Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Diễn đàn - Lưu bút

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo

Minh Di - Tạp chí Dân Văn

Phê bình sách dịch Đại Đường Tây Vực Ký

Kỳ 4

Tiếp theo đoạn trên nguyên tác tự thuật:

- “Đại Thành Đôngtam, tứ lí, Bắc sơn hạ hữu đại già lam, tăng đồ tam bách dư nhân, tịnh học Tiểu Thừa pháp giáo. Văn chư tiên Chí viết:

~ Tích Kiền Đà La Quốc Ca Nị Sắc Ca vương uy bị lân quốc, hóa hợp viễn phương, trị binh quảng địa chí Thông Lãnh Đông, Hà Tây phiên duy úy uy tống chất! Ca Nị SắcCa vương kí đắc Chất tử, đặc gia lễ mệnh, hàn, thử cải quán, ĐôngẤn Độ chư quốc, Hạ hoàn Ca Tất Thí quốc, Xuân, Thu chỉ Kiền Đà La quốc. Cố Chất tử tam thời trú xứ các kiến già lam.

Kim thử già lam tức Hạ cư chi sở kiến dã. Cố chư ốc bích đồ họa Chất tử, dung mạo phục sức, phả đồng Trung Hạ. Kỳ hậu đắc hoàn bản quốc, tâm tồn cố cư, tuy trở sơn xuyên, bất thế cung dưỡng. Cố kim tăng chúng mỗi chí nhập An Cư, giải An Cư, đại hưng Pháp hội, vị chư Chất tử kỳ phúc thụ thiện, tương kế bất tuyệt, dĩ chí vu kim.

Già lam Phật Viện Đông môn Nam Đại Thần Vương tượng hữu túc hạ, khảm địa tàng bảo, Chất tử chi sở tàng dã! Cố kỳ Minh viết: “Già lam hủ hoại, thủ dĩ tu trị”.

Cận hữu biên vương, tham lam hung bạo, văn thử già lam đa tàng trân bảo, khu trục tăng đồ, phương sự phát quật. Thần vương quan trung anh vũ nãi phấn vũ kinh minh, địa vi chấn động. Vương cập quân nhân, tịch dịch cương phó, cửu nhi đắc khởi, tạ cữu dĩ qui.

Già lam Bắc lãnh thượng hữu sổ thạch thất, Chất tử tập định chi xứ dã, kì trung đa tàng tạp bảo. Kỳ trắc hữu Minh, Dược Xoa thủ vệ. Hữu dục khai phát thủ trung bảo giả, thử Dược Xoa thần biến hiện dị hình, hoặc tác sư tử, hoặc tác mãng xà, mãnh thú độc trùng thù hình chấn nộ, dĩ cố vô nhân cảm đắc công phát.

Thạch thất Tây nhị, tam lí đại sơn lãnh thượng hữu Quán Tự Tại Bồ Tát tượng. Hữu nhân chí thành nguyện kiến giả, Bồ Tát tòng kỳ Tượng trung xuất diệu sắc thân, an úy hành giả ”.

Đại Đường Tây Vực Ký. Qu. I. Ca Tất Thí Quốc. Chất tử Già lam  /.

Thích Như Điển dịch:

- “Thành lớn phía đông hơn ba dặm tư, dưới chân núi phía bắc cũng có một đại Già Lam, Tăng tín đồ hơn 300 người. Họ tin theo Tiểu Thừa giáo. Nghe người xưa nói lại rằng đây là nước Kiền Đà La của vua Ca Nị Sắc Ca uy hiếp lân bang chinh phục những nuớc ở xa, bình lính dàn trải cho đến dãy núi phía đông. Và vượt sông sang phía tây để uy hiếp tiếp tục. Vua Ca Nị Sắc Ca được toại nguyện, xây dựng cung điện ở nhiều nơi theo mùa nóng và lạnh. Mùa đông ở các nước ở Ấn Độ, mùa hè trở về Ca Tất Thí. Mùa xuân và mùa thu thì đến kiến thiết nước Kiền Đà La. Nhà vua nầy chia cách sinh hoạt làm ba nơi, kiến tạo Già Lam và những Già Lam nầy là chỗ ở mùa hạ vậy. Trên tường của những nơi nầy có những bức họa dung nhan phục sức khác nhau, giữa mùa hạ, trở lại bổn quốc để dưỡng tâm. Tuy cách trở giang sơn nhưng vẫn phát tâm cúng dường cho tăng chúng trong mùa an cư kiết hạ. Tổ chức nhiều trai đàn pháp hội để cầu phước bố thí, điều đó luôn luôn được diễn ra, không bao giờ ngừng nghỉ. Chùa Viện ở cửa đông có tạo nên tượng Nam Thần Đại Vương. Chân bên phải có những vật quý, có nghĩa rằng người nầy giữ gìn cho Già Lam. Tướng của vị nầy rất hung bạo. Nghe chùa nầy có nhiều của quý, được tồn trữ, nên nhiều người muốn khai quật. Các tượng thần vương cũng có hình chim oanh vũ, có cất được tiếng kêu. Đất nơi đây có thể giao động. Nhà vua và quân lính đến nơi đây thì trở lại an ổn và lại ra về.

