Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo Lịch sử

Minh Di

Tên tự - Tên hiệu

Phụ lục II
  

**Một Câu Đố

Trong 'Truyện Kiềú  có câu:
                                               'Một con trai thứ rốt lòng,
                                                Vương Quan là Chữ nối giòng Nho giá.

Chú giải 2 chữ Vương Quan, ông Vân Hạc viết:
- 'Vương-Quan là Chữ nghĩa là tên tự là Vương Quan.
Chữ tức là Tự. Tự là tên Tự. Bên Tàu ngày xưa con trai từ lúc mới sinh ra cho đến năm 19 tuổi chỉ mới có tên tục tức tên gọi trẻ con trong nhà. Từ năm 20 tuổi trở đi, bấy giờ con trai mới bắt đầu đội mũ, sau khi làm lễ Gia quan và từ bấy giờ mới có tên Tự, tức là tên người lớn.
- Tiếng Chữ tức Tự phải giải như vậy thì mới có nghĩa. Nhưng ở đây, Vương-Quan là em Thúy-Kiều Thúy-Vân. Mà hai chị em mới sấp sỉ tới tuần Cập Kê, tức độ 14,15 tuổi (xem đoạn dưới sẽ rõ). Vậy Vương-Quan theo lẽ chưa thể có tên Tự, vì tuổi chưa đến hai mươi.
Đời Minh, tục đặt tên Tự không theo đúng cổ lệ chăng?
Hay là cu. Nguyễn Du đã dùng lầm chữ?
Hay là tiếng chữ ở đây tác giả không định dùng để nói tên tự? (Nếu thế thì dùng ép không hay)'.
                                                 /  Truyện Kiều Chú Giải. Chú giải 13  /.

Đoạn chú giải trên đây ông Vân Hạc viết cũng đã 43 năm đúng - theo như năm, tháng ông ghi ở cuối phần 'Chú-Giải Đại Y của ông: 'Mùa Thu năm Nhâm Thìn'.
Năm Nhâm Thìn đây tức năm 1952.
40 năm sau ông Vân Hạc, ông Trần Văn Tích cũng thắc mắc:
- ''Vương Quan là chứ nghĩa là tên tự là Vương Quan'. Có lẽ như thế thực. Và như vậy có nghĩa là chúng ta đành chịu, không biết cậu út ho. Vương tên thực, tên húy là gì. Hơn nữa, chữ  Vương trong Vương Quan - nếu hiểu như Vân Hạc và người viết bài này hiểu - sẽ không phải là ho. Vương, mà hợp với Quan để làm thành một từ ghép, chi? Tên Tự hay Tự Hiệu của người em trai Thúy Kiều......
Cha ông chúng ta ngày trước từ khi sinh ra cho đến năm mười chin tuổi chỉ dùng tên tục tức tên gọi trẻ con trong nhà. Từ năm hai mươi tuổi trở đi, con trai bắt đầu đội mão, sau khi làm lễ gia quan (quan là mũ, mão), tức là lễ chúc phúc cho con trai đã đến tuổi khôn lớn. Và từ thời điểm này chàng thanh niên mới có tên Tự, tức là tên người trưởng thành. Cũng vì vậy mà tuổi hai mươi được gọi văn hoa là tuổi nhược quan, dưới hai mươi tuổi là tuổi vị quan. Riêng đối với khách văn chương thì ngoài tên húy và tự hiệu còn có biệt hiệu. Biệt Hiệu thường được đặt trước Họ, còn Tự Hiệu lại thường đặt sau Họ. Nếu muốn trình bày một cung cách sắp xếp 3 yếu tố vừa kể thì chúng ta có mô thức sau:
                   Biệt hiệu         Họ         Tự.
Chẳng hạn:
                   Quế Đường Lê Doãn Hậu ( Lê Quí Đôn ).
                   Thanh Hiên Nguyễn Tố Như ( Nguyễn Du ).
                   Mẫn Hiên Cao Chu Thần ( Cao Bá Quát ).
............... Còn trong trường hợp em trai Thúy kiều, thì vì biệt hiệu và tên húy đều là những ẩn số văn học, nên chúng ta có thể ghi như sau:
                   ( X ) Vương Vương Quan ( Vương (X') )'.

/  Sự Muôn Năm Cũ - Tên, Tự, Hiệu  /.

Minh Di án:

2 ông Vân Hạc và Trần Văn Tích rồi 'cứ nhất định' hiểu 2 chữ 'Vương Quan' là tên Tự của đứa con trai út Vương viên ngoại.
'Vương Quan là Chữ nối giòng Nho giá ở đây theo tôi hiểu, và hiểu thực sự tới nơi tới chốn chứ không phải hiểu cái kiểu nhá nhem để rồi suy diễn loạn cào cào như Vân Hạc và Trần Văn Tích, thì Vương là tên Họ, còn Quan là tên Tự. Vì sao?

- Thứ nhất, theo định Lệ đặt tên Tự của cổ nhân thì tuyệt đối chẳng có lệ lấy Tính (tên Họ) làm tên Tự, hoặc hợp với một chữ khác làm tên Tự. Đây cũng là 1 biểu hiện của lòng tôn kính tiên tổ khai sáng Giòng họ. Cho nên, không thể quan niệm Chữ 'Vương' ở đây là một thành phần trong tên Tự của con trai út của viên ngoại ho. Vương.
- Thứ hai, 2 ông Vân Hạc và Trần Văn Tích đã chỉ biết 1 điều rằng tên Tự nhất định phải là tên gồm 2 chữ. 2 ông đã không biết rằng Số Chữ trong tên Tự thời cổ có thể gồm 1 chữ, có thể 2 chữ và cũng có thể là 3 chữ, hoặc hơn nữa, không có gì hạn định! Tuy nhiên, cổ kim người ta chỉ đến thấy tên Tự đến 3 Chữ là nhiều nhất, chưa thấy các tên Tự 4 chữ, 5 chữ, hoặc hơn nữa - nếu như xét theo phương diện tên Tự của các nhân vật Lịch sử.
Bây giờ, nếu như tôi hỏi 2 ông có biết Khuất Nguyên là ai hay không thì hẳn rồi nhất định 2 ông sẽ bực mình mà cho rằng tôi hỏi hơi thừa. Nhưng cũng bây giờ nếu tôi hỏi tiếp và chuyến này thì chẳng thừa chút nào hết: - Vậy chữ 'Nguyên' là Danh (Tên), hay là tên Tự của thi nhân?
Và, trong số những tên Tự của các nhân vật Lịch sử thì loại tên Tự 2 Chữ thấy nhiều hơn cả. Tuy không thể có một thống kê thực chính xác nhưng có thể ước lượng là vào khoảng 90%, còn lại là các tên Tự chỉ gồm 1 Chữ và tên Tự 3 Chữ; danh nhân hiếm người có tên Tự thuộc 2 loại này, và cũng vì hiếm thấy cho nên 2 loại này thường được đề cập trong các tập Bút kí, Trát kí.... của các văn gia, học gia? Trung Hoa ngày trước, khi nói về tên Tự của nhân vật cổ kim.
Trở lại với tên Tự 1 Chữ thì có thể nói rằng tên Tự loại này đã rất thường thấy ở các Nhân vật từ những thời Tần (221 - 206 tr. Cn.), Hán (206 tr. Cn. - 220 Cn.) trở về trước - và từ đó trở về sau ngày càng hiếm thấy người lấy tên Tự 1 Chữ. 1 vài thí dụ:
+ Thi hào Khuất Bình (343 - 299 tr. Cn.) có tên Tự 1 Chữ là 'Nguyên'.
Hầu hết, chúng ta vẫn gọi tên Khuất Nguyên mà không biết 'Nguyên' là tên Tự của ông.
+ Lãnh tụ nông dân chống lại Tần triều là Trần Thắng ( ? - 208 tr. CN. ) có tên Tự là 'Thiệp'.
Sử gia Tư Mã Thiên (145 - 86 ? tr. Cn.) đã có phần 'Truyện' (Tiểu sử) của Trần Thắng trong bộ 'Sử Ki (Qu. XLVIII. Trần Thiệp Thế gia).
+ Hạng Tịch (2 32 - 202 tr. Cn.), tức Tây Sở Bá Vương, có tên Tự là 'Vú.

