Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Diễn đàn - Lưu bút

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo

Minh Di - Tạp chí Dân Văn

Phê bình sách dịch Đại Đường Tây Vực Ký

Kỳ 5

~ Nguyên tác:

- “Đại vương túc thực thiện bản, đa chủng thắng nhân, đắc vi nhânvương, vô tư bất phục”.

- “Nhà vua thuở xưa trồng thiện căn, gieo các nhân lành thù thắng nên (kiếp này) được làm Vua cõi người, không ai là không phục!”.

Thích Như Điển dịch bậy là: 

- “Đại Vương ngày xưa đã trồng nhiều căn lành nhiều loại khác nhau cho nên thắng vậy. Được làm vua trên đời, chẳng có ý niệm báo ân”.

Nguyên tác, “đa chủng thắng nhân” nghĩa là “gieo nhiều nhân lành cực tốt đẹp”, câu dễ như vậy mà Thích Như Điển lại dịch là “đã trồng nhiều căn lành nhiều loại khác nhau”.

Chữ “thắng” đi với chữ “nhân” thành “thắng nhân”, nghĩa là “nhân lành cực tốt đẹp”.

Thích Như Điển lại tách ra mà dịch thành một câu rất bậy là “cho nên thắng vậy”.

Còn câu “Được làm vua trên đời, chẳng có ý niệm báo ân” thì tôi chẳng rõ mò ở đâu ra mà tìm không thấy trong nguyên tác! 

~ Nguyên tác:

- “Phù Long giả súc dã, ti hạ ác loại, nhiên hữu đại uy, bất khả lực cạnh; thừa vân ngự phong, đạp hư lí thủy, phi nhân lực sở chế”.

- “Rồng là loài súc vật, ác độc hèn mọn, nhưng uy lớn, không thể lấy sức mà tranh được! Rồng nương mây, cỡi gió, bay trên không, đi xuống nước, không phải sức con người có thể chế ngự”.

Thích Như Điển lại dịch rất bậy, mà văn viết thì chẳng ra làm sao cả:

- “Phàm là rồng thuộc về loại súc sanh vậy, cũng thuộc loài ác. Vì sao uy lực không đủ để cạnh tranh, như hô phong hoán vũ để có nước người thường không làm được”.

Nguyên tác nói Rồnghữu đại uy, bất khả lực cạnh”, nghĩa là “có uy lớn, không thể lấy sức mà tranh được”, Thích Như Điển dịch bậy là “Vì sao không đủ để cạnh tranh”.

Tôi chẳng rõ câu “hô phong hoán vũ để có nước mà người thường không làm được” ở chốn nào ra?

Nguyên tác nói Rồng “nương mây cỡi gió, bay trên không, đi xuống nước”, bởi dốt nên Thích Như Điển dịch bậy như trên!

~ Nguyên tác: “Vương kim cử quốc hưng bình dữ nhất Long đấu, thắng tắc vương vô phục viễn chi uy, bại tắc vương hữu phi địch chi sỉ! Vị vương kế giả, nghi khả qui binh!”.

- “Bây giờ đây nhà vua động dụng quân binh cả nước giao chiến với một Con Rồng, thắng thì nhà vua mất đi cái uy hàng phục các nước phương xa, còn thua thìnhà vua sẽ phải hổ thẹn vì việc không địch lại người! Tôi xin vì nhà vua mà tính kế, nhà vua nên đưa quân trở về!”.

Thích Như Điển dịch ba láp là:

- “Vua bây giờ vừa cầm nước vừa cầm binh cùng chiến đấu với một con rồng, sự thắng chắc thuộcvềvua, không còn xa xôi gì nữa. Do vậy mà vua cũng không có gì xấu hổ, cho nên Vua lập kế rút binh”.

Những cái sai trong đoạn trên của Thích Như Điển:

1). Nguyên tác nói “cử quốc” nghĩa là “toàn quốc, cả nước”.

Thích Như Điển dịch thiếu học vấn là “cầm nước”.

