Minh Thái Tứ Tiêu Thống (501 - 531) triều Lương (502 - 557), khoảng cuối kì Nam Bắc triều (420 - 589), Cố Nguyên Khánh cũng là 1 'Tàng thư giá rất nổi tiếng, nhà ông có phòng chứa Sách tên gọi là 'Di Bạch' tàng trữ cả chục ngàn cuốn sách. Ông chọn, lựa ra những 'Thiện bản' (tức Bản in, hoặc Bản chép tay có giá trị, quí hiếm) đem in lại - trong số này có các Bộ 'Cố Thị Văn Phòng Tiểu Thuyết', 1 bô. Tùng thư gồm tất cả 42 tác phẩm, đa số là Bút kí, và Bộ 'Minh Triều Tứ Thập Gia Tiểu Thuyết'.

Có lẽ vì tàng trữ Sách rất nhiều cho nên Cố Nguyên Khánh đã lấy tên Tự là 'Đại Hữú, nghĩa là 'Có Nhiềú, 'Có 1 số lượng lớn'.
+ Thanh triều.
- Lí Ngung (1627 - 1705), Tự là Trung Phụ Tư tưởng giạ
Trung Phu là 1 trong 64 Quẻ Dịch, Quẻ thứ 62: Nội quái Đoài, Ngoại quái Tốn.
Lí Ngung cùng với Tôn Kì Phùng (~ 1584 - ~ 1675) và Hoàng Tông Hi (1610 - 1695) từng được học giới đương thời gọi là 'Tam Đại Nhó. Không ra làm quan, ở nhà dạy học và nghiên cứu.  
- Trương Anh (1637 - 1708), Tự Đôn Phục. Đại thần.
Hào 6/5 Quẻ Phục (Khôn / Chấn): 'Đôn Phục, vô hốí.

4. Danh / Tự ý nghĩa tương phản

Ở đây, tên Tự đã được chọn có í nghĩa nhằm chiết giảm, hoặc gia tăng í nghĩa của Danh, để tạo 1 nét quân bình, điều hòa trong tương quan Danh / Tự.
+ Tam Quốc (220 - 280).
- Lữ Mông (178 - 219), Tự là Tử Minh.
Đây cũng là trường hợp tên Tự song âm đã nói ở trường hợp 1/, chữ Tử trong tên Tự là 1 hư từ.
Lữ Mông là 1 bộ tướng của Tôn Quyền (182 - 252; tại vị: 229 - 252), Ngô quốc (222 - 280).
Mông (Danh): Tối tăm, mờ mịt. Minh (Tự): Sáng sủa.
+ Tấn (265 - 420).
Đào Tiềm (365 - 427), Tự là Uyên Minh.
Thi nhân trứ danh thời Đông Tấn (317 - 420), tác giả bài 'Qui Khứ Lai Tứ nổi tiếng.
Tiềm (Danh) có nghĩa là 'Ẩn, không lộ rá. Ẩn tức ở trong tối, do đó lấy tên Tự là Uyên Minh. Uyên có nghĩa là 'Vực sâú, vực sâu cũng là nơi tối tăm, hàm í 'Tiềm'.
+ Đường triều.
- Đỗ Như Hối (585 - 630), Tự là Khắc Minh. Đại thần Đường triều.
Cũng như trường hợp trên.
- Vương Tích (585 - 644), Tự là Vô Công, Văn học giạ
Tích (Danh) nghĩa là công trạng, trong khi tên Tự thì ngược lại, không có công (Vô Công).
+ Triệu Tống.
- Thang Tư Thoái (? - 1164), Tự là Tiến Chị Đại thần Đường triều.
Tiến (Tự) tương phản với Thoái (Danh).
- Chu Hi (1130 - 1200), Tự là Nguyên Hối.
Hi (Danh): Sáng sủa, rõ ràng. Hối (Tự): Tối tăm.
Chu Hi còn có 1 tên Tự nữa là Trọng Hối, và 1 tên Hiệu là Hối Am, tất cả đều có chữ Hối.
Chu Hi là học giả, triết gia trứ danh thời Nam Tống.
+ Minh triều.
Chúc Doãn Minh (1461 - 1527), Tự là Hi Triết.
Minh(Danh) là Sáng, Hi Triết (Tự) nghĩa là 'Ít Sáng'.
Chúc Doãn Minh là văn học gia, Thư, Họa gia trứ danh Minh triều; nếu luận riêng về Thư pháp có thể nói ông là đệ nhất Minh triều.
+ Thanh triều.
- Tiền Đại Chiêu (1744 - 1813), Tự là Hối Chị Học giả.
Chiêu (Danh): Sáng sủa. Hối (Tự): Tối tăm.     
Tiền Đại Chiêu là em học giả trứ danh Tiền Đại Hân (1728 - 1804).
Gia tộc ho. Tiền là 1 gia tộc tiếng tăm về học thuật. Gia đình anh em Tiền Đại Hân thì cả nhà, từ cha con, anh em, người nào cũng tinh tường về Khảo chứng học. Còn về các ngành học thuật, từ Bách gia, Chư tử cho tới Thiên văn, Địa lí, Toán thuật.... không ngành nào mà trong gia đình lại không tinh thâm! Gia tộc ho. Tiền có tất cả 9 người nổi tiếng được gọi chung là 'Cửu Tiền' - tức là '9 người ho. Tiền'.

