Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo Lịch sử

Minh Di

Tên tự - Tên hiệu

Phụ lục I
  

**Nhân Danh Quyết Nghị

A. Dẫn Nhập

Văn tư. Trung Hoa, về phương diện âm đọc, âm Hán và âm Hán Việt, phân 2 trường hợp:

1. 1 Chữ mà đọc 2, 3 Âm khác nhau, hoặc hơn nữa

Đây là những Chữ gọi là 'Đồng Tự di. Âm'.

2. 2, 3 Chữ, hoặc hơn nữa mà chỉ đọc có 1 Âm

Đây là những Chữ gọi là 'Đồng Âm di. Tứ.
Về một phương diện khác, về Tự dạng, văn tư. Trung Quốc có những Chữ coi từa tựa nhau, na ná như nhau, không chú ý rất dễ lầm Chữ này với Chữ kia.
Lữ Bất Vi (290 - 235 tr. Cn.) thời Chiến Quốc viết:
- 'Tử Hạ chi Tấn quá Vệ, hữu độc Sử kí giả viết: - 'Tấn sư tam thỉ thiệp há.
Tử Hạ viết: - 'Phi dã, thị Kỉ Hợi dã! Phù Kỉ dữ Tam tương cận, Thỉ dữ Hợi tương tứ.
Chí ư Tấn nhi vấn chi, tắc viết: - 'Tấn sư Kỉ Hợi thiệp há dã!'. 
                      /  Lữ Thị Xuân Thụ Qu. XXI. Thận Hành Luận. Sát Truyền  /.
- 'Tử Hạ qua nước Tấn, đi ngang qua nước Vệ thì (tình cờ) nghe có người đọc sách Sử, trong đó có 1 câu như sau: - 'Quân Tấn 3 Con Heo lội qua sông'.
Tử Hạ nói: - 'Không phải đâu, là Kỉ Hợi không phải 3 Con Heo đâu! Chữ Kỉ và chữ Tam na ná, chữ Thỉ và chữ Hợi từa tựá.
Chừng tới nước Tấn hỏi lại thì quả nhiên câu đó là: - 'Ngày Kỉ Hợi quân Tấn vượt qua sông'.

Câu 'Tam Thỉ Thiệp Há sau đó đã thành một thành ngữ được dùng để chi? Sự lầm lẫn, nhận lầm chữ này ra chữ kia, vì Tự dạng của 2 chữ có nét từa tựa như nhau. Và, để chỉ sự lầm lẫn loại này người Trung Hoa còn có 1 số thành ngữ, ngạn ngữ khác nữa, như: - 'Lỗ Ngư, Hợi Thí, nghĩa là 'Chữ Lỗ nhìn ra chữ Ngư, chữ Hợi nhìn ra chữ Thí. Ngoài ra, cổ ngạn Trung Quốc cũng có câu 'Thư kinh tam tả, Ô, Yên thành Má, nghĩa là 'Sách sao đi chép lại nhiều lần chữ Ô, chữ Yên rồi thành chữ Má.
Và thư tịch cổ cũng không hiếm Sách đề cập những lầm lẫn loại này.
Cát Hồng (284 - 363), Tư tưởng gia thời Đông Tấn (317 - 420), viết:
- 'Thư tự, nhân tri chi, do thượng tả chi đa ngộ. Cố ngạn viết: - 'Thư tam tả, Ngư thành Lỗ, Hư thành Hố.
              /  Bảo Phác Tử. Nội thiên. Qu. XIX. Hà Lãm  /.
- 'Viết chữ thì người ta biết viết, vậy mà còn (viết) lầm lẫn rất nhiều. Cho nên ngạn ngữ  có câu: - 'Sách chép đi chép lại nhiều lần thì chữ Ngư thành chữ Lỗ, chữ Hư thành chữ Hố.
Minh Di án:
Câu 'Hư thành Hố, 1 số thư tịch cổ chép là 'Đế thành Hố, chẳng hạn như:
- 'Bắc Đường Thư Saó (Qu. CI.) của Ngu Thế Nam (558 - 638) đời Đường.
- 'Í Lâm' (Qu. IV. Bảo Phác Tử) của Mã Tổng (? - 823), cũng đời Đường.
- 'Thái Bình Ngự Lãm' (Qu. DCXVIII.). Thường được gọi dưới tên giản lược là 'Ngự Lãm', do 1 nhóm biên soạn, Lí Phương (925 - 996) thời Bắc Tống (960 - 1127) chủ biên.

Thời cổ, Hán tự cũng là chữ viết chính thức của Việt Nam, Thư tịch cô? Trung Hoa do đó cổ nhân ta cũng không lạ gì! Những thành ngữ, ngạn ngữ Trung Hoa chi? Sự lầm lẫn về Tự dạng trên đây dĩ nhiên cổ nhân cũng biết, và còn nói:
- 'Chữ Tác ra chữ Tộ, chữ Ngộ độ chữ Quạ
                                                                           &
B. Quyết Nghị

Trong Lịch sử Việt Nam cũng như Trung Hoa, có những Nhân danh, Địa danh người thời sau đã viết sai, đọc sai. Có những lầm lẫn này là vì đây là những 'Đồng Tự dị âm' mà thư tịch cổ rồi đã không nói rõ ràng là phải đọc Âm nào, hoặc đây là những Chữ gọi là 'Tam Thỉ thiệp há như đã nói ở trên, do đó mà đọc sai, viết sai.
Vấn đề: - Do đâu mà biết Tên của một người rồi phải đọc Âm này chứ không đọc Âm kia? cũng như phải viết Chữ này chứ không phải Chữ kia?
Luận về Danh / Tự, Hiệu trước đây, tôi đã phân tích Danh / Tự, Hiệu của 1 người, nhất là những Nhân vật hữu danh, thường có 1 xuất xứ, và giữa Danh / Tự, Danh / Hiệu - nhất là Danh và Tự, thường có 1 tương quan nhất định nào đó, hoặc là về nội dung, hoặc là về hình thức. Bởi vậy mà trong trường hợp nghi vấn về Danh, Tự của một nhân vật nào đó thì rồi có thể xét vấn đề căn cứ 2 phạm vi vừa kể.
Trong nhiều trường hợp, Danh / Tự của người xưa là những chữ lấy từ Kinh điển, đồng thời giữa Danh và Tự của cổ nhân gần như luôn luôn có 1 trong những mối tương quan đã được phân tích trước đây. Cho nên là, nếu có nghi vấn về Âm đọc hoặc Chữ viết của 1 Danh hay Tự nào đó, nếu xác định được Danh đó, Tự đó là Chữ lấy từ Kinh Điển - hoặc là, nếu xác định được tương quan giữa Danh và Tự, thì có thể nói đây là 1 kết luận dứt khoát.
Đây cũng chính là phương pháp học gia? Vương Dẫn Chi (1766 - 1834) đời Thanh đã sử dụng để giải thích và đính chánh Danh / Tự của một số Nhân vật thời Xuân Thu (770 - 403 tr. Cn.) trong cuốn 'Kinh Nghĩa Thuật Văn' (Qu. XXII và XXIII ), phần 'Xuân Thu Danh Tự Giải Cố.
Trong tác phẩm kể trên Vương Dẫn Chi đã phân tích về tương quan giữa Danh và Tự của tất cả 240 nhân vật thời Xuân Thụ (Quyển XXII 159 người. Quyển XXIII 181 người).
Lấy 1 vài thí dụ:

1/. 'Trịnh công tư? Khứ Tật tư. Tử Lương.
Tật, ác dã; Lương, thiện dã. Khứ tật cố lương dá.  (Qu. XXII).
1/. 'Công tư? Khứ Tật nước Trịnh tên Tự là Tử Lương.
Tật nghĩa là xấu, Lương nghĩa là tốt. Trừ khử cái xấu, do đó tốt'.