2). Nguyên tác nói “thắng tắc vương vô viễn phục chi uy”, vậy mà Thích Như Điển dịch là “thắng chắc thuộc về vua, không còn xa xôi gì nữa”. Thiệt “bất khả tư nghì”!

3). Nguyên tác: “bại tắc vương hữu phi địch chi sỉ! Vị vương kế giả, nghi khả qui binh!”.

Thích Như Điển dịch là “vua cũng không có gì xấu hổ, cho nên Vua lập kế rút binh”. 

3 cái sai trên đây của Thích Như Điển, cứ coi phần dịch của tôi độc giả sẽ thấy ngay!

~ Nguyên tác: “Ca Nị Sắc Ca vương vị chi tòng giả, Long tức hoàn trì, thanh chấn lôi động, bạo phong bạt mộc, sa thạch như vũ, vân vụ hối minh, quân mã kinh hãi”.

- “Vua Ca Nị Sắc Ca chưa chịu nghe theo, Long vương liền trở về Hồ,nổi sấm sét, nổi gió thực lớn, nhổ bật cây cối, cát, đá bay như mưa, mây sương mờ mịt, tất cả binh mã đều khiếp hãi!”.

Đoạn trên Thích Như Điển dịch là: 

- “Về sau trở thành Vua Ca Nị Sắc Ca vậy. Rồng cũng trở lại hồ nghe được âm thanh chấn động, gió mưa cuồn cuộn làm cho cây cối đất đá lung lay, mưa rơi nặng hạt làm binh mã kinh hoàng”.

Những cái bậy của Thích Như Điển trong đoạn dịch trên đây:

1). Nguyên tác là “Ca Nị Sắc Ca vương vị chi tòng giả”.

Thích Như Điển dịch là “Về sau trở thành Vua Ca Nị Sắc Ca vậy”.

2). Nguyên tác viết là “Long tức hoàn trì, thanh chấn lôi động, bạo phong bạt mộc, sa thạch như vũ, vân vụ hối minh”. 

Thích Như Điển dịch hết sức ba láp lếu láo: “Rồng cũng trở lại hồ nghe được âm thanh chấn động, gió mưa cuồn cuộn làm cho cây cối đất đá lung lay, mưa rơi nặng hạt”.

~ Nguyên tác: “Vương nãi qui mệnh Tam Bảo, thỉnh cầu gia hộ, viết:

- Túc thực đa phúc, đắc vi nhân vương, uy nhiếp cường địch, thống Chiêm Bộ Châu kim vị Longsúc sở khuất, thành nãi ngã chi bạc phúc dã. Nguyện chư phúc lực ư kim hiện tiền!”.  

- “Nhà vua liền qui mạng Tam Bảo, cầu xin gia hộ, nói rằng:

- Xưa kia tôi trồng nhiều phúc mà được làm vua cõi người, uy phong nhiếp phục tất cả cường địch, thống lãnh Chiêm Bộ Châu, bây giờ bị một con Rồng làm nhục, thực đúng là tôi phúc mỏng. Nguyện các phúc lực của tôi bây giờ hiện ra trước mặt!”.

Thích Như Điển thì dịch bậy bạ như sau:

- “Nhà vua qui y Tam Bảo, thỉnh cầu lực gia hộ cho nên ngay lúc đó có được nhiều phước và được làm vua trên cõi đời. Uy hiếp những cường địch thống lĩnh các bộ châu. Cho nên nay mới đến đảo tìm rồng mà té ra ta là người bạc phước. Nguyện cho các phước đức hiện tiền nếu có thì ở nơi hai vai ta  bốc khói lên”.

Những cái dịch bậy của Thích Như Điển:

1). Nguyên tác nói “Túc thực đa phúc, đắc vi nhân vương, uy nhiếp cường địch, thống Chiêm Bộ Châu”.

Thích Như Điển dịch “cho nên ngay lúc đó có được nhiều phước và được làm vua trên cõi đời. Uy hiếp những cường địch thống lĩnh các bộ châu”.