Tóm lại, mục đích của việc chọn tên Tự ở đây là, điều gì thái quá thì tiết chế bớt, điều gì bất cập thì cố mà vươn tới. Có điều, đây chỉ là í hướng, còn làm được hay không lại là chuyện khác, như Thang Tư Thoái đã kể trên, trong thời gian nắm quyền (từ 1155 tới 1160), cũng chỉ biết phụ họa tên gian thần Tần Cối (1090 - 1155).

5. Danh/Tự hợp thành một ý mạch lạc

Qua đó, Tự mô tả 1 tính chất nào đó của Danh, hoặc là Danh biểu thị 1 điều kiện tổng quát cho 1 hành vi, 1 kết quả nào đó diễn tả qua tên Tự - hoặc là Danh/Tự biểu thị 1 thái độ, 1 ý hướng..... nào đó. Phương thức đặt tên Tự này rất nhiều, chỉ nêu 1 số trường hợp sau đây.
+ Nam Bắc Triều. Lưu Tống.
- Bảo Chiếu (405 - 466), Tự là Minh Viễn.
Chiếu (Danh) có nghĩa là 'Soi, rọi cho sáng'.
Minh Viễn (Tự) có nghĩa 'Sáng xá.
Soi chiếu cho sáng, và là sáng tận xa nữa.
Bảo Chiếu là thi nhân trứ danh triều Lưu Tống. Nhạc Phủ của ông đa số mô tả cảnh chiến tranh ở Biên tái, tình cảnh của chinh phu ngoài biên thùy. Thể Thất ngôn Nhạc phủ của Bảo Chiếu có ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế. Thơ tiêu biểu của ông là 18 bài 'Hành Lộ Nan'.
+ Nguyên triều.
- Uông Nguyên Lượng (? - ?), Tự là Đại Hữu.
Lượng (Danh) có nghĩa là số lượng (1 lượng nào đó chưa biết bao nhiêu, bất định), ở đây tên Tự cho biết đó là Số Lượng rất lớn, Đại Hữu. 
+ Minh triều.
- Phương Phùng Thời (? - 1596), Tự là Hành Chị Đại thần Minh triều.
Có Gặp Thời (Phùng Thời) thì Hành Động (Hành Chi) mới gặp thuận lợi.
- Vu Thận Hành (1545 - 1607), Tự là Khả Viễn.
Hành sự cẩn thận (Thận Hành) thì mới tiến xa được (Khả Viễn).
+ Thanh triều.
- Uông Sĩ Thận (1686 - 1759), Tự là Cận Nhân.
Thận (Danh) có nghĩa là 'Cẩn thận, thận trọng'.
Cận Nhân (Tự) có nghĩa là 'Gần ngườí.
Hợp Danh/Tự mà giải: 'Gần người thì phải thận trọng'.
Thận trọng trong đối xử khi gần người, mà cũng có thể thận trọng vì lòng người hiểm ác.
Uông Sĩ Thận là 1 Thư pháp gia, 1 Họa gia nổi tiếng tại đất Dương châu, sở trường vẽ Thủy tiên và Mai, Trúc. Về già bị mù, và theo tương truyền ông vẽ Mai cũng như viết thể Bát Phân thư cho người còn tuyệt diệu hơn lúc chưa mù.
Uông Sĩ Thận là một trong 'Dương châu Bát quáí (8 người quái lạ đất Dương châu) - hay cũng còn gọi 'Dương châu Bát giá, 8 Thư, Họa gia nổi tiếng ở đất Dương châu.
Họa pháp của '8 người quái lá này phóng bút tùy í, không nệ cổ pháp, tranh vẽ người nào cũng được thiên hạ tranh nhau mua.
Dương châu Bát quái gồm:
1/. Uông Sĩ Thận.
2/. Lí Thiển (1686 - 1762), Tự là Tông Dương, Hiệu là Phục Đường.
3/. Kim Nông (1687 - 1763), Tự là Thọ Môn, Hiệu là Đông Tâm, nhưng, thường 'thự khoản' trên họa phẩm là Kim Cát Kim.
4/. Hoàng Thận (1687 - 1768), tư. Cung Mậu, hiệu Ảnh Phiêu Tử. Sở trường Hoa cỏ, Nhân vật.
5/. Cao Tường (1688 - 1753), tư. Phụng Cương, sở trường họa Mai.
6/. Trịnh Tiệp (1693 - 1765), tư. Khắc Nhu, hiệu Bản Kiều. Sở trường Mặc trúc, Mặc lan.
7/. Lí Phương Ưng (1695 - 1754), tư. Cù Trọng. Mai, Lan, Tùng, Trúc đều sở trường.
8/. La Sính (1733 - 1799), tư. Độn Phu, hiệu Lưỡng Phong, học trò 'nhập thất' của Kim Nông.
Hoa cỏ, Nhân vật, Sơn thủy, họa đề nào ông cũng khéo. Vợ là Phương Uyển Nghi, cùng 2 con La Doãn Thiệu, La Doãn Toản đều giỏi vẽ Mai, người đương thời gọi là 'La gia Mai pháí.