2/. 'Sở Khuất Đáo tư. Tử Tịch.
Đáo, chí dã. Tự Tử Tịch, cái thủ 'Triêu phát Tịch chi chi nghĩa.
Sở Từ Li Tao: - Triêu phát nhẫn ư Thương Ngô hề, tịch dư chí hồ Huyện Phô.'.  (Qu. XXII).
2/. 'Khuất Đáo nước Sở tên Tự là Tử Tịch.
 Đáo nghĩa là đến. Tên Tự là lấy từ nghĩa 'Sáng đi Chiều tớí.
Thiên Li Tao trong Sở Từ: - Sáng xe đi từ Thương Ngô kìa, chiều ta tới nơi Huyện Phô.'.

3/. 'Trịnh công tư? Bình tư. Tử Phong.
Bình, nghi đương tác Niên.... Lệ thư Niên tự hoặc tác.... dữ Bình tương tự nhi ngộ.
Danh Niên Tự Phong, thủ phong niên chi nghĩa dá.  (Qu. XXIII).
3/. 'Công tư? Bình nước Trịnh tên Tự là Tử Phong.
Chữ Bình, nghi phải viết là Niên.... Chữ Niên trong thể Lệ thư hoặc viết là .... tương tự chữ Bình do đó mà lầm. Tên là Niên, tên Tự là Phong, là lấy nghĩa từ 2 chữ phong niên (năm được mùa)'.
                                                                           *
Với phương pháp chính xác, chắc chắn, trên đây tôi sẽ duyệt xét để rồi đính chánh lại Danh của một vài Nhân vật trong Cổ sử Trung Hoa và Việt Nam mà hầu hết các Sách Việt Nam - và kể cả Trung Hoa, vẫn viết sai.
                                                                           &

1. Trung Hoa

Trước hết là 1 vài trường hợp về 1 vài nhân vật hữu danh Trung Hoa.
+ Trương Hạnh Thành (587 - 653). Tên Tự là Đức Lập.
Đại thần dưới triều Đường Cao tông (628 - 683; tại vị: 649 - 683).
Chữ 'Hạnh' trong Tên 'Hạnh Thành' kể trên ngoài âm 'Hành', còn các âm 'Hàng', 'Hãng'.
Nhưng ở đây thì phải đọc âm 'Hạnh', vì Danh 'Hạnh Thành' là Chữ lấy từ Dịch Kinh:
- 'Quân tử dĩ thành đức vi hạnh, nhật khả kiến chi hạnh dã. Tiềm chi vi ngôn dã, ẩn nhi vị kiến, hạnh nhi vị thành, thị dĩ quân tử phất dụng dá.
                                                                          /  Dịch. Càn Văn Ngôn  /.
- 'Quân tử coi sự thành tựu đạo đức là mục tiêu của việc tu dưỡng, 1 sự tu dưỡng được thể hiện trong đời sống hằng ngày. Tiềm có nghĩa là còn ẩn, chưa lộ ở mặt ngoài, cũng như có đức hạnh nhưng chưa tới độ thành tựu, do đó mà quân tử không hành động'.
Có 'Hạnh' mà 'chưa thành' ('vị thành') thì còn phải cố gắng đến 'Hạnh thành' mới thôi.
Ở đây có thể thấy rất rõ là Danh 'Hạnh Thành' đã từ đoạn văn trên mà ra.
Lại nữa, nếu xét tên Tự thì càng rõ ra chữ Hành ở đây phải đọc âm Hạnh (Hanh + dấu nặng).
Hạnh Thành tức dạo đức đã thành tựu, Đức Lập cũng có nghĩa là đạo đức đã (lập) thành.
**Và như vậy, Hạnh Thành (Danh) và Đức Lập (Tự) đồng nghĩa - đây là trường hợp M1 trong nguyên tắc đặt tên Tự, tức Danh / Tự ý nghĩa phải tương hợp.
(Bộ Tân Đường Thự Qu. CIV. Liệt Truyện 29, có phần Truyện của Trương Hạnh Thành). 

Sau đó hơn 400 năm có 1 học giả cũng có tên là Trương Hạnh Thành.
Trương Hạnh Thành (? - ?) sau này là 1 Dịch học gia khoảng đầu thời Nam Tống (1127 - 1279) tinh thâm về tư tưởng Dịch học của Thiệu Ung (1011 - 1077). Tác phẩm Dịch học chủ yếu có:
- 'Dịch Thông Biến'.
- 'Hoàng Cực Kinh Thế Sách Ẩn'.
- 'Hoàng Cực Kinh Thế Quan Vật Ngoại Thiên Diễn Nghĩá.

+  Nhất Hạnh (683 - 727).
Chữ Hạnh ở đây cũng chính là chữ Hạnh trong tên Hạnh Thành ở trên. Có sách Việt Nam chép là Nhất Hàng. Phải đọc là Hạnh vì đây là chữ lấy từ Phật điển, từ câu 'Nhất hạnh Tam muộí.
Sách 'Tam Tạng Pháp Sô (Qu. IV) viết:
- 'Nhất hạnh Tam muội giả, duy chuyên nhất hạnh, tu tập chính định dá.
- 'Nhất hạnh Tam muội là chuyên một đức để tu tập chính định'.
Tam muội đây tức: - 1/. Định. 2/. Chính thụ. 3/. Điều trực định.
1/. Định là:
- 'Tâm định nhất xứ nhi bất động'. (Tâm định 1 chỗ, không dao động).
2/. Chính thụ là:
- 'Chính thụ sở quan chi pháp'. (Những gì thấy đều nhìn 1 cách không thiên lệch).
3/. Điều trực định là:
- 'Điều tâm chi bạo, trực tâm chi khúc, định tâm chi tán'. (Điều hòa cái Tâm hung hăng, sửa lại cho ngay cái Tâm thiên lệch, trấn định cái Tâm tán loạn).
Nhất Hạnh là 1 cao tăng đời Đường (618 - 907), Tổ của Mật tông Trung Quốc đồng thời còn là Thiên văn, Lịch Số gia trứ danh. Soạn 'Đại Diễn Lịch' (Sơ cảo năm 727), thay thế Lân Đức Lịch của Lí Thuần Phong (602 - 670), để dự đoán Nhật thực cho chính xác hơn. Ngoài ra Nhất Hạnh còn là người đầu tiên trên Thế giới nhận xét sự biến động của các Định tinh.

+ Trần Tàng Khí (? - ?).
Y Dược học gia trứ danh đời Đường, tác giả bộ 'Bản Thảo Thập Dí.
Chữ 'Tàng' còn đọc 2 âm nữa là 'Tang' và 'Tạng', tất cả 3 Âm.
Nhưng ở đây thì phải đọc âm 'Tàng'. Tại sao mà biết? - Vì Danh 'Tàng Khi vốn là Chữ lấy từ Dịch Kinh:
- 'Quân tử tàng khí ư thân đãi thời nhi động'.
                                                                       /  Dịch. Hệ Từ Hạ V  /.
- 'Quân tử cất giữ đồ dùng trong người chờ thời mà hành động'.
'Đồ dùng' ở đây ám chỉ tài năng.