2). Nguyên tác nói “kim vị Longsúc sở khuất, thành nãi ngã chi bạc phúc dã”.

Thích Như Điển “Cho nên nay mới đến đảo tìm rồng mà té ra ta là người bạc phước”.

Đến đảo nào ở đây Thích Như Điển?

Câu dịch này chẳng ra đầu cua tai nheo gì cả! Ý đã chẳng ăn nhập gì với nhau mà văn thì không không khác chi văn của hạng chẳng học hành chi!

3). Nguyên tác viết “Nguyện chư phúc lực ư kim hiện tiền!”.

Thích Như Điển dịch bậy “Nguyện cho các phước đức hiện tiền nếu có thì ở nơi hai vai ta  bốc khói lên”.

Vua Ca Nị Sắc Ca đâu nguyện cho khói bốc lên từ 2 vai, sau lời nguyện thì khói tự bốc lên, Thích Như Điển dốt Hán văn đến thế thời thôi!

~ Nguyên tác: Long vương hoàn tác Bà la môn, trùng thỉnh vương viết:

- Ngã thị bỉ trì Long vương, cụ uy qui mệnh, duy vương bi mẫn, xả kì tiền quá! Vương hàm dục, phú đáo sinh linh, như hà ư ngã, độc gia ác hại? Vương nhược sát ngã, ngã chi dữ vương câu đọa ác đạo! Vương hữu đoạn mệnh chi tội, ngã hoài oán thù chi tâm, nghiệp báo kiểu nhiên, thiện ác minh hĩ.

Vương toại dữ Long minh thiết yếu khế, hậu canh hữu phạm, tất bất tương xả!”.

- “Long vương lại hóa thành Bà La Môn, lại xin với nhà vua:

- Tôi là Long vương ở Hồ kia, sợ oai tới xin qui thuận, xin nhà vua từ bi thương xót mà tha cho cái lỗi trước đây! Nhà vua dưỡng dục, che chở mọi sanh linh, cớ sao lại áctâm gia hại mỗi mình tôi? Nếu nhà vua giết tôi thì tôi và nhà vua đều đọa ác đạo! Nhà vua có tội giết hại sanh mạng, tôi cũng mang lòng oán thù, nghiệp báo rõ ràng, thiện ác phân minh!

Nhà vua liền cùng Long vương lập 1 giao ước quan trọng là sau này nếu Long vương lại phạm nữa thì chắc chắn nhà vua sẽ không tha”.

Thích Như Điển dịch:

- “Long Vương biến lại thành Bà La Môn yêu cầu Vua rằng:

Ta là Long Vương của ao kia, xin quy mệnh. Nhưng xin Vua vì lòng từ mà nghĩ về quá khứ, nếu vua muốn các sinh linh được sống lâu sao để cho ta bị sát hại. Nếu Vua muốn sát hại ta, ta sẽ cùng vua bị đọa vào ác đạo mà vua sẽ trở thành đoản mệnh. Ta nhớ lại tâm sợ hãi lo lắng kia vì nghiệp báo và thiện ác sẽ rõ ràng. Vua lùi bước và rồng minh thị rằng nếu ai phạm thì không xứng đáng”.  

Những cái sai của Thích Như Điển trong đoạn trên:

1). Nguyên tác viết “duy vương bi mẫn, xả kì tiền quá!”.

Thích Như Điện dịch rất sai lạc là “xin Vua vì lòng từ mà nghĩ về quá khứ”.

2). Nguyên tác: “Vương hàm dục, phú đáo sinh linh, như hà ư ngã, độc gia ác hại?”.

- “Nhà vua dưỡng dục, che chở mọi sanh linh, cớ sao lại áctâm gia hại mỗi mìnhtôi?”. 

Thích Như Điển dịch bậy là:

- “nếu vua muốn các sinh linh được sống lâu sao để cho ta bị sát hại”.

3). Nguyên tác viết rõ ràng:

- “Vương nhược sát ngã, ngãchi dữ vương câu đọa ác đạo! Vương hữu đoạn mệnh chi tội, ngã hoài oán thù chi tâm, nghiệp báo kiểu nhiên, thiện ác minh hĩ!”. 