Như vậy rõ ràng là chữ 'Quan' ở đây chính là tên Tự của đứa con trai út viên ngoại ho. Vương.
Ngoài ra, tôi cũng còn một nhận xét thú vị - Là có thể chữ 'Quan' rồi cũng chính là Tên (Danh) của Vương Quan. Nói rõ hơn là em trai Thúy Kiều, Thúy Vân có Tên là 'Quan', đồng thời lại có tên Tự là 'Quan', tức người con trai này Họ Vương, Tên Quan, có tên Tự là 'Quan'.
Tại sao tôi lại có nhận xét này? Là vì trong nguyên tắc chọn tên Tự của cổ nhân tuy không được lấy tên Họ, hoặc ghép tên Họ với 1 Chữ khác, để làm tên Tự nhưng trường hợp lấy Tên mình làm tên Tự thì chẳng cấm! Về Lệ lấy Tên gọi làm Tự thì học gia? Vương Sĩ Trinh (1634 - 1711) đã có một bài viết đề cập trong tập Bút kí 'Trì Bắc Ngẫu Đàm' (Qu. XXI. Nhất tư. Tự), và kế đó nữa là học gia? Lục Dĩ Điềm (1801 - 1865) trong tập Bút kí 'Lãnh Lư Tạp Chi (Qu. III. Tự).
Và như vậy thì có thể nói là chỉ trong một câu ngắn 8 chữ Nguyễn Du đã đồng thời cho biết - và một cách súc tích, thâm thúy - Tên và tên Tự của con trai út Vương viên ngoại - và đây cũng là 1 trong những nét tài hoa của Nguyễn Du rất thường thấy trong 'Đoạn Trường Tân Thanh'.
Sau cùng, 2 ông Vân Hạc và Trần Văn Tích do chẳng biết về cái lễ gọi là 'Quán lế của cổ nhân cho nên những diễn giải, những suy đoán của 2 ông đã trở nên méo mó, thậm chí lạc đường - và 2 ông đã cứ lẩn quẩn ở 1 vấn đề mà rồi không ông nào hiểu rõ hết!
Về 'Quán lế, ông Vân Hạc vốn không biết rằng 20 Tuổi cử hành Quán lễ thì đây chỉ là định chế của Chu triều (1121 - 256 tr. Cn.). Trước Chu triều, tuổi cử hành Quán lễ không cố định phải là tuổi 20 mà có thể sớm hơn, có thể trễ hơn. Trong những xã hội về sau đó, khi mà Quán lễ đã suy chỉ còn thấy tại 1 số ít địa phương thì tuổi làm Quán lễ cũng đã tùy thời, tùy địa mà khác đi - và ngay cả nghi thức lễ rồi cũng có những chi tiết không giống nhau.
Chính vì không biết diễn biến của Quán lễ trải các triều đại do đó mà ông Vân Hạc đã phân vân suy đoán 'Đời Minh tục đặt tên Tự không theo đúng cổ lệ chăng?' - thậm chí xa hơn, 'Hay là cu. Nguyễn Du đã dùng lầm chữ?'.
- Và dĩ nhiên ở đây, có lầm chăng là ông Vân Hạc, hẳn không phải là 'cu. Nguyễn Dú rồi!
Và khi khẳng định chị em Thúy Kiều, Thúy Vân tuổi chỉ độ 14, 15 thì rõ ra là ông Vân Hạc cũng chẳng hiểu gì cả về 'Tuổi Cài Trâm' của con gái thời cổ.
Giải thích Câu 'Nữ tử hứa giá Kê nhi Tứ ('Con gái lúc đã hứa hôn thì cài Trâm và lấy tên Tứ) trong thiên 'Khúc Lế, sách 'Lễ Ki, học gia? Tôn Hi Đán (1736 - 1784) viết:
- 'Ngu vị nam tư? Quán nhi phụ nhân Kê, nhiên Quán chi niên hữu nhất định, nhi Kê chi niên vô định. 'Nội Tắc' viết: -'Nữ tử thập ngũ nhi Kế. Cái tự thập ngũ dĩ tiền vị khả hứa giá dã, chí thập ngũ thủy khả hứa giá - hứa giá tắc Kê hĩ. Nhiên, hứa giá bất tất giai thập ngũ, tức Kê dịch bất tất giai thập ngũ dã. Cố ư nam tử ngôn nhị thập nhi Quán, nhi nữ tử chi Kê bất trứ ngôn kì niên dá.
                                       /  Lễ Kí Tập Giải. Khúc Lễ Thượng  I. - 2  /.
- 'Tôi cho rằng tuy con trai có lễ Đội mũ, con gái có lễ Cài trâm nhưng tuổi cử hành Quán lễ thì nhất định trong khi tuổi cử hành Kê lễ thì vô định. Thiên 'Nội Tắc' nói: - 'Con gái tới 15 tuổi thì làm lễ Cài trâm'. Nói chung, con gái từ 15 tuổi trở về trước thì chưa thể hứa hôn, tới 15 tuổi mới bắt đầu có thể hứa hôn - hứa hôn rồi mới làm lễ Cài Trâm. Tuy nhiên, con gái hứa hôn thì không hẳn người nào cũng ở tuổi 15, tức tuổi làm lễ Cài trâm rồi cũng không hẳn phải là tuổi 15, do đó về phía con trai thì nói 20 tuổi cử hành Quán lễ, trong khi về phía con gái thì không nói rõ ràng dứt khoát tuổi cử hành Kê lễ phải là bao nhiêu hết'.