+ Lí Dương Băng. (722 - 789).
Thư pháp gia, Văn tự học gia Đường triều, là chú bà con của Lí Bạch.
Lí Dương Băng tên Tự là Thiểu Ôn.
Chữ 'Thiểú ở đây có nghĩa là 'ít'. Chữ này còn đọc âm 'Thiếú, có nghĩa là 'nhó, là 'tré.
Nhưng ở đây phải đọc láThiểú, vì tên của ông là 'Băng' (tuyết đóng cứng gọi là Băng), hàm ý nghĩa 'lạnh buốt'. Do đó lấy tên Tự là Thiểu Ôn, có nghĩa là 'ít ấm'.
Về Thư pháp, cổ kim Lí Dương Băng vẫn được tôn là đệ nhất về Triện thư! Học theo Triện pháp của Lí Tư (? - 208 tr. Cn) đời Tần, nhưng Lí Dương Băng tự tạo cho mình 1 phong cách riêng. 

+ Tần Quan. (1049 - 1100).
Từ phú gia thời Bắc Tống, em rể của Tô Thức (1036 - 1101).
Có sách Việt Nam ghi là Tần Quán (Quan + dấu Sắc), tên Tự là Thiếu Du (Thiêu + dấu Sắc).
Bên cạnh đó, có sách ghi Tên là Tần Quan, và tên Tự (cũng) là Thiếu Dụ
Nhưng, chính xác nhất phải là:
Tên: -  Tần Quan.
Tên Tự: - Thiểu Dụ Chữ Thiểu (Thiêu + dấu Hỏi).
Quan có nghĩa:
1/. Nhìn, và là nhìn kỹ (tế khán).
2/. Dạo chơi đây đó ngắm cảnh (du lãm).
Thiểu nghĩa là Ít. Chữ này cũng đọc âm Thiếu có nghĩa là Trẻ, là Nhỏ.
Du có nghĩa là 'đi chơi đây đó ngắm cảnh', đồng nghĩa với chữ Quan nói trên.
Tên có nghĩa là 'Nhìn ký, là 'Dạo chơi đây đọ
Đã 'đi chơi đây đo lại 'quan sát kỹ cảnh vật', như vậy có thể nói đây là một người biết nhiều và hiểu rộng, một con người lịch duyệt.
Thế nhưng, lấy tên Tự là Thiểu Du có nghĩa là 'ít đi chơi đây đo thì điều này hàm ý khiêm cung nói rằng mình chẳng biết nhiều, chẳng hiểu rộng... chẳng lịch duyệt bao nhiêu! Cứ nghĩ là mình còn ít, còn thiếu thì sẽ cố gắng vươn lên, còn như nghĩ là đã quá nhiều, quá đủ rồi thì cuối cùng đến rơi vào sự tự mãn có hại cho việc học hỏi, cho đường tu thân.
Trường hợp tên Tự của Tần Quan chính là trường hợp M4, theo đó điều gì quá thì giảm thiểu để tạo sự hài hòa, để ngụ ý khuyên răn về đường học hỏi và tu dưỡng đạo đức.
Kết lại, trường hợp Tần Quan, có sách viết cả Tên lẫn tên Tự đều sai, tức ghi Tên là Tần Quán và tên Tự là Thiếu Du! Bên cạnh đó, có sách, nếu nói Tên đúng thì lại đọc sai tên Tự, đây là do không rõ nguyên tắc lấy tên Tự của Cổ nhân.
Nếu tên Tự là Thiếu Du thì ở đây giữa Danh và Tự rồi không có 1 tương quan nào hết, một điều trái với nguyên tắc đặt tên Tự của Cổ nhân.
 
+ Quách Đạt (1022 - 1088) là vi. Tướng tổng chỉ huy quân đội Tống triều (960 - 1279) tiến đánh Việt Nam vào cuối năm Bính Thìn (1076) - vài tháng sau khi quân Lí triều hãm thành Ung châu (Châu trị cũ hiện nay ở huyện Nam Ninh, tỉnh quảng Tây) hồi tháng Giêng cùng năm.
Bấy giờ ở Trung Hoa là triều Tống Thần tông (1048 - 1085; tại vị: 1067 - 1085), và Việt Nam là thời Nhân tông (1065 - 1127; tại vị: 1072 - 1127) triều Lí (1009 - 1225).
Quách Đạt, 'Tống Sứ (Qu. CCXC.) ghi là Quách Quì, và rồi hầu hết thư sử cô? Trung Hoa cũng đều chép là Quách Quì.
Bộ 'Tống Sứ soạn xong vào năm 1345 - chủ biên là Đoạt Đoạt (1314 - 1355), Hữu Thừa tướng Nguyên triều (1279 - 1368). Tên gọi Đoạt Đoạt cũng đọc là Thoát Thoát.
Trước Bộ 'Tống Sứ 167 năm, và sau Chiến dịch năm Bính Thìn giữa Tống triều / Lí triều cũng trên 102 năm, Chu Khứ Phi (1135 - 1189), trong 1 tập Bút kí rất súc tích về Địa lí Nhân văn của một số cõi ngoài vùng Lãnh Nam, Tựa đề 'Lãnh Ngoại Đại Đáp', đã chép rõ tên của Đại tướng Tống triều nói trên là 'Quách Đạt' ( Qu. II. Ngoại Quốc môn thượng. An Nam quốc).
Ở đây chúng ta có trường hợp 'Tam Thỉ thiệp há: Chữ Đạt và chữ Quì tự dạng từa tựa.
Chữ 'Quí ở đây gồm:
Bộ 'Xước' (chợt đi, chợt ngừng) và chữ 'Lục' (vùng đất cao, khô ráo).
Sách 'Nhĩ Nhá đã định nghĩa chữ 'Quí như sau:
- 'Lộ, lữ đồ dã, lộ trường do hành đạo dã. - Nhất đạt vị chi Đạo lộ, nhị đạt vị chi Kì bàng, tam đạt vị chi Kịch bàng, tứ đạt vị chi Cù, ngũ đạt vị chi Khang, lục đạt vị chi Trang, thất đạt vị chi Kịch tham, bát đạt vị chi Sùng kì, cửu đạt vị chi Quí.
                                                        /  Nhĩ Nhã. Thích Cung đệ ngũ  /.
- 'Lộ là đường dài, đường xa, nói lộ trường tức như nói đường đi. - Đường có một nẻo thì gọi là Đạo lộ, đường thông đi 2 nẻo thì gọi là Kì bàng, thông ra 3 nẻo gọi là Kịch bàng, thông đi 4 nẻo gọi là Cù, thông đi 5 nẻo thì gọi là Khang, thông ra 6 nẻo thì gọi là Trang, thông ra 7 nẻo gọi là Kịch tham, thông đi 8 nẻo gọi là Sùng kì, thông ra 9 nẻo gọi là Quí.