- “Nếu nhà vua giết tôi thì tôi và nhà vua đều đọa ác đạo! Nhà vua có tội giết hại sinh mạng, màtôi cũng mang lòng oán thù, nghiệp báo rõ ràng, thiện ác phân minh!”.

Nguyên tác nói vua “có tội giết hại sinh mạng”, câu rất dễ hiểu, vậy Thích Như Điển lại dịch rất bậy là “vua sẽ trở thành đoản mệnh”.

Nguyên tác nói “ngã hoài oán thù chi tâm, nghiệp báo kiểu nhiên, thiện ác minh hĩ!”.

- “tôi cũng mang lòng oán thù, nghiệp báo rõ ràng, thiện ác phân minh”.

Chữ “hoài” ở đây nghĩa là “ôm, mang”, Thích Như Điển lại hiểu là “nhớ” vì vậy mới dịch rất bậy là “Ta nhớ lại tâm sợ hãi lo lắng”.

Ngoài ra, “oán thù” mà Thích Như Điển dịch là “sợ hãi lo lắng” thì quả là hết ý kiến!

4). Nguyên tác:

- “Vương toại dữ Long minh thiết yếu khế, hậu canh hữu phạm, tất bất tương xả!”.

- “Nhà vua liền với Long vương lập 1 giao ước quan trọng là sau này nếu Long vương lại phạm nữa thì chắc chắn nhà vua sẽ không tha”.

Thích Như Điển lại dịch rất ngu ngơ, chẳng ra đầu cua tai nheo gì cả:

- “Vua lùi bước và rồng minh thị rằng nếu ai phạm thì không xứng đáng”. 

~ Nguyên tác:

- “Vương kim cánh lập già lam, bất cảm tồi hủy. Mỗi khiển nhất nhân hậu vọng sơn  lãnh, hắc vân nhược khởi, cấp kích kiên trùy, ngã văn kỳ thanh, ác tâm  đương tức!

Kỳ vương ư thị canh tu già lam, kiến toát đổ ba, hậu vọng vân khí ư kim bất tuyệt”. 

- “Bây giờ nếu nhà vua có xây dựng Chùa chiền, tôi không dám phá hủy nữa! Xin nhà vuasai 1 người (thường) quan sát đỉnh núi, hễthấy mây đen nổi lên thì mau mau gióng trống, khua chiêng! Tôi mà nghe tiếng này thì ác tâm liền dứt!

Nhà vua do đó cho sửa sang lại Chùa, xây Tháp Phật, cho người quan sát hơi mây, sự việc này cho đến nay vẫn không dứt”.  

Thích Như Điển dịch bậy là:

- “Nay vua làm chùa, đừng hủy hoại nữa. Mỗi người chúng ta nên trở về núi, nếu có mây đen nổi lên thì nên thối lui. Ta nghe tiếng rằng do tâm ác kia mà vua này tu phước kiến tạo Già Lam, Bảo Tháp, hầu muốn mưa gió không dứt”.  

Những cái sai của Thích Như Điển trong đoạn trên:

1). Nguyên tác:

- “Vương kim cánh lập già lam, bất cảm tồi hủy!”.

- “Bây giờ nhà vua có xây dựng Chùa chiền, tôi không dám phá hủy nữa!”.

Thích Như Điển lại dịch quá bậy là: 

- “Nay vua làm chùa, đừng hủy hoại nữa!”.

2). Nguyên tác:

 “Mỗi khiển nhất nhân hậu vọng sơn lãnh, hắc vân nhược khởi, cấp kích kiên trùy, ngã  văn kỳ thanh, ác tâm  đương tức!”.

- “Xin nhà vuasai một người (thường) quan sát đỉnh núi, hễthấy mây đen nổi lên thìmau mau gióng trống, khua chiêng! Tôi mà nghe tiếng này thì ác tâm liền dứt!”.