Giải thích của Tôn Hi Đán về tuổi làm lễ Cài Trâm rất xác đáng.
Kinh Dịch, Quẻ Truân ( Khảm / Chấn ), Hào 6/2 (Lục nhị) nói:
- 'Nữ tử trinh bất Tự, thập niên nãi Tứ.
- 'Người con gái trinh chính thì không Hứa hôn, chờ 10 năm nữa mới Hứa hôn'.
Đến tuổi có thể hứa hôn (15 tuổi) mà không hứa hôn vì đang ở giữa thời Gian Truân, lao đao và trắc trở. Chờ thêm thời gian nữa, dầu có lâu, cho qua thời gian truân, chừng đó mới tính chuyện gia thất. 
10 năm ở đây phiếm chỉ số nhiều, không nhất thiết phải là 10 năm, mà có thể hơn - nói chung là 1 thời gian lâu dài nào đó.
Đây là một chứng cứ cho giải thuyết 'Kê chi niên vô định' nói trên của Tôn Hi Đán - chừng nào hứa hôn thì chừng đó mới làm lễ Cài Trâm.
Từ đó mới có thể thấy rất rõ là khi nói chị em Thúy Kiều - 'Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập Kế là Nguyễn Du chỉ có í nói 2 chị em đang độ tuổi lấy chồng - ở đây có thể là 18, 19... hoặc hơn nữa không chừng. Vương Quan, do đó, có thể là đã 16, 17, tuổi đã có thể cử hành Quán lễ tại một số địa phương Trung Hoa thời trước.
                                                                           *
Trở lại với ông Trần Văn Tích.
Trước hết, khi nói Quán lễ là 'lễ chúc phúc cho con trai đã đến tuổi khôn lớn' thì đến phải nói là ông TVT đã rất lơ mơ, lờ mờ - nếu không muốn nói là không hiểu, không biết chi cả về Quán lễ cũng như dụng tâm của cổ nhân về Lễ này. Hơn thế nữa, ông còn 'văn hoá cho người đọc hay là tuổi 20 gọi là tuổi 'nhược quan', và tuổi dưới 20 gọi là tuổi 'vị quan'. Ở đây, xin TVT cho tôi xin 2 cái Dấu Sắc để đọc cho đúng là 'Nhược Quán' và 'Vị Quán'. Xin ông đừng có ra vẻ 'văn hoá kiểu hay 'chữ lỏng' đó mà tội lắm. Thực đúng là 'kém văn vẻ lại ưa ra vẻ văn'!
Tôi thấy ông TVT rất sính nói chuyện thiên cổ, nói chuyện cổ nhân - và như đã thấy, ông ta còn hừng chí đặt tựa đề cho cuốn sách của ông là 'Sự Muôn Năm Cú.
Nhưng.........,'những người muôn năm cũ, Hồn bây giờ ở đâu?' thì hỡi ơi, ông Trần Văn Tích của chúng ta lại hết sức mu mơ, mù mờ!

Về vấn đề ghi Tính, Danh và những tên đi kèm như tên Tự, tên Hiệu thì ông TVT, như đã dẫn, đã đưa ra mô thức: Biệt Hiệu + Họ + Tự:
- Quế Đường Lê Doãn Hậu (Lê Quí Đôn).
- Thanh Hiên Nguyễn Tố Như (Nguyễn Du).
- Mẫn Hiên Cao Chu Thần (Cao Bá Quát).

Phải nói rằng tôi chưa thấy cổ nhân nào, dầu là Việt Nam, kể cả Trung Hoa cũng vậy, mà lại ghi Tính, Danh, Tự, Hiệu của chính mình hoặc của người khác theo một mô thức 'quái đản' như ông Trần Văn Tích đưa ra trên đây.
Cổ nhân mỗi khi đề Tên mình hoặc Tên người khác, đồng thời cũng muốn kèm theo tên Tự, hoặc tên Hiệu, trường hợp này, đã ghi tên Tự thì không ghi tên Hiệu - và ngược lại, đã đề tên Hiệu thì không ghi tên Tự. Tóm lại, người xưa chỉ viết cùng 1 lúc, hoặc Danh / Tự, hoặc Danh / Hiệu, chỉ 1 trong 2 trường hợp mà thôi!! Chỉ có những hạng kém 'văn vé mới có bao nhiêu Tên thì cứ quơ cho hết, dồn lại 1 'đống' mà thôi!
Tính, Danh cũng như những tên đi kèm như Tự, Hiệu... của cổ nhân luôn luôn được ghi theo 1 số định lệ như sau:

1. Tính + Danh + Tự (hoặc Hiệu) - hay là: Tính + Danh + Hiệu (hoặc Tự).
Hoặc là: Tính + Tự (hoặc Hiệu) + Danh.
Thí dụ: Nguyễn Tố Như (hoặc Thanh Hiên)  /  Nguyễn Du Thanh Hiên (hoặc Tố Như).

2. Tự (hoặc Hiệu) + Tính + Danh.
Thí dụ: Ưu Thiên Bùi Kỉ.

3. Tính + Tự (hoặc Hiệu).
Thí dụ: Liễu Tử Hậu.

4. Ngoài ra, trong một số trường hợp cổ nhân lại ghi thêm 1 số chi tiết, như Tước vị, tịch quán chẳng hạn, trường hợp này, những chi tiết vừa kể trên luôn luôn được viết trước, theo thứ tự:
Tước vị + Tịch quán + Tính + Danh + Tự ( hoặc Hiệu ).
Sau Tước vị và Tịch quán, những đề khoản như Tính, Danh, Tự, Hiệu ....... có thể ghi theo bất cứ trường hợp nào trong các định lệ [1], hoặc [2], hay [3].
Giản dị hơn chút nữa thì, người xưa chỉ ghi, hoặc Học vị, Tước vị, hoặc Tịch quán, rồi tiếp đó là Tính, Danh, Tự, Hiệu... và ở đây, giản dị nhất thì chỉ ghi Học vị hay Tước vị, hoặc Tịch quán, kế mới tới Tính, Danh:
- Thừa Tướng Ôn Công Hà Nội Tư Mã Quang Quân Thực.
- Hán Thượng Thư Lang Ban Cố.
- Vĩnh Gia Chu Khứ Phi Trực Phụ
Những định lệ về cách ghi Tính, Danh, Tự, Hiệu của người xưa đề cập trên đây có thể tìm thấy ở cuối các bài Tự (Tựa), Bạt, ở các khoản đề Tính Danh tác giả, chú giả, trong thư tịch cổ.
Ngoài ra, các định lệ nói ở trên có thể tìm thấy trong các tác phẩm về 'Thư Mục học', chẳng hạn  như: -'Trực Trai Thư Lục Giải Đế của Trần Chấn Tôn (? - ?), và 'Quận Trai Độc Thư Chi của Triều Công Vũ (? - ?)........... dưới triều Nam Tống (1127 - 1279), cũng như trong các Mục gọi là 'Nghệ Văn Chi, 'Kinh Tịch Chi, 'Nghệ Văn Lược'.... sao lục trong một số Sử thư, Loại thư, như 'Hán Thứ của Ban Cố (32 - 92) thời Đông Hán (25 - 220), 'Tùy Thứ do một nhóm biên soạn và Ngụy Trưng (580 - 643) triều Đường (618 - 907) chủ biên, cũng như Bộ 'Thông Chi của học gia? Trịnh Tiều (1103 - 1162) thời Triệu Tống (960 - 1279).
Có thể nói, 'Trực Trai Thư Lục Giải Đế (thường được gọi giản lược là 'Thư Lục Giải Đế) của Trần Chấn Tôn là 1 trong những tác phẩm về 'Thư Mục học' tập lục đã phong phú mà nhận định lại tinh thẩm nhất trong các tác phẩm về loại này.
Trong 'Thư Lục Giải Đế, Trần Chấn Tôn đã ghi tên tác giả, cũng như tác gia? Chú giải, chủ yếu theo các định lệ [1] và [4]. Riêng về Tính Danh và Tự Hiệu tác giả thì Trần Chấn Tôn luôn luôn ghi tên Tự, hoặc tên Hiệu, tiếp liền theo Tính Danh.
Bên cạnh đó, ông còn ghi Tính Danh các tác giả theo 1 số phương thức như:
Tước vị - Tính - Danh.
Tính + Danh + Tự.
Hoặc, giản dị hơn hết, chi? Tính và Danh mà thôi.
Tuy nhiên, có điều cũng đáng chú í ở đây là ở Quyển IX, mục 'Nho gia loạí, và dưới thư danh là 'Án Tử Xuân Thú, Trần Chấn Tôn đã ghi tên tác giả như sau:
                                                       'Tề Đại phu Bình Trọng Án Anh'.
Tề là quốc danh, Đại phu là quan danh, Án Anh là Tính và Danh.
Riêng về 2 chữ Bình Trọng có thuyết nói là tên Tự, có thuyết nói là tên Thụy, và có thuyết lại cho rằng 'Bình' là tên Thụy và 'Trọng' là tên Tự.
Nhưng, Bình Trọng dầu là tên Tự, dầu là tên Thụy, thì phương thức ghi ở đây cũng rất lạ, vì rằng tên Tự tuy có thể đặt trước Tính thị ( Họ ) nhưng lại không bao giờ đứng liền sau Tước vị; còn về Thụy hiệu thì cũng không bao giờ được ghi trước Tính thị, cũng như liền sau Tước vị.
Tôi không dám kết luận tác giả 'Thư Lục Giải Đế đã lầm lẫn, chỉ thấy là trường hợp đề trên đây khá đặc biệt, chỉ nêu ra đây chờ tham khảo, chờ nghiên cứu thêm.