Bộ 'Thuyết Văn Giải Tứ của Hứa Thận (30 - 124) không có chữ 'Quí vừa dẫn trên đây, chỉ có chữ 'Quí với 1 bên (trái) là chữ 'Cửú (số 9), 1 bên là chữ (Bộ) 'Thú (cái đầu), và đã 'Giải tứ như sau: - 'Cửu đạt đạo dã.' ('Đường thông đi 9 nẻo.').
Và như vậy, chữ 'Quí ở đây và chữ 'Quí đề cập trong Sách 'Nhĩ Nhá Tự dạng tuy khác nhưng nghĩa là một. Văn Tự học gia Thanh triều là Quế Phức (1736 - 1805) giảng nghĩa chữ 'Quí này nói đây là hình thức cổ (cổ tự) của chữ 'Quí nói trên.
(Xin tham khảo 'Thuyết Văn Giải Tự Nghĩa Chứng'. Qu. XLVII. của ông).

 Quách Đạt hay Quách Quì? Vấn đề đã trở nên dễ dàng hơn vì rằng nhân vật này có tên Tự.
Mở đầu phần 'Truyện' (Tiểu sử) Quách Quì, 'Tống Sứ chép:
- 'Quách Quì, Tự Trọng Thông' ('Quách Quì tên Tự là Trọng Thông').
                           /  Tống Sử. Qu. CCXC. Liệt truyện 49. Quách Quì  /.

Chữ 'Đạt' đồng nghĩa với chữ 'Thông', như trong ngôn ngữ người ta thường nói 'thông đạt'. Và  chữ 'Quí tuy cũng hàm ý Thông, nhưng không cận như chữ Đạt.
Và như vậy, căn cứ tương quan Danh / Tự thì vị tướng nói trên phải Tên là Quách Đạt.
Hơn nữa, nếu do 'Thư kinh Tam tá mà thành lầm lẫn thì lầm lẫn do chép đi chép lại này phải là chữ 'Đạt' chép lầm thành chữ 'Quí - sự kiện này hiển nhiên, vì rằng 'Lãnh Ngoại Đại Đáp' đã xuất hiện trước 'Tống Sứ.
                                                                           *

2. Việt Nam

Cũng vậy, trong Cổ sử Việt Nam có những nhân danh mà cho đến bây giờ đây đa số vẫn tiếp tục đọc sai, viết sai, như:
Dương Đình Nghệ thành Dương Diên Nghệ, Đinh Đô Lãnh thành Đinh Bộ Lãnh.
Cũng với phương pháp căn cứ í nghĩa của Danh / Tự, cũng như căn cứ tương quan Danh / Tự đã phân tích trước đây, tôi sẽ khảo định lại vấn đề để đi tới 1 kết luận dứt khoát.

+ Dương Đình Nghệ (? - 937).
Trong bô. Biên niên Sử nổi tiếng 'Tư Trị Thông Giám' - trong phần chép các sự việc xảy ra vào năm thứ 2 Niên hiệu Thiên Phúc (936 - 942), năm 937, thời Cao tổ (892 - 942; tại vị: 936 - 942) của triều Hậu Tấn (936 - 947), Sử gia Tư Mã Quang (1011 - 1086) có đoạn chép:
- 'Giao châu tướng Kiểu Công Tiễn sát An Nam Tiết Độ Sứ Dương Đình Nghệ nhi đại chí.
                                              /  Sd. Qu. CCXXCI. Hậu Tấn kỉ 2  /.
- 'Kiểu Công Tiễn, tướng Giao châu, giết An Nam Tiết Độ Sứ Dương Đình Nghệ và lên thaý.
Và rồi, cũng Quyển đã dẫn, năm thứ 3 Niên hiệu trên, Tư Mã Quang lại chép:
- 'Đông, thập nguyệt................. Dương Diên Nghệ cố tướng Ngô Quyền tư. Ái châu cử binh công Kiểu Công Tiễn ư Giao châú.
- 'Mùa Đông, tháng 10....... tướng cũ trước đây của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền từ Ái Châu đưa quân ra Giao châu đánh Kiểu Công Tiễn'.
Sử học gia Hồ Tam Tỉnh (1230 - 1302) đời Nguyên, khi chú thích 2 tiếng 'Diên Nghế trong Câu dẫn trên, đã viết: 'Diên Nghệ đương tác Đình Nghế. ('Diên Nghệ phải viết là Đình Nghế).
Minh Di chú: Ái Châu tức tỉnh Thanh Hóa hiện nay.
Ở đây, có thể Tư Mã Quang đã quên. Có điều, 2 sự việc chép cùng một quyển, tự thuật lại không dài lắm để có thể quên dễ dàng. Và như vậy thì chỉ có thể là thợ khắc chữ in đã khắc lầm. 
Bộ 'Tống Sứ cũng chép là 'Diên Nghế, các sách Việt Nam hầu hết có lẽ đã theo 'Tống Sứ.
(Tham khảo 'Tống Sứ. Qu. CDXXCVIII. Liệt truyện 247. Ngoại quốc 4. Giao Chỉ).
Và sau đó, trong 'Thập Quốc Xuân Thú của Ngô Nhiệm Thần ( 1631 - 1684 ) và kế sau nữa là trong 'Nam Hán Thứ của Lương Đình Nam (1796 - 1861), là 2 bô. Sử thư giá trị chép về thời kì gọi là 'Thập Quốc' (907 - 979), cũng đều chép là Dương Đình Nghệ.
Về Dương Đình Nghệ trong 2 bô. Sử kể trên, xin coi:
++ 'Thập Quốc Xuân Thú:
Qu. LVIII. Nam Hán 1. Cao tô? Bản kỉ.   
Qu. LXI. Nam Hán 5. Liệt truyện. Hoằng Tháo.
++ 'Nam Hán Thứ:
Qu. III. Bản kỉ 3. Cao tổ kỉ 2
Qu. VIII. Liệt truyện 2. Hồng Tháo.
Qu. XỊ Liệt truyện 5. Lương Khắc Trinh.
Qu. XII. Liệt truyện 6. Tiêu Ích.

Ở đây lại là trường hợp 'Tam Thỉ thiệp há. 2 Chữ 'Diên' và 'Đình' Tự dạng coi từa tựa nhau.
Vấn đề nếu dừng tại đây, dừng tại điểm thuần hình thức của Văn tự thì người chép là Diên Nghệ không thể nói người ghi là Đình Nghệ là sai; ngược lại, người đề Đình Nghệ rồi cũng không thể nói người chép Diên Nghệ là lầm. Vì rằng, có thể vốn là chữ Đình đó, nhưng rồi, vì đã nhận lầm Tự dạng mà viết sai thành Chữ 'Diên', và ngược lại.
Nhưng vấn đề không dừng tại đó, vì kết luận của vấn đề rồi ở phía bên kia, ở tại 'Tự ngoạí, chứ không ở phía bên đây.
Như đã nói, Danh và Tự của người xưa nhiều khi đã lấy Chữ từ Kinh Điển - nhất là trong những gia đình học thức. Nếu nhìn từ khía cạnh này, chúng ta có thể nói rằng chính xác thì phải viết là Dương Đình Nghệ.
Gần nhất, dễ hiểu nhất, 2 chữ 'Đình Nghế có nghĩa 'tài năng của triều đình', và suy rộng ra, là tài năng của đất nước.
Sâu xa hơn, có thể nói toàn thể Danh xưng Dương Đình Nghệ rồi đã lấy ý từ Dịch Kinh.
Chu Dịch. Quẻ Quái (Đoài / Càn), Quái từ: - 'Quái. Dương vu Vương đình'.
Quái là thời Quân tử xuất thế để quyết đoán Sự việc, thời mà nguời chính trực có thể công nhiên nêu lên những cái sai trái của xã hội. Đây là ý nghĩa của câu 'Dương vu Vương đình'.
Luận Văn tự, 2 chữ Dương/Đình trong Quái từ Quẻ Quái và 2 chữ Dương/Đình trong danh xưng Dương Đình Nghệ, hình thức tuy có hơi khác nhưng í nghĩa thì tương thông - Đây là trường hợp gọi là Thông Tá trong Văn tự học Trung Hoa.
Và như vậy, đã tới lúc có thể khẳng định Dương Đình Nghệ đúng mà Dương Diên Nghệ sai.