Thích Như Điển dịch vừa bậy lại vừa thiếu :

- “Mỗi người chúng ta nên trở về núi, nếu có mây đen nổi lên thì nên thối lui”.

Thích Như Điển dịch thiếu các câu:

- “cấp kích kiên trùy” và “ngã văn kỳ thanh ác tâm đương tức”.

< Câu đầu tiên>: “Mỗi khiển nhất nhân hậu vọng sơn lãnh” mà Thích Như Điển dịch là “Mỗi người chúng ta nên trở về núi” thì tội lỗi quá!

Thích Như Điển dịch màđầu óc rỗng tuếch,không rỗng thì cũngđặc sệt, chẳng có đến suy nghĩ, dịch “nếu có mây đen nổi lên thì nên thối lui”. Ai thối lui đây?

3). Nguyên tác:

- “Kỳ vương ư thị canh tu già lam, kiến toát đổ ba, hậu vọng vân khí ư kim bất tuyệt”.

- “Nhà vua do đó sửa sang lại Chùa, xây Tháp Phật, cho người quan sát hơi mây, sự việc này cho đến nay vẫn không dứt”.

(Nói “sự việc này” tức chỉ việc “quan sát hơi mây”).

Thích Như Điển lại dịch bậy không thể tưởng được là:

- “Ta nghe tiếng rằng do tâm ác kia mà vua này tu phước kiến tạo Già Lam, Bảo Tháp, hầu muốn mưa gió không dứt”.

~ Nguyên tác:  

- “Văn chư tiên chí:

< Toát đổ ba trung hữu Như Lai cốt nhục Xá lợi, khả nhất thăng dư, thần biến chi sự nan dĩ tường thuật! Nhất thời trung toát đổ ba nội hốt hữu yên khởi, thiểu gian tiện xuất mãnh diệm, thời nhân vị toát đổ ba dĩ tòng hỏa tận. Chiêm ngưỡng lương cửu, hỏa diệt yên tiêu nãi kiến xá lợi, như bạch chu phan, tuần hoàn biểu trụ, uyển chuyển nhi thướng, thăng cao vân tế, oanh tuyền nhi há >”.

- “[Tôi] nghe các Ghi chép đời trước kể rằng:

< Trong ThápXá lợi của xương, thịt Như Lai, lượng cũng đến hơn một thăng! Các việc thần kỳ, biến hóa của những Xá lợi này (rất nhiều), khó mà kể cho hết! Có một lúc trong Tháp này bỗng đâu có khói bốc lên, (để rồi) một lúc không lâu sau đó thì lửa bốc cháy bừng bừng! Lúc ấy, người ta cho là Tháp đã bị lửathiêu ra tro. (Mọi người) đứng coi một hồi thật lâu, tới chừng khói tan, lửa tàn mới thấy Xá lợi (phát ra ánh sáng, tạo thành một phiến trắng) như một lá cờ màu ngọc trai trắng, lượn vòng quanh cây cột ở phía ngoài [Chùa], uyển chuyển vút lên tận ven mây, bay lượn vòng vòng giữa khoảng không rồi hạ xuống >”.

Thích Như Điển dịch như sau:

- “Nghe tục lệ chép lại rằng: Nơi bảo tháp kia có nhục cốt xá lợi của Như Lai có thể hơn một thăng, biến hóa vô cùng khó nói hết được, có lúc ở trong tháp nầy có khói phát ra, từ cửa nhỏ phát ra khói lớn . Lúc đó có người nghi rằng tháp kia tự bốc cháy. Chiêm ngưỡng lâu thì lửa tắt khói tiêu. Lại thấy Xá Lợi trắng như lưu ly trở vào nơi bátthăng lên không trung, thăng lên trên cao rồi hạ xuống trở lại”.

Những cái sai của Thích Như Điển trong đoạn dịch trên đây:

1). Nguyên tác: “Văn chư tiên chí viết:”. ([Tôi] nghe các Ghi chép đời trước kể rằng:).

Thích Nhi Điển dịch bậy là: “Nghe tục lệ chép lại rằng:”.