Trong 4 định lệ trên đây, định lệ [4] là rườm rà và phiền toái hơn hết, nếu ghi cho thực đầy đủ.
Cũng vì vậy mà trong khá nhiều trường hợp người xưa đã giản lược định lệ nói trên - bớt đi 1 số chi tiết cá nhân để ghi theo 1 mô thức ngắn gọn hơn, do đó nói chung thì cổ nhân rồi đã sử dụng 3 định lệ còn lại nhiều hơn.
                                                                           *

Riêng trong học giới thì học giả thường ghi theo 1 trong 2 mô thức giản dị sau đây:
Tịch quán - Tính Danh, hoặc Tính Danh - Tự (hoặc Hiệu, nhưng thường là Tự) - và trường hợp giản dị hơn hết thì chỉ ghi Tính Danh. Thí dụ:

1. Tịch quán + Tính Danh

+ Nam Bắc triều (420 - 589). 
Đầu bộ 'Đạo Đức Chân Kinh Chú Sơ, Đạo sĩ Cố Hoan (? - ?) triều Nam Tề (479 - 502) đã chỉ ghi giản dị:
- Ngô quận Cố Hoan chú.
+ Triệu Tống (960 - 1279).
Cuối bài 'Thi Tập Truyện Tứ, Chu Hi (1130 - 1200) đề:
- Tân An Chu Hi
+ Minh triều (1368 - 1644).
Cuối bài 'Chu Dịch Tập Chú Tứ, Lai Tri Đức (1525 - 1604) đề: 
- Lương Sơn Lai Tri Đức
Cuối bài 'Khắc Sơn Hải Kinh Tiên Sớ Tứ cho ấn bản của 'Sơn Hải Kinh Tiên Sơ- do học gia? Hách Ý Hạnh (1755 - 1823) soạn, Nguyễn Nguyên  (1764 - 1849) ghi: 
- Dương Châu Nguyễn Nguyên

2. Tính Danh + Tự (hoặc Hiệu)

+ Minh triều.
Cuối bài 'Đồ Tượng Bản Thảo Mông Thuyên Tứ, Trần Gia Mô (1486 - ~ 1570) ghi:
- Trần Gia Mô Đình Thái
Và, có lúc có người ghi cả 2, vừa Tịch quán vừa Tự, hoặc Hiệu.
+ Đường triều (618 - 907).
Đầu tác phẩm 'Thông Điển', Đỗ Hựu (735 - 812) ghi:
- Đường. Kinh Triệu Đỗ Hựu Quân Khanh.
+ Triệu Tống.
Cuối bài đề tựa cho bộ luận Sử 'Đông Lai Bác Nghí, Lữ Tổ Khiêm (1137 - 1181) ghi:
- Đông Lai Lữ Tổ Khiêm Bá Cung.
+ Minh triều. 
Cuối bài đề Tựa cho tác phẩm 'Mao Thi Cổ Âm Khảó, Trần Đệ (1540 - 1617) ghi:
- Mân, Tam Sơn Trần Đệ Quí Lập'.
Cuối bài đề tựa cho Bộ 'Hán Ngụy Tùng Thứ, Văn học gia Đồ Long (1542 - 1605) ghi :
- Đông Hải Đồ Long Vĩ Chân Phú.
Hoặc đôi lúc cũng có tác giả ghi theo mô thức:
Tịch quán + Tự (hoặc Hiệu) + Tính Danh, chẳng hạn:
+ Minh triều.
Đầu tác phẩm 'Loại Tuyển', tên tác giả được ghi như sau:
- Câu Ngô Hư Chu Trịnh Nhược Dung.
Câu Ngô, tên đất cổ. Sau khi biết cha mình là Thái vương có í sẽ nhường ngôi cho em út mình là Quí Lịch (cha Văn Vương) Thái Bá, bác ruột của Văn vương, đã đi đến đất này sinh sống, và lấy tên Hiệu là Câu Ngộ Đất cũ hiện nay là thôn Mai Lí, thuộc huyện Vô Tích, tỉnh Giang Tộ
Hư Chu là tên Tự của Trịnh Nhược Dung.
                                                                           *

Cách thức ghi Tính Danh của cổ nhân Việt Nam rồi cũng không ngoài 4 định lệ kể trên.
Cuối bài 'Đề Tựá cho tác phẩm 'Lãnh Nam Chích Quái Liệt Truyện' Vũ Quỳnh (1453 - 1516) đã ghi như sau:
+ 'Hồng Đức nhị thập tam niên, Trọng Thu tiết.
- Tứ Mậu Tuất khoa Tiến sĩ, Kinh Bắc đạo Giám Sát Ngự sử, Hồng châu, Trạch Ổ, Vũ Quỳnh Án Ôn cẩn chị
Cuối bài đề Bạt tác phẩm kể trên, Kiều Phú (? - ?) đã ghi như sau:
+ 'Hồng Đức nhị thập tứ niên, Quí Sửu, Mạnh Thụ
- Ất Mão khoa Tiến sĩ, Kiều Phú Hiếu Lễ cẩn chị

Vũ Quỳnh dẵ ghi theo thứ tự:
- Học vị (Tiến sĩ) + Tước Vị (Giám Sát Ngự Sử) + Tịch quán (Hồng châu, Trạch Ổ) + Tính (Vũ) + Danh (Quỳnh) + Hiệu (Án Ôn).
Kiều Phú thì giản dị hơn:
- Học vị (Tiến sĩ) + Tính (Kiều) + Danh (Phú) + Hiệu (Hiếu Lễ).

Có thể thấy rằng 2 thứ tự ghi trên đây là thứ tự của định lệ [4], định lệ rườm rà hơn hết, nếu như ghi đầy đủ, như trường hợp Vũ Quỳnh. Nhưng nếu ghi giản lược lại, định lệ này sẽ ngắn gọn hơn rất nhiều như trường hợp Kiều Phú đã ghi.
Về thời điểm đề Tự và Bạt của Vũ Quỳnh và Kiều Phú:
Hồng Đức. Niên hiệu của Lê Thánh Tông (1442 - 1497; tại vị: 1470 - 1497), trải dài 28 năm, từ năm 1470 tới năm 1497 (1470 - 1497). Lê Thánh tông là vua triều Hậu Lê (1428 - 1527).
Năm thứ 23 và 24 Niên hiệu Hồng Đức Vũ Quỳnh và Kiều Phú ghi là các năm 1492 và 1493.

Cuối bài Tự (Tựa) cho cuốn 'Vân Đài Loại Ngứ, Lê Quí Đôn (1726 - 1784) ghi:
- 'Công Bộ Tả Thị Lang kiêm Quốc Sử Tổng Tài, Dĩnh Thành Hầu, Bảng nhãn - Quế Đường Lê Quí Đôn'.