Phía bắc Già Lam nầy có núi cao, và trong núi ấy có nhiều phòng ốc bằng đá, dùngđể học tập. Trong nầy cũng có chứa nhiều của quý. Ở trong nầy cũng có bảo tồn những loài thuốc quý, nếu có ai muốn khai quật lấy đi bảo vật, thì thuốc nầy sẽ được biến hiện khác hình hoặc trở thành Sư Tử, hoặc trở thành mãng xà mãnh hổ độc trùng, hình thù biến dị cho nên chẳng có người nào có thể lấy được. Từ những động đá nầy hơn bốn trăm hai mươi ba dặm, đến núi cao và trên ấy có tượng đức Quán Tự Tại Bồ Tát, người nào có lòng thành sẽ thấy được. Bồ Tát từ nơi tượng nầy phát xuất ra những màu sắc vi diệu để an ủi những người muốn cầu”.

(trang 50, 51).  

Minh Di.

- “Phía Đông Kinh thành 3, 4 dặm, dưới chân  núi phía Bắc, có ngôi Chùa lớn, tăng đồ hơn 300 người, tất cả tu tập theo Pháp Tiểu Thừa. [Tôi] nghe các Ghi chép đời trước nói rằng:

~ Xưa kia Vua nước Kiền Đà LaCa Nị Sắc Ca uy thế bao trùm các nước láng giềng

Thần phục các nước xa xôi, đưa quân đến tận phía Đông dãy Thông Lãnh. Các nước chung quanh, ở mạn Tây sông, sợ uy, gởi Con tin đến Kiền Đà La! Vua Ca Nị Sắc Ca được Con tin thì đối đãi đặc biệt, đúng lễ, (tùy) mùa lạnh, mùa nóng mà đổi chỗ cho các Con tin này, mùa Đông thì các nước ở Ấn Độ, mùa trở về nước Ca Tất Thí, mùa Xuân, mùa Thu thì ở nước Kiền Đà La. Cho nên tại các nơi cư trú 3 Mùa của các Con tin (vua Ca Nị Sắc Ca) nơi nào cũng cho xây Chùa.

Nay như Chùa này tức là Chùa được xây tại chỗ ở mùa Hè của các Con tin. Cho nên những tranh vẽ hình các Con tin trên các vách phòng, từ dung mạo, cho đến phục sức rất giống Trung Quốc. Sau này lúc được trở về nước mình mà lòng vẫn hoài niệm chỗ ở xưa kia, (cho nên) tuy sông núi cách trở nhưng việc cúng dường (cho Chùa này) vẫn không bỏ! Cho nên hiện nay tăng chúng mỗi lần vào mùa An Cư, và kết mùa AnCư thì tưng bừng tổ chức Pháp hội, vì các Con tin (xưa kia) mà cầu phúc, trồng thiện căn, và (việc cầu phúc này) vẫn tiếp nối không thôi, cho đến ngày nay!

Ở Cổng bên mặt Đông của Phật Viện của Chùa, ở dưới chân phải của tượng Nam Đại Thần Vương, có đào một cái hầm chôn giữ các vật quí, đây là những vật quí của các Con tin cất giữ. Cho nên lời khắc viết: “Già lam mục nát, lấy của này sửa”.

Gần đây có ông vua ởvùng xa, là người tham lam, hung bạo, nghe nói ở Chùa này có chôn nhiều vật quí cho nên tới đuổi các tăng đi để đào lấy vật quí. Con chim két khắc ở giữa cái mão của tượng Thần liền đập cánh kêu kinh hoảng, đất do đó chấn động! Ông vua này và quân binh ngã lăn ra đất, lâu lắm mới chỗi dậy được, tạ lỗi mà trở về.