6. Danh và Tự chỉ 2 sự vật ở cùng trong 1 nhóm sự vật có liên quan

- Mễ Phất (1051 - 1107), Tự là Nguyên Chương.
Chữ Phất ở đây có 2 nghĩa:
1/. Tấm vải trang sức che mặt trước Tế phục thời cổ, che từ eo lưng xuống đến chân, đầu trên có bề rộng là 1 thước (32 cm), đầu dưới rộng gấp đôi (2 thước = 64 cm), dài 3 thước (96 cm), và có đường viền là nửa (1/2) thước (16 cm).   
2/. Sợi dây đeo Ấn.
Thời cô? Ấn chương có 1 cái khoen, hoặc 1 cái lỗ, để xỏ dây đeo.
Nghĩa thứ 2 này chính là nghĩa của Tên 'Mễ Phất'. Vì sao mà biết?
Vì tên Tự của Mễ Phất là Nguyên Chương. Chương có nghĩa 'nét khắc của Ấn' - đồng thời cũng có nghĩa là 'Cái Ấn', như người ta thường nói 'Ấn Chương'.
Danh là 'Sợi dây đeo Ấn', và Tự là 'Cái Ấn'. Cái Ấn và Sợi dây đeo Ấn là 2 vật liên quan.
Mễ Phất là một Thư, Họa gia trứ danh đời Bắc Tống, tính tình quái dị, mê Thư, Họa cổ như điên như cuồng, gặp được cổ họa, cổ thiếp nào ưng ý là phải mua, hoặc lấy những Thư, Họa khác mà trao đổi cho bằng được mới thôi. Gia đình vốn giàu có do đó mà ông đã đổ ra rất nhiều tiền bạc cho việc sưu tập Thư, Họa này - còn nếu mua không được, mà đổi cũng không xong thì tìm cách mượn về rồi vẽ lại, hoặc viết lại i như thật, giữ chân bản lại và đem bản giả trả lại sở hữu chủ.
Tính si mê Thư, Họa điên cuồng cũng như tài giả mạo Thư, Họa, của Mễ Phất rồi được ghi chép  rất nhiều trong những tập bút kí của văn gia, học giả... đương thời. Mễ Phất mô phỏng quá khéo cho nên thời ấy người nào có danh họa, danh thiếp, gặp Mễ Phất cũng giấu thật kĩ... không dám đưa ra khoe, sợ ông mượn đưa về nhà thì khi nhận lại rồi không bảo đảm Thư đó, Họa đó có còn là vật lúc cho mượn nữa hay không?
Trong tập Bút kí 'Thanh Ba Tạp Chi (Qu. V.) - viết xong vào năm 1192, Chu Huy (? - ?), sống vào thời Nam Tống (1127 - 1279) đã ghi lại 1 số giai thoại về Mễ Phất, lược thuật như sau.