Lê Quí Đôn đã ghi theo thứ tự:
- Tước vị (Công Bộ Tả Thị Lang, Quốc Sử Tổng Tài, Dĩnh Thành Hầu) + Học vị (Bảng nhãn) + Hiệu (Quế Đường) + Tính (Lê) + Danh (Quí Đôn).

Cách ghi ở đây cũng ghi theo Định lệ [4], có điều là không rườm rà như kiểu của Vũ Quỳnh, mà cũng không giản dị như Kiều Phú.
                                                                           *       

Tóm lại, với người xưa việc đặt tên con cái lúc mới sinh cũng như việc chọn tên Tự, tên Hiệu lúc trưởng thành, nếu đã có 1 số nguyên tắc phải theo thì việc ghi những Tên này cũng đã phải theo 1 số nguyên tắc, 1 số định lệ nào đó. Những nguyên tắc, những định lệ này người đời sau, có thể nhận xét thấy được qua những mẫu ghi Tính Danh, Tự Hiệu của cổ nhân.
Những mẫu ghi Tính Danh, Tự Hiệu này chúng ta có thể tìm thấy rất dễ dàng trong Thư tịch cô? Trung Hoa cũng như Việt Nam. Ông Trần Văn Tích có lẽ là chưa bao giờ đọc sách cổ nhân; nếu có thì có đâu ông lại ù ờ về cách ghi Tính Danh, Tự Hiệu của cổ nhân như vậy!

Tóm lại, về cách ghi Tính Danh, Tự, Hiệu của cổ nhân tôi chưa hề thấy một cổ nhân nào, dầu là Việt Nam, hoặc Trung Hoa, mà lại ghi Tính Danh, Tự, Hiệu của chính mình hay của người khác theo 1 mô thức 'quái đản' như ông Trần Văn Tích đã đưa ra trong cuốn 'Sự Muôn Năm Cú.

                                                                           *
Trở lại với Câu đố của Nguyễn Du:
                                                        'Vương Quan là Chữ nối giòng Nho giá.
                                         
Đã là Câu đố thì tất nhiên có Giải đáp.
Đã rõ, việc đặt tên Tự thời cổ đã căn cứ 1 số nguyên tắc nhất định, cho nên giải đáp của Câu đố trên đây vẫn có thể tìm thấy trong một trong những nguyên tắc đó, nói khác đi, nếu muốn biết là Vương Quan tên (Danh) là gì, chúng ta phải duyệt qua những trường hợp tương quan Danh / Tự đã trình bày cho tới đây, 1 việc khá rắc rối và phức tạp. 
Cứ như nhận xét của tôi thì có 2 trường hợp có thể.
(1). Tương quan Danh / Tự.
Giữa Danh và Tự, nói chung, có một mối tương quan nào đó, nếu không về nội dung thì cũng về hình thức, nhưng về Nội dung nhiều hơn. Tương quan về Nội dung này có thể, hoặc là về í nghĩa (tương đồng, hoặc tương phản), hoặc là về xuất xứ (cùng trong một câu văn.........), hoặc là cùng trong 1 nhóm sự vật, sự việc liên quan tới nhaụ...
Nói 'tương quan' thì ít nhất phải có, 2 sự vật, 2 sự việc...., tóm lại là 2 yếu tố. Nhưng ở đây thì ta chỉ có mỗi tên Tự của con trai Vương viên ngoại.
Tuy nhiên, vẫn còn đầu mối để gỡ - 'Vương Quan là Chữ, nối giòng Nho giá.
Nếu có 1 cái mối để gỡ thì, theo tôi, cái mối đó chính là 2 chữ 'Nho giá.
Ban Cố thời Đông Hán viết:
- 'Nho gia giả cái xuất ư Tư đồ chi quan, trợ nhân quân thuận Âm Dương, minh giáo hóa giả dã.  Du văn ư 'Lục Kinh' chi trung, lưu í ư nhân nghĩa chi tế, tổ thuật Nghiêu, Thuấn, hiến chương Văn, Vũ, tông sư Trọng Ní.
                                         /  Hán Thự Qu. XXX. Nghệ Văn Chí 10  /.
- '[Phái] Nho gia đại khái bắt nguồn từ chức Tư đồ, là một chức quan trợ giúp quân vương trong công cuộc điều hành quốc gia sao cho thuận lí tự nhiên đồng thời đưa ra chính sách giáo hóa của  quốc gia. Nho gia giảng tập thì căn cứ tư tưởng trong 'Lục Kinh', còn mặt hành xử thì chú trọng đường lối hợp nhân nghĩa, noi theo những mẫu mực của Đế Nghiêu, Đế Thuấn, tuân hành những định chế của Văn vương, Vũ vương, suy tôn Trọng Ni là bậc thầy lí tưởng'.

Tư đồ là 1 trong 6 chức quan (Lục quan, cũng còn gọi Lục khanh) đầu triều trong Quan chế của Chu triều. Lục khanh gồm có Trủng Tể (Thiên quan), Tư Đồ (Địa quan), Tông Bá (Xuân quan), Tư Mã (Hạ quan), Tư Khấu (Thu quan), Tư Không (Đông quan).
Sách 'Chu Lế viết về chức quan Tư Đồ như sau:
- 'Lập Địa Quan Tư đồ sử súy kì thuộc nhi chưởng bang giáo dĩ tá vương an nhiễu bang quốc'.
 /  Chu Lễ. Qu. IX. Địa quan Tư Đồ  /.
- 'Lập chức Tư đồ, thuộc nhóm Địa Quan, giao cho nhiệm vụ lãnh đạo các thuộc cấp điều hành công việc giáo hóa của quốc gia để phụ tá quân vương trị an quốc giá.

Và như vậy, luận tương quan Danh / Tự thì Danh (Tên) của Vương Quan rồi có thể là một trong những chữ lấy từ 2 đoạn văn của 'Hán Thứ và 'Chu Lế trích dẫn trên đây.
Nếu Danh chọn từ 'Hán Thứ - những Chữ có liên quan mật thiết với tên Tự Quan ở đây có thể là 'Tổ Thuật', 'Hiến Chương', Tông Sứ.
Còn nếu lấy từ 'Chu Lế thì đó là những Chữ 'Bang Giáó, 'An Nhiễú.
Điều trên đây chỉ có thể với điều kiện là, chữ 'Quan' phải là chữ có nghĩa là 'Quan lạí, vì rằng Quan còn là âm đọc của 1 số chữ có nghĩa khác, như - Quan là Coi, là Xem; Quan là Cửa ải, là Khóa là Đóng... tất cả những chữ Quan vừa kể đều chẳng liên quan gì tới 2 đoạn văn trên.  
(2). Danh / Tự không tương quan.
Như đã tự thuật, thường thì giữa Danh và Tự có 1 liên hệ chặt chẽ về nhiều mặt, nhưng rồi, cũng có trường hợp đôi bên không mảy may liên quan - Đây là những trường hợp 3/. và 8/. đã đề cập trước đây, cũng như 4 trường hợp Lục Dĩ Điềm đưa ra trong tập bút kí 'Lãnh Lư Tạp Chi - mà trong thiên khảo luận này tôi đã phân loại và ghi Kí hiệu là L, như: L1, L2, L3, L4. Riêng những trường hợp của tôi nhận xét thì có kí hiệu M, như M2, M3, M6.... 
Ở đây, tên Tự của đứa con trai 'rốt lòng' nhà ho. Vương là 'Quan' - điều này thì không còn gì phải nghi ngờ! Đây là loại tên Tự 1 Chữ rất phổ biến trong các thời từ các triều từ Tần, Hán trở về trước.
Trước đây một đoạn không xa tôi đã nêu lên nhận xét là con trai Viên ngoại ho. Vương có tên Tự là 'Quan', và rồi cũng có thể Danh của Vương Quan cũng lại là 'Quan' nữa!
Nghĩa là, Tính (họ) Vương, danh (tên) Quan, và tên Tự cũng là Quan - và đây là trường hợp mà Lục Dĩ Điềm đã nói:
- 'Nhất tự chi Tự nhi tức dĩ Danh vi Tứ. 
                                                              /  Lãnh Lư Tạp Chí. Qu. III.  Tự  /.
- 'Tên Tự 1 chữ rồi lại lấy Tên làm tên Tứ.