Trên núi phía Bắc của Chùa có mấy căn nhà đá, là nơi các Con tin tập thiền định, trong những căn nhà đá này cất giữ nhiều loại vật quí! Bên cạnh (những thứ này) khắc mấy chữ “Dược Xoa Thủ Vệ”! Nếu người nào muốn mở cửa nhà đá vào lấy vật quí thì Thần Dạ xoa này rồi biến hiện nhiều hình tướng kỳ dị, hoặc hiện hình sư tử, hoặc hiện hình mãng xà, thú dữ, độc trùng, các hình thù quái dị với vẻ giận dữ, vì những việc này màkhông một người nào dám phá nhà đá vào lấy bảo vật!

Phía Tây các nhà đá 2, 3 dặm, trên đỉnh núi lớn, có tượng Quán Tự Tại Bồ Tát. Nếu có người tâm chí thành, nguyện được thấy Bồ Tát thì Bồ Tát liền từ trong thân tượng hiện ra diệu sắc thân vỗ về người tới đây ước nguyện”.

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

Trước hết, như tiêu đềnội dung cho thấy, đây là một ngôi Chùa vua Ca Nị Sắc Ca nước Kiền Đà La xây cho các “Con tin” đến từ các nước khác, nói hơn là các nước thần phục nước Kiền Đà La. Thế nhưng, Thích Như Điển lại chẳng thấy gì hết!

Con tin thường là con vua, hoặc là một nhân vật quan trọng của một nước. Thường là nước mạnh bắt nước yếu đưa con tin qua để kiềm chế, thế nhưng cũng trường hợp nước mạnh gởi con tin qua nước yếu như là một ân huệ, chẳng hạn Tần Trang Tương vương qua làm con tin nước Triệu thời Chiến Quốc (403 - 221 tr. Cn) ở Trung Quốc.

~ Nguyên tác: “trị binh quảng địa chí Thông Lãnh Đông”.

- “đưa quân đến tận phía Đông dãy Thông Lãnh”.

Thích Như Điển dịch là “binh lính dàn trải cho đến dãy núi phía đông”.

Dãy núi phía đông tên là gì đây, Thích Như Điển?

~ Nguyên tác: “Hà Tây phiên duy úy uy tống chất”.

- “Các nước chung quanh, ở mạn Tây sông, sợ uy, gởi Con tin đến Kiền Đà La!”.

Thích Như Điển lại dịch ngu ngơ là “Và vượt sông sang phía tây để uy hiếp tiếp tục”.

~ Nguyên tác: “Ca Nị SắcCa vương kí đắc chất tử, đặc gia lễ mệnh, hàn, thửcải quán, Đông Ấn Độ chư quốc, Hạ hoàn Ca Tất Thí quốc, Xuân, Thu chỉ Kiền Đà La quốc. Cố Chất tử tam thời trú xứ các kiến già lam”.

- “Vua Ca Nị Sắc Ca được con tin thì đối đãi đặc biệt, đúng lễ, (tùy) mùa lạnh, mùa nóng mà đổi chỗ cho các Con tin này, mùa Đông thì các nước ở Ấn Độ, mùa trở về nước Ca Tất Thí, mùa Xuân, mùa Thu thì ở nước Kiền Đà La. Cho nên tại các nơi cư trú 3 Mùa của các Con tin (vua Ca Nị Sắc Ca) nơi nào cũng cho xây Chùa”.

Cả đoạn này Thích Như Điển dịch càng ngu ngơ hơn:

- “Vua Ca Nị Sắc Ca được toại nguyện, xây dựng cung điện ở nhiều nơi theo mùa nóng và lạnh. Mùa đông ở các nước ở Ấn Độ, mùa hè trở về Ca Tất Thí. Mùa xuân và mùa thu thì đến kiến thiết nước Kiền Đà La”. 

Thích Như Điển hãy cho biết:

1). Trong đoạn dẫn trên, chỗ nào nói tới vua Ca Nị Sắc Ca xây dựng “cung điện”?

2). Ở chỗ nào trong đoạn dẫn trên nói vua Ca Nị Sắc Ca “Mùa xuân và mùa thu thì đến kiến thiết nước Kiền Đà La”?

Và ở đoạn tiếp theo đó Thích Như Điển đều dịch bậy!

Như dịch văn của tôi cho thấy đoạn này tự thuật sinh hoạt của các Con tin từ các nước ở nước Kiền Đà La, nói tóm lại đoạn trên tự thuật về các con tin này, không có chỗ nào nói về sinh hoạt của vua Ca Nị Sắc Ca như Thích như Điển vì dốt quá nên dịch láo!

~ Nguyên tác: “Già lam Phật Viện Đông môn Nam Đại Thần Vương tượng hữu túc hạ khảm địa tàng bảo, Chất tử chi sở tàng dã! Cố kì minh viết: “Già lam hủ hoại, thủ dĩ tu trị”.