+ Đinh Đô Lãnh (chữ Lãnh còn đọc âm Lĩnh: 924 - 979; tại vị: 968 - 979).
Tức Đinh Tiên Hoàng,  người kiến lập Đinh triều (968 - 980).
Đinh Đô Lãnh, 'Tống Sứ chép là Đinh Bộ Lãnh.
Trước 'Tống Sứ và sau 'Tống Sứ, thư tịch đều chép là Đinh Bộ Lãnh, kể 1 vài bộ trứ danh:
++ 'Văn Hiến Thông Khảó của Mã Đoan Lâm (1254 ? - 1323), Nguyên triều.
Qu. CCCXXX. Tứ Duệ Khảo 7. Giao Chỉ.
++ 'Đông Tây Dương Khảó của Trương Tiệp (1574 - 1640), Địa lý học gia Minh triều.
Qu. I. Tây dương Liệt quốc Khảo. Giao Chỉ.
++ 'Nguyên Sứ của Tống Liêm (1310 - 1381), Văn học gia sơ kì Minh triều.
Qu. CCIX. Liệt truyện 96. An Nam.
++ 'Minh Sứ của nhóm Trương Đình Ngọc (1672 - 1755), Sử học gia sơ kì Thanh triều.
Qu. CCCXXI. Liệt truyện 209. Ngoại quốc 2. An Nam.
Và chúng ta, chúng ta vẫn dạy, vẫn học là Đinh Bộ Lãnh từ hồi nào tới giờ!
Cứ như sự hiểu biết hiện nay của tôi thì chỉ có 1 người là đã chép là Đinh Đô Lãnh - người này không ai khác hơn Chu Khứ Phi, tác giả tập Bút kí trứ danh 'Lãnh Ngoại Đại Đáp' đã nhắc đến ở 1 đoạn trước đây khi nói về Quách Đạt. Về Đinh Đô Lãnh, Chu Khứ Phi chép:
- 'Quốc sơ, kì bộ nội loạn, hữu Đinh Đô Lãnh giả, dữ kì tư? Liễn suất chúng thảo bình chí.
       /  Lãnh Ngoại Đại Đáp. Qu. II. Ngoại quốc môn. Thượng. An Nam quốc  /.
- 'Vào buổi đầu triều (chúng ta) nước ấy có nội loạn, bấy giờ có người tên Đinh Đô Lĩnh và con là Liễn cầm quân đánh dẹp yên hết'.

Khi hiệu chú tác phẩm 'Lãnh Ngoại Đại Đáp', chú thích tên gọi Đinh Đô Lãnh trong đoạn văn nói trên, Dương Vũ Tuyền, người cùng một thời với chúng ta, đã sửa tên Đinh Đô Lãnh lại thành Đinh Bộ Lãnh (ở câu chú thích ghi số hạng 16) và viết như sau:
- '(16). Đinh Bộ Lãnh, các Bản quân tác 'Đinh Đô Lãnh', dữ Trung, Việt sử tịch sở tái quân bất hợp. 'Tứ Khố Quán' thần chú dịch vân: 'Án, Tống Sứ tác 'Bộ lãnh.', nhân kính cảí.
- '(16). Đinh Bộ Lãnh, các Bản đều chép là 'Đinh Đô Lãnh', (tất cả) đều không phù hợp với Sự ghi chép trong Sử tịch Trung Quốc và Việt nam. Chú thích của các đình thần phụ trách Biên tập tại 'Tứ Khố Quán' cũng chép là: - 'Xét, 'Tống Sứ ghi là 'Bộ Lãnh', cho nên (tôi) sửa lại thẳng trong nguyên bản'.
Có thể nói Dương Vũ Tuyền đã Sai khi sửa Đinh Đô Lãnh thành Đinh Bộ Lãnh.
Nhưng, nói Chu Khứ Phi có lí là một chuyện, còn chứng minh cái lí đó lại là 1 chuyện khác - Và chuyện khác đó là chuyện tôi sẽ nói sau đây.
Chữ Đô và chữ Bộ có Tự dạng tương cận - cũng lại là 1 trường hợp 'Tam Thỉ thiệp há.
Như đã biết, Tên của cổ nhân nếu không lấy chữ từ Kinh điển thì cũng có một í nghĩa tốt đẹp, và trong nhìều trường hợp, còn hàm một í nghĩa cao xa nào đó.
Ở đây, 2 chữ Đô và Bộ rồi đều không xuất từ 1 Kinh điển nào hết, cho nên chỉ còn phương pháp phân tích chữ nghĩa để có thể kết luận là Đô hay là Bộ. Chữ Đô và chữ Bộ có 1 số nghĩa đồng.  Đô và Bộ đều có nghĩa: - 'Gom hết lại, tập hợp lạí (tức các nghĩa 'Tổng' và 'Thống'). Ngoài ra chữ Đô còn có nghĩa 'Toàn thể, toàn bố.
Và như vậy, Đô Lãnh hay Bộ Lãnh đều có nghĩa 'Thống lãnh, thống suất'.
Tuy nhiên, về phương diện chữ nghĩa, danh xưng Đô Lãnh rồi có căn cứ, xuất xứ.
Trong chức quan thời cổ có nhiều chức vụ đứng đầu 1 cơ quan, 1 Phủ thự, hành chánh cũng như về quân sự, mà danh xưng có chữ Đô đứng đầu, như: - Đô Đốc, Đô Hộ, Đô Thống, Đô Úy và rồi Đô Chỉ Huy Sứ....
Tục ngữ Trung Hoa có câu - 'Quan đáo Thượng thư, lại đáo Đố, nghĩa là 'Làm quan rồi mong nhất làm tới Thượng Thư, làm lại thì mong nhất là làm tới 1 chức Đố.
Tới đây, từ sự kiện thực tế cho tới đây, tới lúc đi vào tục ngữ, chữ Đô đã nghiễm nhiên hóa thành một chữ đồng nghĩa với thủ lãnh, lãnh tụ.
Và điểm sau cùng cần nhắc lại ở đây là Tập bút kí 'Lãnh Ngoại Đại Đáp' của Chu Khứ Phi vốn xuất hiện trước 'Văn Hiến Thông Khảó, 'Tống Sứ.... cũng trăm năm ngoài, do đó, nếu như có trường hợp lầm lẫn từ sự 'Thư kinh Tam tá thì lầm lẫn do sao đi chép lại này phải là chữ Đô đã bị chép lẫn thành chữ Bộ.
Từ những phân tích và những chứng cứ trên đây thì kết luận chỉ có thể là Đinh Đô Lãnh.
                                                                           *
Đặt tên con là Dương Đình Nghệ, là Đinh Đô Lãnh là mong sau này con sẽ là 1 hiền thần, hoặc là 1 vi. Đô quan nào đó; nhưng rồi, 1 người là lãnh tụ hùng cứ 1 phương, và 1 người kiến lập nên 1 triều đại. Thực là quá lòng mong mỏi của cha mẹ!
                                                                           *
Đối với cổ nhân, việc đặt tên con cái cũng là 1 sự việc rất quan trọng.
Theo như thiên 'Nội Tắc', Sách 'Lễ Ki, đứa trẻ sinh ra 3 tháng sau mới đặt tên - Và khi đặt tên cho con thì phải tránh không được đặt 1 số tên như:
- 'Danh tử giả bất dĩ Quốc, bất dĩ Nhật Nguyệt, bất dĩ ẩn tật, bất dĩ Sơn, Xuyên'.
                                                                           /  Sd. Khúc Lễ thượng  /.
- 'Đặt tên con thì không được dùng tên Quốc gia, không được lấy tên Ngày, Tháng, không được lấy tên của những tật bệnh kín trong người, không được lấy tên của Sông, Núí.