Mỗi một Chữ, mỗi một Câu, các học giả, các tác gia ngày trước - tóm lại là cổ nhân, viết ra đều có sở cứ vững chắc, không phải là hư ngôn, nói khơi khơi.
Cũng như ở đây, nếu Nguyễn Du có nói Vương Quan tên Tự là Quan cũng là có căn cứ.
2 Câu giải đáp có thể về tên Tự của Vương Quan đưa ra trên đây tôi nghĩ câu giải đáp thứ 2 này chừng như hữu lí hơn, hữu lí vì tính cách 'thú ví của nó, một sự thú vị bên cạnh những thú vị mà chúng ta bắt gặp  không phải là ít trong tác phẩm của Nguyễn Dụ.                                                               

Minh Dị
Viết tại Bất Túc Trưng Thư Trai.
Ất Hợi nhuận (1995).
Huyền nguyệt tiểu. Nguyệt kí Vọng. Lập Đông.
Quí Vị (2003) .
Tướng nguyệt đại. Thập nhất. Lập Thụ

Thư Mục - Hán Văn:

[1]. Chu Dịch Vương Hàn Chú (Tướng Đài Nhạc thị Bản).
Tam Quốc - Ngụy. Vương Bật chú (Kinh).
Tấn. Hàn Khang Bá chú (Hệ Từ Truyện...).
Tân Hưng Thư Cục (ĐL)      1961 / Khuyết.
[2]. Thư Kinh Độc Bản.
Triệu Tống. Thái Trầm chú.
Đại Phương Xuất Bản Xã (ĐL)      1978 / Khuyết.
[3]. Thi Kinh Nguyên Thủy.
Thanh. Phương Ngọc Nhuận.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1986 / Sợ
[4]. Mao Thi Cổ Âm Khảo.
Minh. Trần Đệ.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1988 / Sợ
[5]. Lễ Kí Chính Nghĩa.
Đông Hán. Trịnh Huyền chú.
Đường. Khổng Dĩnh Đạt sớ.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1990 / Sợ
[6]. Lễ Kí Tập Giải.
Thanh. Tôn Hi Đán
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1989 / Sợ
[7]. Chu Lễ Chú Sớ.
Đông Hán. Trịnh Huyền chú.
Đường. Giả Công Ngạn sớ.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1990 / Sợ
[8]. Xuân Thu Tả Truyện Chính Nghĩa.
Tấn. Đỗ Dự tập giải.
Đường. Khổng Dĩnh Đạt sớ.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1990 / Sợ
[9]. Xuân Thu Tả Truyện Cổ.
Thanh. Hồng Lượng Cát chú.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1987 / Sợ
[10]. Xuân Thu Tả Truyện Từ Điển.
Dương Bá Tuấn & Từ Đề.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1985 / Sợ
[11]. Kinh Điển Thích Văn.
Đường. Lục Đức Minh.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1985 / Sợ
[12]. Kinh Nghĩa Thuật Văn.
Thanh. Vương Dẫn Chị
Giang Tô Cổ Tịch Xuất Bản Xã      2000 / Sợ
[13]. Kinh Truyện Thích Từ.
Thanh. Vương Dẫn Chị
Nhạc Lộc Thư Xã (TQ)      1984 / Sợ
[14]. Chiến Quốc Sách.
Tây Hán. Lưu Hướng tập lục.
Triệu Tống. Diêu Hoằng tục chú & Bảo Bưu tân chú.
Nguyên. Ngô Sư Đạo bổ chính.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1985 / Sợ
[15]. Sử Kí.
Tây Hán. Tư Mã Thiên.
Lưu Tống. Bùi Nhân tập giải.
Đường. Tư Mã Trinh sách ẩn & Trương Thủ Tiết chính nghĩa.
[16]. Hán Thự
Đông Hán. Ban Cố.
Đường. Nhan Sư Cổ chú.
[17]. Nam Sử.
Đường. Lí Diên Thọ.
[18]. Cựu Đường Thự
Ngũ Đại - Hậu Tấn. Lưu Hụ
[19]. Tân Đường Thự
Triệu Tống. Âu Dương Tụ
[20]. Tống Sử.
Nguyên. Đoạt Đoạt.
[21]. Nguyên Sử.
Minh. Tống Liêm.
[22]. Minh Sử.
Thanh. Trương Đình Ngọc.
Nhị Thập Ngũ Sử Bản. (Từ [15] đến [22])
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1991 / 8.
[23]. Tư Trị Thông Giám.
Triệu Tống. Tư Mã Quang.
Nguyên. Hồ Tam Tỉnh chú.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1987 / 7.
[24]. Thập Quốc Xuân Thụ
Thanh. Ngô Nhiệm Thần.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1983 / Sợ
[25]. Nam Hán Thự
Thanh. Lương Đình Nam.
Quảng Đông Nhân Dân Xuất Bản Xã      1981 / Sợ
Trung Hoa thư Cục (TQ)      1983 / Sợ
[26]. Thông Điển.
Đường. Đỗ Hựu.
Chiết Giang Cổ Tịch Xuất Bản Xã      2000 / Sợ
[27]. Thông Chí.
Triệu Tống. Trịnh Tiều.
Chiết Giang Cổ Tịch Xuất Bản Xã      2000 / Sợ
[28]. Văn Hiến Thông Khảo.
Nguyên. Mã Đoan Lâm.
Tân Hưng Thư Cục (ĐL)      1963 / Sợ
[29]. Trung Quốc Thông Sử.
La Hương Lâm.
Chính Trung Thư Cục (ĐL)      1977 / 19.
[30]. Quốc Sử Đại Cương (Tu đính Bản).
Tiền Mục.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC)      1991 / 2.
[31]. Trung Quốc Độ Lượng Hành Sử.
Dân Quốc. Ngô Thừa Lạc.
Thượng Hải Thư Điếm      1984 / Sợ
[32]. Trung Hoa Phong Tục Chí.
Dân Quốc. Hồ Phác An.
Thượng Hải Văn Nghệ Xuất Bản Xã      1988 / Khuyết.
[33]. Trung Quốc Phong Tục Từ Điển.
Chủ biên. Diệp Đại Binh & Ô Bính An.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã      1991 / 3.
[34]. Sự Vật Kỉ Nguyên.
Bắc Tống. Cao Thừa.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1989 / Sợ
[35]. Giản Minh Trung Quốc Lịch Đại Quan Chế Từ Điển.
Chủ biên. An Tác Chương.
Tề Lỗ Thư Xã      1990 / Sợ
[36]. Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển (Sử học Sử quyển).
Chủ biên. Ngô Trạch. Dương Dực Tương.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã      1983 / Sợ
[37]. Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển (Tùy. Đường. Ngũ Đại sử).
Chủ biên. Dương Chí Cửu & Ngô Phong.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã      1995 / Sợ
[38]. Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển (Minh sử).
Chủ biên. Vương Dục Thuyên & Tào Quí Lâm.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã      1995 / Sợ
[39]. Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển (Thanh sử. Thượng & Hạ quyển).
Chủ biên. Đái Dật & La Minh (Thượng quyển).
                Vinh Mạnh Nguyên (Hạ quyển)..
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã      1992 / Sợ
[40]. Trung Quốc Lịch Đại Danh Nhân Từ Điển.
Nam Kinh Đại Học Lịch Sử Hệ Biên Tả Tổ.
Giang Tây Nhân Dân Xuất Bản Xã      1982 / Sợ
[41]. Tiên Tần Chư Tử Hệ Niên (Tăng định Bản).
Tiền Mục.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1985 / Sợ
[42]. Tứ Thư Tập Chú.
Triệu Tống. Chu Hi tập chú.
Thái Bình Thư Cục (HC)      1986 / 7.
[43]. Khổng Tử Gia Ngữ Sớ Chứng.
Thanh. Trần Sĩ Kha tập.
Thương Hải Thư Điếm      1987 / Sợ
[44]. Liệt Tử Tập Thích.
Chiến Quốc. Liệt Ngự Khấu.
Dương Bá Tuấn tập thích.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1985 / 2.
[45]. Thi Tử.
Chiến Quốc. Thi Giảo.
Thanh. Uông Kế Bồi tập.
Nhị Thập Nhị Tử Bản.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1996 / 8.
[46]. Tuân Tử Tập Giải.
Chiến Quốc. Tuân Huống.
Thanh. Vương Tiên Khiêm tập giải.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1996 / 3.
[47]. Lữ Thị Xuân Thu Hiệu Thích.
Trần Kì Do hiệu thích.
Học Lâm Xuất Bản Xã (TQ)      1990 / 2.
[48]. Hàn Thi Ngoại Truyện.
Tây Hán. Hàn Anh.
[49]. Thuyết Uyển.
Tây Hán. Lưu Hướng.
[50]. Bạch Hổ Thông Đức Luận.
Đông Hán. Ban Cố.
Hán Ngụy Tùng Thư [Minh. Trình Vinh hiệu Bản]. ([48], [49], [50])
Cát Lâm Đại Học Xuất Bản Xã      1992 / Sợ
[51]. Bảo Phác Tử Nội Thiên Hiệu Thích.
Tấn. Cát Hồng.
Vương Minh hiệu thích.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1985 / 2.
[52]. Í Lâm.
Đường. Mã Tổng.
[53]. Long Xuyên Biệt Chí.
Bắc Tống. Tô Triệt.
[54]. Thanh Ba Tạp Chí.
Nam Tống. Chu Huy.
[55]. Tảo Lâm Tạp Trở.
Minh. Đàm Thiên (Nhụ Mộc)
[56]. Hào Am Nhàn Thoại.
Thanh. Trương Nhĩ Kì.
[57]. Kiên Hồ Tập (Thập Tập).
Thanh. Trữ Nhân Hoạch.
[58]. Nam Tỉnh Công Dư Lục.