- “Ở Cổng bên mặt Đông của Phật Viện của Chùa, ở dưới chân phải của tượng Nam Đại Thần Vương, có đào một cái hầm chôn giữ các vật quí, đây là những vật quí của các Con tin cất giữ! Cho nên lời khắc viết: “Già lam mục nát, lấy của này sửa”. 

Đoạn trên đây Thích Như Điển dịch ba láp như sau:

- “Chùa Viện ở cửa đông có tạo nên tượng Nam Thần Đại Vương. Chân bên phải có những vật quý, có nghĩa rằng người nầy giữ gìn cho Già Lam”.

Đây là chưa nói 2 câu khắc “Già lam hủ hoại, thủ dĩ tu trị” ở chỗ chôn giấu các trân bảo rồi không thấy ở đâu cả trong phần dịch của Thích Như Điển!

Có lẽ không cần nói độc giả cũng thấy ngay cái ba láp của Thích Như Điển ở đây!

~ Nguyên tác: “Cận hữu biên vương, tham lam hung bạo, văn thử già lam đa tàng trân bảo, khu trục tăng đồ, phương sự phát quật. Thần vương quan trung anh vũ nãi phấn vũ kinh minh, địa vi chấn động. Vương cập quân nhân, tịch dịch cương phó, cửu nhi đắc khởi, tạ cữu dĩ qui”.

- “Gần đây có ông vua vùng xa, là người tham lam, hung bạo, nghe nói ở Chùa này có chôn nhiều vật quí cho nên tới đuổi các tăng đi để đào lấy vật quí! Con chim két khắc giữa cái mão của Tượng Thần liền đập cánh kêu kinh hoảng, đất do đó chấn động! Ông vua này và quân binh ngã lăn ra đất, lâu lắm mới chỗi dậy được, tạ lỗi mà trở về”.

Thích Như Điển dịch bậy như sau:

- “Tướng của vị nầy rất  hung bạo. Nghe chùa nầy có nhiều của quý, được tồn trữ, nên nhiều người muốn khai quật. Các tượng thần vương cũng hình chim oanh vũ, có cất được tiếng kêu. Đất nơi đây có thể giao động. Nhà vua và quân lính đến nơi đây thì trở lại an ổn và lại ra về”.

Ở đây, cũng không cần nói độc giả cũng nhận ra được cái DỐT, cái NÁT Hán văn của Thích Như Điển.

~ Nguyên tác: “Già lam Bắc lãnh thượng hữu sổ thạch thất, Chất tử tập định chi xứ dã”.

- “Trên núi phía Bắc của Chùa có mấy căn nhà đá, là nơi các Con tin tập thiền định”.

Thích Như Điển dịch bậy như sau:

- “Phía bắc Già Lam nầy núi cao, trong núi ấy nhiều phòng ốc bằng đá, dùng để học tập”.

~ Nguyên tác: “kỳ trung đa tàng tạp bảo. Kỳ trắc hữu minh, ‘Dược xoa thủ vệ’. Hữu dục khai phát thủ trung bảo giả, thử Dược xoa thần biến hiện dị hình...…”.

- “trong những căn nhà đá này cất giữ nhiều loại vật quí! Bên cạnh (những thứ này) khắc mấy chữ “Dược xoa thủ vệ”! Nếu người nào muốn mở cửa nhà đá vào lấy vật quí thì Thần Dạ xoa này rồi biến hiện nhiều hình tướng kỳ dị...…”. 

Thích Như Điển dịch bậy như sau:

- “Ở trong nầy cũng có bảo tồn những loài thuốc quý, nếu có ai muốn khai quật lấy đi bảo vật, thì thuốc nầy sẽ được biến hiện khác hình”.

Tôi đến không rõ Thích Như Điển tu hành thế nào, đọc Kinh Điển Phật giáo thế nào mà đến đỗi không biết được “Dược xoa” tức “Dạ xoa”, để rồi phóng tay dịch bậy, dịch bạ như hạng “thất tu”, dịch tiếng “Dược xoa” là “loài thuốc quý”!   

Lại nữa, Thích Như Điển còn thiếu “4 chữ khắc”bên cạnh những bảo vật trong nhà đá là “Dược xoa thủ vệ”, nghĩa là “Dạ xoa giữ và bảo vệ”.

Đinh Phúc Bảo (1874 - 1952) viết trong “Phật Học Đại Từ Điển”:

- “[Dạ Xoa]. (Dị loại). Yakṣa. Hoặc viết Duyệt xoa, tân tác Dược xoa, Dạ khất xoa, dịch ngôn “năng cảm Quỉ”, Tiệp tật Quỉ, Dũng kiện, Khinh tiệp, Bí mật đẳng.