Tên Quốc gia đây là tên Quốc gia của mình, còn tên của Quốc gia khác thì có thể đặt tên con.
'Không được lấy tên của Nhật Nguyệt (Ngày Tháng)'.
Theo như Chú giải của học gia? Khổng Dĩnh Đạt (574 - 648) là không được lấy những Chữ trong thập Thiên Can (tức Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu.......) mà đặt tên con, hoặc không được lấy chính 2 Chữ 'Nhật, Nguyệt' mà đặt tên con.
Còn theo như giải thuyết của học gia? Tôn Hi Đán (1736 - 1784) thì 'không được lấy tên Nhật' là không được phối hợp các Chữ trong thập Thiên Can và thập nhi. Địa Chi (Tí, Sửu, Dần, Mão.....) như 'Giáp Tí, Ất Dậu, Mậu Thìn, Kỉ Tị ........ mà đặt tên con; còn 'không được lấy tên Nguyệt' là không được lấy các Chữ như 'Hối, Sóc, Huyền, Vọng', là các từ ngữ chỉ những thời điểm cố định trong tuần trăng để đặt tên con. Hối là ngày 29 Âm lịch (tháng Thiếu) hay 30 (nếu là tháng Đủ) và Sóc là Mồng 1. Huyền thì có Thượng huyền, nhằm mồng 8 , và Hạ huyền, tức nhằm ngày 23.  Vọng là ngày Rằm, ngày Trăng tròn, ngày 15 nếu là tháng Thiếu, hay 16 nếu là tháng Đủ.  
Ngoài ra, Tôn Hi Đán còn cho biết có thuyết nói rằng không được lấy 'Biệt danh' của 12 Tháng chép trong sách 'Nhĩ Nhá mà đặt tên con.
Biệt danh của 12 Tháng ghi trong sách 'Nhĩ Nhá như sau:
Trưu (Giêng), Như (2), Bính (3), Dư (4), Cao (5), Thư (6).
Tướng (7), Tráng (8), Huyền (9), Dương (10), Cô (11), Trừ (12).
(Tham khảo Nhĩ Nhã. Thích Thiên đệ bát).
Trong khi đó, những qui lệ loại vừa kể, chép trong 'Tả Truyện' thì càng phiền toái hơn nữa:
- 'Lục niên..... Cửu nguyệt, Đinh Mão, Tử Đồng sinh....
Công vấn Danh ư Thân Tu, đối viết:
- Bất dĩ Quốc, bất dĩ Quan, bất dĩ Sơn Xuyên, bất dĩ ẩn tật, bất dĩ súc sanh, bất dĩ khí tế.
                                           /  Tả Truyện. Hoàn Công Lục niên, Cửu nguyệt  /.
- 'Năm thứ 6.... Tháng 9, ngày Đinh Mão, Tử Đồng sinh....
Vua hỏi Thân Tu về vấn đề đặt Tên con, Thân Tu trả lời:
- Không lấy tên Quốc gia, không lấy tên Quan chức, không lấy tên Núi, tên Sông, không lấy tên những tật bệnh kín trong thân thể, không lấy tên gia súc dùng trong Tế Tự, không lấy tên những vật dụng dùng trong Tế tự, không lấy tên hóa tế.
Sở dĩ có khá nhiều những Chữ phải tránh khi đặt tên cho con cái như 'Lễ Ki và 'Tả Truyện' đã tự thuật là vì, như đã biết, thời Chu (1121 - 256 tr. Cn.) người ta kiêng gọi tên người khác.
Tên gọi Quốc gia, tên gọi Quan chức và những tiếng chỉ ngày, tháng, tật bệnh, cũng như gia súc tế tự, vật dụng tế tự, hóa tệ (tiền tệ), và tên của Núi, Sông........... là những tiếng người ta sử dụng rất thường trong sinh hoạt thường ngày, do đó phải tránh không dùng để đặt tên con.
Và như vậy, vấn đề ở đây chẳng liên quan gì tới đạo đức mà chỉ thuần tính cách của một định lệ về việc kiêng gọi tên người khác. Định lệ này cho tới cuối Chu triều thì đã lỏng lẻo lắm!
Việc đặt tên con cái đã có những điều cần tránh thì cũng có 1 số tiêu chuẩn để noi theo.
Cũng Sách 'Tả Truyện', trong phần mới dẫn trên đây, liền ngay trước đoạn thuật về những điều phải tránh khi đặt tên con cái, Thân Tu đã đưa ra những tiêu chuẩn nên theo khi đặt tên con:
- 'Danh hữu ngũ: - Hữu Tín, hữu Nghĩa, hữu Tượng, hữu Giả, hữu Loại. Dĩ danh sinh vi Tín, dĩ đức mệnh vi Nghĩa, dĩ loại mệnh vi Tượng, thủ ư vật vi Giả, thủ ư phụ vi Loạí.
Dịch văn:
- 'Có 5 tiêu chuẩn đặt Tên: - Có tiêu chuẩn gọi là Tín, có tiêu chuẩn gọi là Nghĩa, có tiêu chuẩn gọi là Tượng, có tiêu chuẩn gọi là Giả, có tiêu chuẩn gọi là Loại. Tên đặt căn cứ dấu, vết nào đó trên thân thể lúc mới sinh thì gọi là Tín; tên đặt căn cứ 1 suy đoán tốt lành nào đó trong tương lai đứa trẻ thì gọi là Nghĩa; tên đặt căn cứ 1 điểm đặc biệt nào đó trên thân thể đứa trẻ gọi là Tượng; tên đặt căn cứ 1 vật nào đó trong một sự việc liên quan tới đứa bé mới sinh thì gọi là Giả; tên đặt căn cứ 1 điểm tương đồng nào đó với người cha thì gọi là Loạí.