Thanh. Lương Chương Cự.
[59]. Lãnh Lư Tạp Chí.
Thanh. Lục Dĩ Điềm.
Bút Kí Tiểu Thuyết Đại Quan Bản. (Từ [52] đến [59])
Giang Tô Quảng Lăng Cổ Tịch Khắc Ấn Xã      1983 / Sợ
[60]. Tục Mặc Khách Huy Tệ
Bắc Tống. Bành Thừa.
Lịch Đại Tiểu Thuyết Bút Kí Tuyển Bản. (Tống. đệ nhất sách).
Dân Quốc. Giang Dư Kinh tuyển.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC)      1976 / Khuyết.
[61]. Xuân Minh Thoái Triều Lục.
Bắc Tống. Tống Mẫn Cầu.
(&Đông Trai Kí Sự của Phạm Trấn (1007 - 1088), thời Bắc Tống).
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1980 / Sợ
[62]. Thiết Vi Sơn Tùng Đàm.
Triệu Tống. Thái Thao.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1983 / Sợ
[63]. Độc Tỉnh Tạp Chí.
Nam Tống. Tăng. Mẫn Hành.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1986 / Sợ
[64]. Kê Lặc Biên.
Nam Tống. Trang Xước.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1997/2.
[65]. Lãnh Ngoại Đại Đáp Hiệu Chú.
Nam Tống. Chu Khứ Phị
Dương Vũ Tuyền hiệu chú.
Trung Hoa Thư Cục [Trung Ngoại Giao Thông Sử Tịch Tùng San] (TQ)      1999 / Sợ     
[66]. Hạc Lâm Ngọc Lộ.
Nam Tống. La Đại Kinh.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1983 / Sợ
[67]. Tề Đông Dã Ngữ.
Nam Tống. Chu Mật.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1983 / Sợ
[68]. Tiền Văn Kí.
Minh. Chúc Doãn Minh.
Quốc Triều Điển Cố Bản.
Bắc Kinh Đại Học Xuất Bản Xã      1993 / Sợ
('Quốc Triều Điển Cô là 1 bô. Tùng Thư gồm 64 Tác phẩm thuộc nhiều thể loại, như:
Thực lục, Bút ký, Truyện ký (tức Tiểu Sử nhân vật), Văn tập......., nội dung bao quát các lãnh vực Văn hóa, Chính trị, Luật pháp, Quân sự, Ngoại giao, Kinh tế, Xã hội...... từ sơ kỳ Minh triều đến Niên hiệu Long Khánh (1567 - 1572), của 61 tác giả, trong đó có 11 tác phẩm khuyết danh - do Đặng Sĩ Long (? - ?) đời Minh tập lục.
[69]. Tiêu Viên Tạp Kí.
Minh. Lục Dung.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1985 / Sợ
[70]. Đông Tây Dương Khảo.
Minh. Trịnh Tiệp.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1981 / Sợ
[71]. Trì Bắc Ngẫu Đàm.
Thanh. Vương Sĩ Trinh.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1997 / 3.
[72]. Liễu Nam Tùy Bút.
(Phụ:'Tục Bút').
Thanh. Vương Ứng Khuê.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1997 / 2.
[73]. Tốn Chí Đường Tạp Sao.
Thanh. Ngô Dực Phụng.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1994 / Sợ
[74]. Cổ Thi Thập Cửu Thủ Tập Thích.
Hán. Khuyết danh.
Tùy Thụ Sâm tập thích.
Trung Hoa Thư Cục (HC)      1985 / Trùng ấn.
[75]. Văn Tuyển.
Nam Bắc triều - Lương. Chiêu Minh Thái tư? Tiêu Thống tuyển.
Đường. Lí Thiện chú.
Thương Vụ Ấn Thu Quán (HC)      1978 / Trùng ấn.
[76]. Toàn Đường Thị
(Phụ: 'Toàn Đường Thi Dật'.
Nhật Bản. Thượng Mao Hà Thế Ninh toản tập)
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1986 / Sợ
[77]. Tĩnh Tiết Tiên Sinh Tập.
Đông Tấn. Đào Tiềm.
Thanh. Đào Thấu tập chú.
Trung Hoa Thư Cục (HC)      1977 / Trùng ấn.
[78]. Lưu Tử Tập Hiệu.
Nam Bắc triều - Lương. Lưu Hiệp.
Lâm Kì Tiêm & Trần Phụng Kim tập hiệu.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1985 / Sợ
[79]. Hàn Xương Lê Văn Tập Hiệu Chú.
Đường. Hàn Dũ.
Thanh. Mã Thông Bá hiệu chú.
Trung Hoa Thư Cục (HC)      1975 / Trùng ấn.
[80]. Liễu Tông Nguyên Tập.
Đường. Liễu Tông Nguyên.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1979 / Sợ
[81]. Đường Tài Tử Truyện.
Nguyên. Tân Văn Phòng.
[82]. Đường Âm Quí Thiêm.
Minh. Hồ Chấn Hanh.
Thế Giới Thư Cục (ĐL)      1977 / 4.
[83]. Văn Thể Minh Biện Tự Thuyết.
Minh. Từ Sư Tăng.
(&'Văn Chương Biện Thể Tự Thuyết' của Ngô Nạp (1369 - 1445) đời Minh).
Nhân Dân Văn Học Xuất Bản Xã      1998 / Sợ
[84]. Trung Quốc Văn Học Phê Bình Thông Sử (Phân quyển 5. Minh đại).
Vương Chấn Vũ & Lưu Minh Kim.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã     1996 / Sợ
[85]. Toàn Nguyên Văn (Sách 11).
Biên tập. Long Đức Thọ. Lí Minh. Ngụy Sùng Vũ.
Giang Tô Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1999 / Sợ
[86]. Cổ Văn Bình Chú.
Thanh. Qua Kì Thương Hầu tuyển.
Nghệ Mĩ Đồ Thư Công Ti (HC)      Khuyết.
[87]. Cổ Văn Quan Chỉ.
Thanh. Ngô Sở Tài tuyển chú.
Dân Quốc. Tống Tinh Như chú dịch.
Thượng Hải Thư Điếm      1982 / Khuyết.
[88]. Trực Trai Thư Lục Giải Đề.
Nam Tống. Trần Chấn Tôn.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1987 / Sợ
[89]. Thanh Đại Mục Lục Đề Yếu.
Chủ biên. Lai Tân Hạ.
Tề Lỗ Thư Xã      1997 / Sợ
[90]. Tứ Khố Toàn Thư Đại Từ Điển.
Dân Quốc. Dương Gia Lạc.
Bắc Kinh Thị Trung Quốc Thư Điếm      1987 / Sợ
[91]. Thư Sử Hội Yếu.
Minh. Đào Tông Nghị
Thượng Hải Thư Điếm      1984 / Sợ
[92]. Trung Quốc Cổ Đại Thư Pháp Sử.
Chu Nhân Phụ
Bắc Kinh Đại Học Xuất Bản Xã      1997 / 2.
[93]. Trung Quốc Hội Họa Sử.
Vương Bá Mẫn.
Thượng Hải Nhân Dân Mĩ Thuật Xuất Bản Xã      1983 / 2.
[94]. Lịch Đại Họa Gia Bình Truyện.
Trung Hoa Thư Cục (HC) biên tập      1986 / Trùng ấn.
[95]. Trung Quốc Mĩ Thuật Gia Nhân Danh Từ Điển.
Du Kiếm Hoa.
Thượng Hải Nhân Dân Mĩ Thuật Xuất bản Xã      1996 / 7.
[96]. Bản Thảo Cương Mục.
Minh. Lí Thời Trân.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC)      1982 / Trùng ấn.
[97]. Trung I Nhân Vật Từ Điển.
[Trung Quốc Trung I Nghiên Cứu Viện]. Trung Quốc I Sử Văn Hiến Nghiên Cứu Sở.
Chủ biên. Lí Kinh Vĩ.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã      1988 / Sợ
[98]. Trung quốc Thần Bí Văn Hóa.
Chủ biên. Hà Thừa Vĩ.
Thượng Hải Văn Hóa Xuất Bản Xã (TQ)      1997 / 3.
[99]. Phật Học Đại Từ Điển.
Dân Quốc. Đinh Phúc Bảo.
Phúc Kiến Bồ Điền Quảng Hóa Tự      Phật Lịch 2534 (1990). [Sơ bản: 1921].
[100]. Trung Quốc Khoa Kỹ Sử Khái Luận.
Hà Bính Úc & Hà Quán Bưu hợp trứ.
Trung Hoa Thư Cục Hương Cảng Phân Cục      1983 / Sợ
[101]. Nhĩ Nhã Nghĩa Sớ.
Thanh. Hách Ý Hạnh.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1983 / Sợ
[102]. Thuyết Văn Giải Tự.
Đông Hán. Hứa Thận.
Triệu Tống. Từ Hiền hiệu định.
Trung Hoa Thư Cục (HC)      1985 / Trùng ấn.
[103]. Thuyết Văn Giải Tự Nghĩa Chứng.
Đông Hán. Hứa Thận.
Thanh. Quế Phức chú.
Tề Lỗ Thư Xã (TQ)      1987 / Sợ
[104]. Quảng Nhã Sớ Chứng.
Tam Quốc - Ngụy. Trương Tập.
Thanh. Vương Niệm Tôn.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1983 / Sợ
[105]. Cổ Đại Hán Ngữ Hư Từ Loại Giải.
Trần Hà Thôn.
Sơn Tây Giáo Dục Xuất Bản Xã      1992 / Sợ
[106]. Khang Hi Tự Điển (Tân tu Bản).
Thanh. Thánh tổ (Khang Hi) sắc soạn.
Lăng Thiệu Văn đẳng toản tụ
Cao Thụ Phiên Trùng tụ
Linh Kí Xuất Bản Hữu Hạn Công Ti (HC)      1981 / Sợ
[107]. Từ Nguyên (Tu đính Súc ấn Hợp đính Bản).
Quảng Đông. Quảng Tây. Hồ Nam. Hà Nam Tu đính tổ.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC)      1987 / Sợ
[108]. Từ Hải (Hợp đính Bản. 1947 Bản). 
Chủ biên. Thư Tân Thành. Thẩm Dị Từ Nguyên Cáo. Trương Tướng.
Trung Hoa Thư Cục (HC)      1983 / Trùng ấn.
[109]. Từ Vị.
Văn Hóa Đồ Thư Công Ti Biên Thẩm Ủy Viên Hội.
Chủ biên. Lục Sư Thành.
Văn Hóa Đồ Thư Công Ti (ĐL)      1985 / Khuyết.