Huyền Ứng Âm Nghĩa tam viết:

~ Duyệt xoa hoặc vân Dạ xoa giai ngoa dã, chính ngôn Dược xoa! Thử dịch vân ‘năng cảm Quỉ’ vị thực cảm nhân dã! Hựu vân ‘thương’ giả, vị năng thương hại nhân dã”.

-“[Dạ Xoa]. (Dị loại). Yakṣa. Cũng có các danh xưng như Duyệt xoa, tên mới gần đây được viết là Dược xoa, Dạ khất xoa, ngữ dịch là “Quỉ ăn thịt”, Tiệp tật Quỉ, Dũng kiện, Khinh tiệp, Bí mật.

Sách “Huyền Ứng Âm Nghĩa”, Quyển 3, viết:

~ Duyệt xoa, hay gọi Dạ xoa, đều sai, đúng gọi là Dược xoa! Phần ngữ dịch này gọi là ‘Quỉ ăn thịt’ (‘ăn thịt’ đây) ý nói ‘ăn thịt người’! Cũng lại nói là ‘(năng) thương (Quỉ)’, ý nói làm ‘thương tổn, hại người’.”.

Bộ “Phật Học Đại Từ Điển” nói trên còn trưng dẫn một số Kinh Điển Phật giáo nói về loài “Dược xoa” nhưng như thế đã đủ cho mọi người thấy cái dốt của Thích Như Điển!

~ Sau hết, nguyên tác viết: “Tượng trung xuất diệu sắc thân”.

Thích Như Điển dịch là “phát xuất ra những màu sắc vi diệu”.

Diệu sắc thân dịch là “màu sắc vi diệu” thì tôi đây chẳng rõ Thích Như Điển tu hành ra làm sao?

Tiếp theo Chùa của các Con tin (Chất tử Già lam) là một ngôi Chùa khác:

- “Đại Thành Đông nam tam thập dư lí, chí “Át La Hổ La Tăng Già Lam” - Bàng hữu Toát đổ ba, cao bách dư xích, hoặc chí Trai nhật, thời chúc quang minh. Phú bát thế thượng thạch khích gian lưu xuất hắc hương du. Tĩnh dạ trung thời văn âm nhạc chi thanh. Văn chư tiên chí viết:

~ Tích thử quốc đại thần Át La Hổ La chi sở kiến dã! Công kí thành dĩ, ư dạ mộng trung hữu nhân cáo viết:

- Nhữ sở kiến lập Toát đổ ba vị hữu Xá lợi. Minh đán hữu hiến thượng giả, nghi tòng vương thỉnh’.

Đán nhập triều tiến thỉnh viết:

- Bất lượng dung muội, cảm hữu nguyện cầu!.

Vương viết:

- Phu hà sở dục?

Đối viết:

- Kim nhật hữu tiên hiến giả, nguyện thùy ân tứ!

Vương viết: “Nhiên”!

Át Hổ La trữ lập Cung môn, chiêm vọng sở chí. Nga hữu nhất nhân trì Xá lợi bình.

Đại thần vấn viết:

- Dục hà hiến thượng?

Viết: “Phật Xá lợi”!

Đại thần viết:

- Ngô vị nhĩ thủ, nghi tiên bạch vương.

Át La Hổ La khủng vương trân quí Xá lợi, truy hối tiền ân, tật vãng già lam, đăng Toát đổ ba, chí thành sở cảm kì thạch phú bát tự khai, an trí xá lợi, dĩ nhi tật xuất, thượng câu y khâm!

Vương sử trục chi, thạch dĩ yểm hĩ!

Cố kì khích gian lưu hắc hương du”.

Thích Như Điển dịch:

- “Cách thành lớn từ phía đông nam hơn ba mươi dặm thì đến Tăng Già Lam Yết La Cổ La, nơi đó cũng có đại tháp cao hơn 100 thước. Khi đến giờ Ngọ trai thì đốt đèn, dùng đèn dầu để đốt ra màu khói đen. Vào đêm tối lại nghe âm nhạc. Chuyện xưa kể rằng đây là nơi được kiến thiết bởi vị Đại Thần Yết La Cổ La, sau khi xây thành xong nằm mộng thấy có người bảo rằng: Ngươi nên kiến lập bảo tháp, sau đó ắt có xá lợi. Ngày hôm sau quả nhiên như vậy có người hiến xá lợi. Nhà Vua đã cho thỉnh vào triều. Do chỗ cầu nguyện mà nhà vua muốn rằng nhà vua có trước. Vua bảo sau này sẽ làm một nơi để bái vọng tại nước Yết La Cổ La. Ta chỉ là một người mang Xá Lợi. Vị Đại Thần hỏi rằng:

- Cúng Xá Lợi nào?