2).Nguyên tác nói khói từ bên trong Tháp “bỗng đâu” (hốt) bốc lên.

Thích Như Điển dịch thiếu chữ “hốt” này.

3). Nguyên tác nói “một lúc không lâu” (thiểu gian).

Thích Như Điển dịch thiếu 2 chữ “thiểu gian” này.

4). Nguyên tác nói “thời nhân vị toát đổ ba dĩ tòng hỏa tận”.

Thích Như Điển dịch bậy là “Lúc đó có người nghi rằng tháp kia tự bốc cháy”.

Nguyên tác không có chữ nào có nghĩa là “nghi rằng”, cũng không có câu nào kể rằng Tháp “tự bốc cháy” cả!

5). Câu “từ cửa nhỏ phát ra khói lớn” của Thích Như Điển không rõ dịch từ cõi nào?

Trong nguyên tác không có chữ nào là “cửa nhỏ” hết!

6). Thích Như Điển dịch “Chiêm ngưỡng lâu”.

Tiếng Việt Thích Như Điển còn chưa rành thì nói chi đến chữ Hán!

Trong tiếng Việt, không ai nói là “chiêm ngưỡng một đám cháy”, hoặc “chiêm ngưỡng một đám đánh nhau” cả! Nếu có, cũng chỉ một mình Thích Như Điển nói!

7). Nguyên tác: “nãi kiến xá lợi, như bạch chu phan, tuần hoàn biểu trụ”.

Câu này Thích Như Điển dịch bậy là: “Lại thấy Xá Lợi trắng như lưu ly trở vào nơi bát”.

Nguyên tác không có chữ nào là “lưu ly”, cũng không có chữ nào là cái “bát” cả!  

8). Nguyên tác: “tuần hoàn biểu trụ” (lượn vòng quanh cây cột ở phía ngoài [Chùa]).

Thích Như Điển dịch thiếu câu này!

Tạm kết.

Qua mấy chục trang phê bình trên đây độc giả có thể - chắc thì đúng hơn, về trình độ  Hán văn của Thích Như Điển.

(1). Phiên âm.

Phiên âm Hán Việt thì “Chữ Tác đánh ra chữ Tộ, chữ Ngộ độ ra chữ Quá” - tóm lại là những lỗi loại “Lỗ Ngư, Hợi Thỉ”, nhìn lộn chữ này qua chữ kia, rồi thấy khá nhiều trong bản dịch của Thích Nh ư Điển.

(2). Phiên dịch.

Phiên dịch thì dịch thiếudịch sai thì tràn lan trong bản dịch của Thích Như Điển.

~ Dịch thiếu, vì trình độ Hán văncủa Thích Như Điển rất thấp, chỗ nào không hiểu - và liệu là dịch ẩu không được, thì Thích Như Điển lờ luôn không dịch.

~ Dịch sai vì hiểu chưa tới mà cứ tưởng là đã hiểu tới, do đó dịch sai.

Đại khái có thể liệt Thích Như Điển vào hạng mà Phật gọi là “tăng thượng mạn”.

Ngoài ra, qua những đoạn, những câu, những chữ dịch thiếu - và tất cả đều liên quan những sự, những vật, những việc........... rất thông thường, rất giản dị - thấy dài dài và rất nhiều trong bản dịch của Thích Nh ư Điển - tôi có điều ngờ rằng Thích Như Điển đã không dịch cuốn “Đại Đường Tây Vực Ký” từ nguyên tác Hán văn như ông ta đề rõ ở đầu bản dịch: “Thích Như Điển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt”.

Trong “Lời tựa” cho bản dịch “Đại Đường Tây Vực Ký”, Thích Như Điển viết:

- “Quý vị đang cầm trên tay quyển “Đại Đường Tây Vức Ký” được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.

Xin tạ ơn Tam bảo đã soi chiếu cho chúng con để lần dò từng câu văn từng ý chữ mà ngài Huyền Trang, mọt bậc danh tăng đời Đường đã thể hiện trọn vẹn hết tâm ý khi đi chiêm bái, học hỏi và ghi lại nơi Thánh Địa ròng rã 17 năm trời...…”.