Việt Nam - (Hán văn):

[1]. Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (Tập IV. Hán văn. Nội Các Quan Bản. 1697).
Trần. Lê Văn Hưu.
Hậu Lệ Ngô Sĩ Liên.
Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội      1998 / Sợ
[2]. Lãnh Nam Chích Quái.
Trần triều. Khuyết danh.
Hậu Lê (1428 - 1527). Vũ Quỳnh tự.
Trung Quốc. Đái Khả Lai & Dương Bảo Vân hiệu chú.
Trung Châu Cổ Tịch Xuất Bản Xã (TQ)      1991 / Sợ
Tập Truyền kì này in chung với 2 Tác phẩm nữa, cũng của Việt Nam:
+ 'Gia Định Thành Thông Chi của Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825). Nguyễn triều (1802 - 1884).

+ 'Hà Tiên Trấn Diệp Trấn Mạc Thị Gia Phố của Vũ Thế Doanh (? - ?). Nguyễn triều.

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đào Như

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Liên hiệp quốc

a

Lý Đại Nguyên

a

Mai Thanh Truyết

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thiếu Nhẫn

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Nguyễn Văn Hoàng

a

Lm. Tadeo Nguyễn Văn Lý

a

Phạm Đình Hưng

a

Ht. Thích Quảng Độ

a

Ht. Thích Thiện Minh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Tuesday, 18 January, 2011 12:37