Đáp:

- Xá Lợi của Phật

Vị Đại Thần nói:

- Hạ Thần đang giữ đây, xin tâu bệ hạ biết Nước Yết La Cổ La, sợ vua trân quý Xá Lợi mà không suy nghĩ. Do đó cho nên dựng xây già lam và bảo tháp.

Vì lẽ chí thành cho nên được cảm ứng, bát bằng đá kia tự mở nắp để an trí Xá Lợi vào. Khi an trí xong, niêm phong rồi bảo mọi người thối lui, đóng cửa đá lại. Từ đó sinh ra mùi hương dầu màu đen”.

(trang 51, 52).

Minh Di.

- “Đi vềphía Đông nam Kinh Thành hơn 30 dặm thì tới Chùa Át La Hổ La. Ở mé bên của Chùa có Tháp Phật cao hơn 100 thước, vào ngày Chay có lúc Tháp phát ánh sáng rỡ ràng. Từ một khe nứt trên vách đá của Cái Tháp dạng như cái bát úp này, rỉ ra một thứ dầu đen có mùi thơm. Vào những đêm tĩnh lặng đôi lúc rồi nghe có tiếng nhạc vang ra từ Tháp. [Tôi] nghe các Ghi chép đời trước nói rằng:

~ Tháp này xưa kia do Đại thần Át La Hổ La nước này xây! Tháp xây xong thì đêm đó trong giấc mộng có người nói với Át La Hổ La:

- Cái Tháp ngươi xây chưa có Xá lợi, sáng ngày mai sẽ có người dâng Xá lợi cho vua, ngươi nên xin vua Xá lợi đó!

Sáng hôm sau Át La Hổ La vào triều xin vua, nói rằng:

- (Hạ thần) không lượng là kẻ ngu muội bất tài, xin được thỉnh cầu bệ hạ một việc!

Nhà vua hỏi:

- Ông muốn xin điều chi?

Át La Hổ La trả lời:

- Ngày hôm nay nếu có ai dâng lên cái gì trước nhất thì xin bệ hạ ra ơn ban cho!

Nhà vua nói: “Được!”.

Át La Hổ La đứng trước cửa Cung một hồi lâu, ngóng trông coi có ai tới không. Sau đó chợt có một người cầm một bình Xá lợi đi tới.

Đại thần hỏi:

- Ngươi muốn dâng cái gì cho nhà vua?

Người kia trả lời: - Xá lợi Phật.

Đại thần nói:

- Đưa vật tiến dâng của ngươi cho ta giữ, ta phải báo trước cho vua biết!

Át La Hổ La sợ vua quí Xá lợi mà hối hận lời hứa ban cho mình cho nên vội vã chạy về Chùa, chạy lên Tháp, vì lòng chí thành cảm ứng, cửa của Tháp đá như cái Bát úp này  liền tự mở ra. An tríXá lợi xong Át La Hổ La chạy vội trở ra, có điều, vì vội quá cho nên cái vạt áo bị móc vướng lại.

Nhà vua cho người đuổi theo (lấy lại Xá lợi), tới nơi thì Tháp đã đóng!

Đó là lý do tại sao có cái khe nứt rỉ ra chất dầu màu đen có hương thơm này”.

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

~ Nguyên tác: “…hoặc chí Trai nhật, thời chúc quang minh. Phú bát thế thượng thạch khích gian lưu xuất hắc hương du”.

- “.... vào ngày Chay có lúc Tháp phát ánh sáng rỡ ràng. Từ một khe nứt trên vách đá của Cái Tháp dạng như cái bát úp này, rỉ ra một thứ dầu đen có mùi thơm”.

Vậy mà Thích Như Điển dịch lếu láo như sau:

- “Khi đến giờ Ngọ trai thì đốt đèn, dùng đèn dầu để đốt ra màu khói đen”. 

Cái “giờ Ngọ trai” nằm ở đâu trong đoạn nguyên tác trên đây, Thích Như Điển?

Cái “đèn dầu để đốt ra màu khói đen” ở chỗ nào trong đoạn trên đây, Thích Như Điển?

Và Thích Như Điển không hiểu 3 chữ “phú bát thế” là cái chi chi nên không dịch.

Phú bát thế nghĩa là “(tư thế như cái bát úp”, tức nói về hình dạng của Tháp.

~ Đoạn trên nói về việc xây Tháp, Thích Như Điển không hiểu cho nên mới có câu dịch  bậy bạ là “đây là nơi được kiến thiết bởi vị Đại Thần Yết La Cổ La ”.