.........................................................…

Chúng tôi được một điều là biết thêm tiếng Nhật, cho nên việc tra cứu có phần dễ hơn một ít. Riêng chữ Hán nào không rõ thì phải tra tự điển cùng với Thầy Đồng Văn để làm cho rõ nghĩa trước khi dịch. Thầy Đồng Văn biết nhiều chữ Hán và đã tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học ở Ấn Độ năm 2001 tại Đại Học New Delhi nên những phong tục tập quán và địa danh Thầy ấy tương đối rành rẽ.

Sau khi dịch xong chúng tôi trao qua Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, bào huynh của tôi cũng đã tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo Thiền Tào Động (Komazawa) tại Nhật để xem lại cho thật kỹ một lần nữa, trước khi cho in thành sách. Cho nên có thể tin tưởng thêm một phần lớn của dịch phẩm này. Thêm vào đó, Hạnh Giới là đệ tử xuất gia của tôi cũng mới vừa tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học về Tôn Giáo và Ngôn Ngữ Học tại Đại Học Hannover, Đức Quốc cũng đã phụ lực trong việc đánh máy, tham cứu bài vở.......…”.

(Trang 1 và trang 8).

Tôi không rõ Tam Bảo nào lại chứng cho những kẻ như bộ 4 Thích Như Điển trên đây!

Không cố gắng học hỏi, trình độ kém cỏi, và cũng chỉ vì háo danh mà đilàm một việc  vượt quá khả năng mình rất xa, tôi tới không rõ Tam Bảo nào mà chứng cho những hạng như thế! Cũng chẳng khác nào không tu mà muốn Phật độ về cõi Diệu Độ!

Muốn được Tam Bảo chứng cho trong những việc làm như dịch bộ “Tây Vực Ký” này thì cốmàhọc thêm Hán văn thật nhiều nữa, Thích Như Điển!

Được 2 ông Tiến Sĩ Phật Học, 1 ông Tiến Sĩ Ngôn Ngữ Học trợ giúp vậy mà kiến thức Nội học căn bảntrong bản dịch thì quá tệ, Văn chương của bản dịch thì lộn xà lộn xộn như một đống xà bần, ngây nga ngây ngô, viết như 1 kẻ mê sảng, đọc đến nhức đầu!  

~ Cuối bài “Lời tựa” cho bản dịch của mình Thích Như Điển có ghi lại mấy câu in rất là đậm như sau:

                      Dịch Kinh công đức thù thắng hạnh

                      Vô biên thắng phước đều hồi hướng

                      Khắp nguyện chúng sanh trong Pháp Giới

                      Đều được vãng sanh về Cực Lạc

~ Một bản dịch tồi tệ như bản dịch đây của Thích Như Điển mà Thích Như Điển còn   nói bản dịch của mình là “công đức thù thắng hạnh”, là “vô biên thắng phước”! Ô hô! Thích Như Điển đúngvô minh, không phân biệt đâu là “Tội / Phước”! Tôi biết chắc bản dịch bộ “Tây Vực Ký” này đưa về Chùa Viên Giác chắc Thích Như Điển tha hồ mà khoe khoang “tài” (ngu dốt) Hán văn của mình!

Thích Như Điển rồi làm nhục vị Tổ của Duy Thức tông với một bản dịch tồi tệ như vậy!

Với một bản dịch vừa sai vừa lầm, vừa thiếu sót như bản dịch của Thích Như Điển đây Phật tử Chùa Viên Giác - đây là chưa nói những người khác nữa, đọc rồi sẽ ôm trọn những sai, lầm đó! Vậy mà, Thích Như Điển còn dám mở miệng tự ca tụng một cách xấc láo là mình có “thắng hạnh”, “thắng phước”. 

Thích Như Điển đúng là mù mờ thế nào là “Tội”, thế nào là “Phước”!

Hay là Thích Như Điển nghĩ  “chư pháp đoạn diệt .

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 15 December, 2010 9:43