Chu Huy kể lại là có 1 lần Mễ Phất gặp 1 người vừa mua được 1 Bức tranh vẽ Trâu của Họa gia Đái Tung, Mễ Phất mượn về nhà coi mấy ngày, vẽ lại i như nguyên bản, rồi lấy Bản này đem trả  cho người kia. Không lâu sau đó sở hữu chủ bức tranh cầm Bức tranh giả đó tới gặp Mễ Phất để xin lại Chân bản. Mễ Phất lấy làm lạ, hỏi người này làm thế nào lại phân biệt được chân, giả thì ông ta nói rằng Bức tranh của ông ta trong mắt Trâu vốn có 'Bóng' của thằng bé chăn trâu, còn Bức tranh vẽ lại của Mễ Phất thì không.
Rồi lần nữa, Mễ Phất ngồi thuyền chung với một quan chức thần thế thưởng ngoạn thư thiếp của Vương Diễn (256 - 311) thời Tây Tấn (265 - 317). Mễ Phất muốn lấy một bức tranh để đổi lấy tự tích Vương Diễn. Người này còn dùng dằng thì Mễ Phất gào lên, nhào tới mép thuyền chực nhảy xuống sông chết. Người này kinh hoảng, vội tặng luôn tấm thiếp đó cho Mễ Phất.
+ Trong tập Bút kí 'Độc Tỉnh Tạp Chi (Qu. II.), Nhà sư Mẫn Hành (? - 1175) cho biết là người ở trên thuyền đó là Thái Du (? - 1126), con trai lớn của gian thần Thái Kinh (1047 - 1126).
Mễ Phất tánh tình quái dị, nói năng ngược đời, ăn mặc lại càng không giống ai, người thời Tống mà lại áo quần, mũ mão lại i như thời Đường, vô cùng quái dị. Ăn bận khác đời như vậy cho nên mỗi lần ra đường là thiên hạ cứ bu lại coi, người coi càng đông Mễ Phất càng khoái chí, đến đỗi những người không biết Mễ Phất rồi cũng biết đó chính là Mễ Phất.
Tánh tình, phong cách quái dị, khác đời, điên điên, khùng khùng như vậy cho nên là thời bấy giờ người ta đã gọi Mễ Phất là Mễ Điên.
Theo 'Độc Tỉnh Tạp Chi (Qu. VỊ), Mễ Phất đội nón lồi cao ngồi kiệu, chóp nón đụng nóc kiệu ngồi không được cho nên gỡ bỏ luôn mái kiệu đi, ló chóp nón lên ai thấy cũng tức cười.
Giai thoại về Mễ Phất thì cực nhiều, và, hầu hết là những chuyện người ta kể cho nhau nghe như những chuyện khôi hài.