Thí dụ về nhân danh trong 5 tiêu chuẩn đề cập trong đoạn văn dẫn trên của 'Tả Truyện' có thể tìm thấy rất nhiều trong thư tịch cổ. 1 vài nhân danh được đặt theo 5 tiêu chuẩn vừa kể trên:
(1). Tên đặt căn cứ dấu vết trên thân thể. (Tín).
Tên đặt căn cứ dấu vết trên thân thể.
Chẳng hạn Đường Thúc Ngu (tức Cơ Ngu), con của Chu Vũ vương, khi mới sinh lòng bàn tay có những nét từa tựa chữ Ngu (dự liệu, phòng bị), do đó Vũ Vương mới đặt tên là Ngụ
Quí Hữu lúc mới sinh lòng bàn tay có những nét từa tựa chữ Hữu (Bạn), cho nên Lỗ Hoàn Công mới đặt tên là Quí Hữu. Quí Hữu là con út của Lỗ Hoàn Công.
Minh Di chú: - Trong 2 Bộ 'Xuân Thú và  'Tả Truyện', Quí Hữu được chép dưới 1 số tên như Quí Tử, Thành Quí, Công tư? Hữu, Công tư? Quí Hữu.
(2). Tên đặt căn cứ 1 suy đoán tốt đẹp trong tương lai. (Nghĩa).
Lúc Chu Văn vương mới sinh thì ông Nội là Thái Vuơng (Cổ Công Chiên Phủ) đã suy đoán rằng đứa bé này sẽ đem lại sự hưng thịnh cho giòng dõi, vì vậy đặt tên cháu nội là Xương, có nghĩa là Hưng Thịnh. Văn Vương sinh Vũ Vương, ông lại đoán là chắt mình sau này sẽ lãnh đạo Chư hầu lật đô? Thương triều cho nên Thái Vương mới đặt tên Vũ vương là Phát, nghĩa là Khởi lên.
(3). Tên đặt căn cứ 1 đặc điểm trên thân thể. (Tượng).
Khổng Tử lúc mới sinh trán gồ cao, thân phụ do đó mà đặt tên là Khâu, nghĩa là cái Gò.
(4). Tên đặt căn cứ 1 vật liên quan đứa bé mới sinh. (Giả).
Lúc Khổng Tử mới có đứa con đầu lòng có người đem biếu cá chép chúc mừng, vì vậy Khổng Tử mới đặt tên con là Lí (cá chép).
Sách 'Khổng Tử Gia Ngứ (Qu. IX. Bản Tính) nói người biếu cá chép là Lỗ Chiêu Công.
Đỗ Dự (222 - 284) thời Tây Tấn (265 - 317) chú giải 'Xuân Thú và 'Tả Truyện' đã chỉ chép là có người biếu cá chép, không nói là Lỗ Chiêu Công.
Giải thích rõ hơn í Đỗ Dự, Khổng Dĩnh Đạt nói rằng Lỗ Chiêu công là ông vua tầm thường - và hơn nữa, lúc sinh Khổng Lí, Khổng Tử còn quá trẻ, chỉ vừa 20 tuổi, Lỗ Chiêu công chưa chắc đã biết tôn trọng Thánh nhân mà đưa lễ đến chúc mừng sinh con. Đỗ Dự vì nghi ngờ sự kiện kể trên cho nên đã chỉ ghi là 'có ngườí, 1 người nào đó.
(5). Tên đặt căn cứ 1 điểm tuơng đồng nào đó với người chạ (Loại).
Trong đoạn văn của 'Tả Truyện' dẫn trên, Lỗ Hoàn công sau đó đã đặt tên đứa con mới sinh là Tử Đồng, vì Tử Đồng (sau này là Lỗ Trang công) sinh cùng ngày với mình:
- 'Công viết: 'Thị kì sinh dã, dữ ngô đồng vật'. Mệnh chi viết Đồng'.
- '(Hoàn) công nói: 'Nói ngày sinh thì nó sinh cùng ngày với tá. Do đó, đặt tên con là Đồng'.