Nói “đây là nơi” Thích Như Điển ý muốn nói là ngôi Chùa được Át La Hổ La xây. Sai!

~ Nguyên tác: “Công kí thành dĩ, ư dạ mộng trung hữu nhân cáo viết:

- Nhữ sở kiến lập Toát đổ ba vị hữu Xá lợi. Minh đán hữu hiến thượng giả, nghi tòng vương thỉnh’”.

- “Tháp xây xong thì đêm đó trong giấc mộng có người nói với Át La Hổ La:

- Cái Tháp ngươi xây chưa có Xá lợi, sáng ngày mai sẽ có người dâng Xá lợi cho vua, ngươi nên xin vua Xá lợi đó!”.

Thích Như Điển dịch láo như sau:

- “sau khi xây thành xong nằm mộng thấy có người bảo rằng: Ngươi nên kiến lập bảo tháp, sau đó ắt có xá lợi”.

~ “Do chỗ cầu nguyện mà nhà vua muốn rằng nhà vua có trước. Vua bảo sau này sẽ làm một nơi để bái vọng tại nước Yết La Cổ La. Ta chỉ là một người mang Xá Lợi. Vị Đại  Thần hỏi rằng:

- Cúng Xá Lợi nào? 

Đáp:

- Xá Lợi của Phật

Vị Đại Thần nói:

- Hạ Thần đang giữ đây, xin tâu bệ hạ biết Nước Yết La Cổ La, sợ vua trân quý Xá Lợi mà không suy nghĩ. Do đó cho nên dựng xây già lam và bảo tháp”.

Đối chiếu với nguyên tác độc giả thấy cả đoạn dịch này của Thích Như Điển là bá láp!

~ Nguyên tác: “Át La Hổ La khủng vương trân quí Xá lợi, truy hối tiền ân, tật vãng già lam, đăng Toát đổ ba, chí thành sở cảm kì thạch phú bát tự khai, an trí xá lợi, dĩ nhi tật xuất, thượng câu y khâm!

Vương sử trục chi, thạch dĩ yểm hĩ!

Cố kì khích gian lưu hắc hương du”.

- “Át La Hổ La sợ vua quí Xá lợi mà hối hận lời hứa ban cho mình cho nên vội vã chạy về Chùa, chạy lên Tháp, vì lòng chí thành cảm ứng, cửa của Tháp đá như cái Bát úp này  liền tự mở ra. An tríXá lợi xong Át La Hổ La chạy vội trở ra, có điều, vì vội quá cho nên cái vạt áo bị móc vướng lại.

Nhà vua cho người đuổi theo (lấy lại xá lợi), tới nơi thì Tháp đã đóng!

Đó là lý do tại sao có cái khe nứt rỉ ra chất dầu màu đen có hương thơm này”.

Vậy mà Thích Như Điển lại dịch láo như sau:

- “Hạ Thần đang giữ đây, xin tâu bệ hạ biết Nước Yết La Cổ La, sợ vua trân quý Xá Lợi mà không suy nghĩ. Do đó cho nên dựng xây già lam và bảo tháp.

Vì lẽ chí thành cho nên được cảm ứng, bát bằng đá kia tự mở nắp để an trí Xá Lợi vào. Khi an trí xong, niêm phong rồi bảo mọi người thối lui, đóng cửa đá lại. Từ đó sinh ra mùi hương dầu màu đen”.

Những câu dịch lếu láo của Thích Như Điển:

- “......... sợ vua trân quí xá lợi mà không suy nghĩ. Do đó cho nên dựng xây già lam và bảo tháp”.

> Không suy nghĩ cái chi đây? Vua dựng xây già lam và bảo tháp hồi nào đây?

- “bát bằng đá kia tự mở nắp để an trí Xá Lợi vào”.

> Bát bằng đá ở đâu ra đây, Thích Như Điển? 

Từ đầu nguyên tác đã mô tả cái Tháp đá của Chùa Át La Hổ La có dạng cái Bát úp.

Thích Như Điển không hiểu 2 chữ “Phú bát” (Bát úp) nghĩa là gì cho nên dịch bậy!

- “Khi an trí xong, niêm phong rồi bảo mọi người thối lui, đóng cửa đá lại. Từ đó sinh ra mùi hương dầu màu đen”.

> Nguyên tác nói “niêm phong” ở chỗ nào đây, Thích Như Điển chỉ ra coi? Nguyên tác nói Át Hổ Labảo mọi người thối luihồi nào đây? nói Át Hổ Lađóng cửa đá lạivào hồi nào đây, Thích Như Điển?