7. Danh, Tự nhắc lại 1 sự việc, hoặc hợp thành 1 ngụ ý nào đó

+ Đường triều.
- Lí Ích (748 - 827), tên Tự là Quân Ngu, thi nhân đời Đường.
Ích là tên 1 bề tôi của Đế Thuấn do đó Lí Ích lấy tên Tự là Quân Ngụ Quân = Vua, và Ngu tức Hữu Ngu thị, tên Bộ lạc của Đế Thuấn. Do đó Sử gọi vua Thuấn là Ngu Thuấn.
+ Nguyên triều (1279 - 1368).
- Hoàng Công Vọng (1269 - 1355), Tự là Tử Cửu.
Tư Mã Thiên (145 - 86 ? tr. Cn.) chép lại trong 'Sử Ki là Văn vương đi săn và gặp Lữ Thượng ở Bắc ngạn sông Vị. 2 bên nói chuyện 1 lúc, Văn Vương vui lắm, nói:
- 'Tự ngô tiên quân Thái Công viết: - 'Đương hữu thánh nhân thích Chu, Chu dĩ hưng'! Tử chân thị giả ngô Thái công vọng Tử cửu hĩ!'.
                                                             /  Sử Kí. Qu. XXXII. Tề Thái công Thế gia  /.
- 'Trước đây cha tôi là Thái công từng nói: - 'Rồi có Thánh nhân đến với Chu triều, Chu nhờ đó mà hưng'! Có phải rồi người đó là ông chăng? Thái công của tôi mong Ông đã lâu rồi!'.
Danh và Tự đã xuất từ câu 'Ngô Thái công vọng Tử cửu hĩ!', hiển nhiên.
Lữ Thượng tức Khương Tử Nha, quân sư cho Vũ vương, con Văn vương, đánh bại Trụ vương của triều Ân, và khai sáng Chu triều (1121 - 256 tr. Cn.).
Hoàng Công Vọng là Họa gia nổi tiếng về Sơn Thủy cuối Nguyên triều, là 1 trong 4 Họa gia lớn của triều đại này mà Lịch sử Hội họa gọi là 'Nguyên quí Tứ đại giá - là: Hoàng Công Vọng và  Ngô Trấn (1280 - 1354), Nghê Tán (1301 - 1374), Vương Mông (1301 - 1385).   
+ Minh triều.
- Trần Tử Long (1608 - 1647), Tự là Nhân Trung.
Danh, Tự hợp lại thành 'Nhân Trung Long', nghĩa là 'Rồng trong đám ngườí.
Đậu Tiến sĩ trong khoảng Niên hiệu Sùng Trinh (1628 - 1644). Về Thi phú, ông theo phong cách các triều Ngụy (220 - 265), Tấn (265 - 420), sở trường về Thể văn Biền ngẫu.
Sau khi Minh triều sụp đổ ông chạy về ở Tùng Giang khởi binh chống Thanh. Thất bại, chạy vào núi lẩn trốn. Sau ông về Thái Hồ mưu việc kháng Thanh, sự việc chưa tiến hành thì tin tức tiết lộ để rồi bị bắt giữ. Thừa cơ Thanh binh canh giữ ơ hờ, Trần Tử Long nhảy xuống sông tự tận.

8. Tên Tự là hậu quả của lòng ngưỡng mộ 1 nhân vật nào đó

Văn học gia Liễu Khai (947 - 1000) thời Triệu Tống lúc đầu có tên Tự là Trọng Đồ, sau vì phục  Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên nên đã sửa tên thành Tiếu Dũ và đổi tên Tự thành Thiệu Nguyên.
Tiếu Dũ: Giống (Hàn) Dũ, và Thiệu Nguyên: Kế thừa (Liễu Tông) Nguyên.

9. Tự và Danh hợp thành 1 Tên gọi

Hoặc nói cho rõ hơn, Danh và tên Tự là 2 thành phần của 1 Tên gọi có 1 ý nghĩa nhất định nào đó.
- Vương Duy (701 - 761), tên Tự là Ma Cật.
Duy (Danh) + Ma Cật (Tự)  = Duy Ma Cật, là tên của 1 Bồ Tát cùng thời với Đức Phật, ghi cho đủ là Duy Ma La Cật, Tì Ma La Cật. Gọi giản lược thì gọi Duy Mạ
Duy Ma Cật là phiên âm từ Phạn ngữ, lúc đầu dịch là 'Tĩnh Danh', sau dịch là 'Vô cấu Xưng'. Tĩnh = 'trong sạch', Vô cấu = 'không bụi bặm'. Danh nghĩa là 'tiếng tăm truyền xá.
Tóm lại, 'Tĩnh Danh', 'Vô cấu Xưng' danh xưng tuy khác nhưng nghĩa đồng. Vương Duy khi lấy tên Tự Ma Cật là nhằm lấy cái nghĩa 'Vô cấú này.
                                                                           *

Nguyên tắc lấy tên Tự không chỉ chừng đó, trên đây chỉ là những nguyên tắc thường thấy.

Thân kính mời đọc tiếp phần 2

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đào Như

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Liên hiệp quốc

a

Lý Đại Nguyên

a

Mai Thanh Truyết

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thiếu Nhẫn

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Nguyễn Văn Hoàng

a

Lm. Tadeo Nguyễn Văn Lý

a

Phạm Đình Hưng

a

Ht. Thích Quảng Độ

a

Ht. Thích Thiện Minh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Tuesday, 18 January, 2011 12:02