Những tiêu chuẩn đặt tên con Thân Tu nói với Lỗ Hoàn công kể trong 'Tả Truyện' nói chung có tính cách giản dị, ít nhiều đượm vẻ thuần phác của thời viễn cổ. Những lối đặt tên đã nói đời sau vẫn thấy có người áp dụng; nhưng, những người tương đối có học thức lại không mấy người theo những tiêu chuẩn này, trừ Tiêu chuẩn gọi là Nghĩa. - Đây chẳng phải vì người sau học thức hơn người xưa, sâu sắc hơn người xưa, mà vì trong những xã hội ngày càng trở nên phức tạp sau này con người dần dần mất đã đi nét thuần phác, hồn nhiên đầu tiên.
Càng về sau việc đặt tên con cái càng phức tạp đa dạng hơn trước nhiều, mà cũng phù phiếm và phô trương hơn các thời trước nhiều. Nhưng dù phức tạp, dầu đa dạng, tới đâu đi nữa, tùy ý, Tên đặt cho con cái, nếu ý không thâm viễn, súc tích thì nghĩa cũng phải thanh nhã, đoan chính, chứ không đặt những tên thô tục, hoặc có ý nghĩa xấu, gở. Hơn nữa, Tên là để gọi cho nên cũng phải tránh những trường hợp mà sự gọi tên này có thể đem lại chuyện rủi ro, hoặc sự bất tường.
Tóm lại, đời cổ việc đặt tên con cái là một việc quan trọng, người xưa tin tưởng rằng tên gọi của 1 người có thể có ảnh hưởng phần nào tới vận mạng của người đó, cho nên, người Trung Hoa có  lối gọi là 'Sách Tứ phân tích các nét chữ để đoán tốt xấu.
Sách Tự, đời Tùy gọi là Phá Tự, thời Triệu Tống gọi là Tướng Tự, và bây giờ thì gọi Trắc Tự.
Chữ 'Sách' ở đây có nghĩa là 'chẻ rá, 'xé rá, 'phân tích', và như vậy, Sách Tự có nghĩa đen là 'Chẻ Chứ. Hán tự là sự phối hợp của các nét mà thành, giản dị thì 2, 3 nét, phức tạp nữa thì vài ba chục nét. Nói rõ hơn, Chữ là 1 tập hợp có thể gồm 2, 3, hoặc hơn, Chữ ít nét mà thành (gọi là những 'chữ thành phần') - tùy Chữ nhiều nét, hay ít nét. Đại khái, trong phép Sách Tự, người ta phân tích í nghĩa của những 'chữ thành phần' của Danh, Tự 1 người rồi tổng hợp thành ý nghĩa cuối cùng. Có điều là, sự phân tích và giải thích này không cố định, mà tùy thuộc hoàn cảnh của mỗi cá nhân, do đó, 2, 3.... người cùng 1 danh tự mà giải thích có thể khác nhau xa.
Có thể nói lối 'Sách Tứ đã bắt nguồn từ lối 'Ẩn Ngứ, hay 'Sưu Tứ (Sưu = Ẩn) - hay nói theo ngôn ngữ bình dân là 'Tự Mế, và nói theo lối bình dân Việt nam là 'Đố chứ. 1 vài thí dụ:
Trang Xước (? -?), khoảng đầu thời Nam Tống (1127 - 1279), đã chép lại một câu 'Đố Chứ của Vương An Thạch (1021 - 1086) như sau:
- 'Huynh đệ tứ nhân, lưỡng nhân đại, nhất nhân lập địa, tam nhân tọa, gia trung cánh hữu nhất lưỡng khẩu, nhiệm thị hung niên dã đắc quạ
                                                                     /  Kê Lặc Biên. Qu. Thượng  /.
- 'Anh em 4 người, 2 người lớn, 1 người đứng, 3 người ngồi, trong nhà thì chỉ 1, 2 miệng [ăn] có gặp năm đói [kém thì] cũng qua khỏí.
Giải:
Đây là chữ Kiệm, nghĩa là 'tằn tiện', 'tiết kiệm'.
Chữ Kiệm có tất cả 4 chữ 'nhân' (người), bên trái là chữ 'nhân' đứng - bên phải, ở trên cùng là chữ 'nhân' với 2 nét dạt 2 bên như tư thế ngồi; dưới chữ nhân này là chữ 'nhất' (1), tiếp theo đó ở mé dưới là 2 chữ 'khẩú (miệng), dưới 2 chữ 'khẩú này là 2 chữ 'nhân ngồí nữa.
Ăn uống, tiêu xài tằn tiện thì gặp khi đói kém cũng qua khỏi cơn ngặt nghèo.
Chu Mật (1232 - 1298) cuối triều Nam Tống đầu triều Nguyên đã ghi lại một số 'Ẩn Ngứ, ở đây chỉ dẫn 2 câu đố về chữ Nhật và chữ Ngư:
- 'Nhật mê vân:
- Họa thời viên, tả thời phương, hàn thời đoản, nhiệt thời trường.
Hựu vân:
- Đông hải hữu nhất ngư, vô đầu dịch vô vĩ, trừ khứ tích lương cốt, tiện thị giá cá mế.
                                                         /  Tề Đông Dã Ngữ. Qu. XX. Ẩn Ngữ  /.
- 'Câu đố về chữ Nhật:
- Vẽ thì tròn, viết thì vuông, lạnh thì ngắn, nóng thì dài.
Và câu nữa:
- Biển Đông có con cá, không đầu cũng không đuôi, chặt bỏ hết xương sống, đó là câu đố nàý.
Giải:
+ Câu đố 1: Nhật là Mặt trời, vẽ ra như mắt thấy thì tròn, viết thành chữ lại có dạng vuông.
+ Câu đố 2 là chữ 'Ngứ: - Con cá
Chữ Ngư mà 'không đầu cũng không đuôí tức chữ Điền (ruộng); sau cùng, chữ Điền, nếu bỏ đi nét thẳng ở giữa (ở đây được ví như cái 'xương sống' của con cá) thì còn lại chữ Nhật.
Bành Thừa (? - ?) thời Bắc Tống nói 2 Câu đố trên đây, câu trước của Vương An Thạch, câu sau  của Lữ Huệ Khanh (1032 - 1111). Có lần Vương An Thạch đưa cho Lữ Huệ Khanh coi câu đố về chữ Nhật, Lữ Huệ Khanh liền làm câu đố về chữ Ngư đố lại.
Ngoài ra, trong 2 câu đố trên, Bành Thừa còn có 1 vài chữ chép khác với Chu Mật.
Câu 1: Chữ 'Hàn', Bành Thừa chép là 'Đông', và chữ 'Nhiệt' chép là 'Há.
Câu 2: 2 chữ 'trừ khư, Bành Thừa chép là 'canh trứ.
(Tham khảo: Bành Thừa, 'Tục Mặc Khách Huy Tế. Tứ cú Mê).
Tóm lại, có thể nói 'Ẩn Ngứ có từ thời rất cổ, và được sử dụng theo những mục đích sau:
+ Giáo Dục. 1 phương pháp giúp người mới học chữ dễ nhớ.
+ Vui chơi giải trí, như trào phúng chẳng hạn.
+ Chính Trị. 1 công cụ tuyên truyền, trường hợp này thì 'Ẩn ngứ thường được khoác cho một vẻ  thần bí là sấm kí.....
+ Bói toán, tức hình thức 'Sách Tứ, hay 'Tướng Tứ, hay 'Trắc Tứ, đề cập ở đây.
                                                                           *

Bây giờ là 2 câu chuyện nho nhỏ của Lưu Hiệp (? - 532 ?):
+ 'Tích hữu bần nhân mệnh kì cẩu viết Phú, mệnh kì tử viết Lạc.
Phương tế nhi cẩu nhập ư thất, sất chi viết:
- Phú, xuất!
Chúc viết:
- Bất tường!
Gia quả hữu họa, kì tử hậu tử. Khốc chi viết 'Lạc' nhi bất tự bi dã!'.

+ Trang lí hữu nhân tự kì trưởng tử viết Đạo, thứ tử viết Khụ
Đạo trì y xuất nục, kì mẫu hô chi viết:
- 'Đạo!'.
Lại nhân phọc chi, kì mẫu hô:
- 'Khu, Khu!'.
Dụ lại cự nhi thanh bất chuyển, đản ngôn 'Khu, Khú.
Lại nhân khu chi, Đạo kỉ chí ư ế!'.

Lập Danh bất thận nhi thụ kì tệ, thẩm Danh chi nghi khởi bất tín tai?!'.
                                               /  Lưu Tử. Qu. III. Bỉ Danh 17  /.
+ 'Xưa có 1 người nghèo đặt tên con chó giữ nhà là Phú (Giàu), đặt tên đứa con là Lạc (Vui).
Một hôm trong nhà có việc tế tự, sắp sửa hành lễ thì con chó chạy vào nhà, người này nạt lên:
- Phú, ra ngoài!
Thầy cúng nói:
- Điềm chẳng lành!
Gia đình quả nhiên gặp tai họa, sau đó thì đứa con chết. Khóc con, miệng thì kêu 'Lạc' mà rồi người này không cảm thấy tự bi thương!'.

+ Trong thôn trang có người đặt tên đứa con lớn là Đạo (Ăn Trộm), đứa kế là Khu (Rượt).
Một bữa nọ, thằng Đạo thay quần áo ra đồng làm ruộng thì mẹ nó kêu nó:
- Đạo (Ăn trộm)!
Lính trong thôn nghe hô đổ tới bắt trộm thì mẹ nó lại gọi [đứa kế]:
- Khu, Khu (rượt, rượt)!
Đã kêu lính tới gấp mà cứ không ngớt miệng kêu 'Khu, Khú!
Lính cứ thế mà rượt theo, thằng Đạo rồi chạy muốn gần chết!'.

Đặt Tên không thận trọng để tới nỗi gặp những chuyện rủi ro, suy xét cho kĩ để đặt Tên sao cho thích đáng, việc này rồi chẳng đáng tin sao?!'.

Lưu Hiệp, người kể chuyện ở đây, cũng chính là tác giả của 'Văn Tâm Điêu Long', là tác phẩm phê bình Văn học trứ danh đầu tiên trong Văn học sử Trung Quốc.

Thân kính mời đọc tiếp Phụ lục II

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đào Như

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Liên hiệp quốc

a

Lý Đại Nguyên

a

Mai Thanh Truyết

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thiếu Nhẫn

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Nguyễn Văn Hoàng

a

Lm. Tadeo Nguyễn Văn Lý

a

Phạm Đình Hưng

a

Ht. Thích Quảng Độ

a

Ht. Thích Thiện Minh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Tuesday, 18 January, 2011 12:28