Nguyên tác.

- “Vương Thành Tây bắc nhị bách dư lí, chí Đại Tuyết Sơn, sơn đỉnh hữu trì, thỉnh vũ kỳ tình tùy cầu quả nguyện. Văn chư tiên chí viết:

~ Tích Kiền Đà La quốc hữu A La Hán, thường thụ thử trì Long vương cung dưỡng! Mỗi chí trung thực, dĩ thần thông lực tính tọa thằng sàng lăng hư nhi vãng. Thị giả sa di mật ư thằng sàng chi hạ phan viện tiềm ẩn, nhi A La Hán thời chí tiện vãng. Chí Longcung nãi kiến sa di. Long vương nhân thỉnh lưu thực. Long vương dĩ thiên cam lộ phạn A La Hán, dĩ nhân gian vị nhi soạn sa di. A La Hán phạn thực dĩ cật tiện vị Long vương thuyết chư Pháp yếu. Sa di như thường vị sư địch khí, khí hữu dư lập, hãi kì hương vị tứckhởi ác nguyện, hận sư, phẫn Long, “nguyện chư phước lực, ư kim tất hiện, đoạn thử Long mệnh, ngã tự vi vương”. Sa di phát thị nguyện thời, Long vương dĩ giác đầu thống hĩ! La Hán thuyết Pháp hối dụ, Long vương tạ cữu, trách cung! Sa di hoài phẫn vị tòng hối tạ. ~

Ký hoàn già lam chí thành phát nguyện, phúc lực sở trí, thị dạ mệnh chung, vi đại Long vương, uy mãnh phấn phát! Toại lai nhập trì, sát Long vương, cư Long cung, hữu kỳ bộ thuộc, tổng kỳ thống mệnh. Dĩ túc nguyện cố, hưng bạo phong vũ, tồi bạt thụ mộc dục hoại già lam!

Thời Ca Nị Sắc ca vương quái nhi phát vấn, kì A La Hán cụ dĩ bạch vương. Vương tức vị Long ư Tuyết Sơn hạ lập tăng già lam, kiến toát đổ ba, cao bách dư xích. Long hoài túc phẫn, toại phát phong vũ. Vương dĩ hoằng tế vi tâm, Long thừa sân độc tác bạo! Tăng già lam, Toát đổ ba lục hoại thất thành! Ca Nị Sắc Casỉ công bất thành, dục điền Long trì, hủy kỳ cư thất. Tức hưng binh chúng chí Tuyết Sơn hạ.

Thời bỉ Long vương thâm hoài chấn cụ, biến tác lão Bà la môn, khấu vương tượng nhi gián viết:

~ Đại vương túc thực THIỆN BẢN, đa chủng THẮNG NHÂN, đắc vi nhân vương, vô tư bất phục, kim nhật hà cố dữ Long giao tranh? Phù Long giả súc dã, ti hạ ác loại, nhiên hữu đại uy, bất khả lực cạnh; thừa vân ngự phong, đạp hư lí thủy, phi nhân lực sở chế, khởi vương tâm sở nộ tai? Vương kim cử quốc hưng binh dữ nhất Long đấu, thắng tắc vương vô phục viễn chi uy, bại tắc vương hữu phi địch chi sỉ! Vị vương kế giả, nghi khả qui binh!”.

Ca Nị Sắc Ca vương vị chi tòng giả, Long tức hoàn trì, thanh chấn lôi động, bạo phong bạt mộc, sa thạch như vũ, vân vụ hối minh, quân mã kinh hãi.

Vương nãi qui mệnh Tam Bảo, thỉnh cầu gia hộ, viết:

- Túc thực đa phúc, đắc vi nhân vương, uy nhiếp cường địch, thống Thiệm Bộ Châu kim vị Long súc sở khuất, thành nãi ngã chi bạc phúc dã! Nguyện chư phúc lực ư kim hiện tiền! 

Tức ư lưỡng kiên khởi đại yên diệm, Long thoái phong tĩnh, vụ quyển vân khai. Vương lệnh quân chúng nhân đảm nhất thạch, dụng điền Long trì.

Long vương hoàn tác Bà la môn, trùng thỉnh vương viết:

- Ngã thị bỉ trì Long vương, cụ uy qui mệnh, duy vương bi mẫn, xả kì tiền quá! Vương hàm dục, phú đáo sinh linh, như hà ư ngã, độc gia ác hại? Vương nhược sát ngã, ngã chi dữ vương câu đọa ác đạo! Vương hữu đoạn mệnh chi tội, ngã hoài oán thù chi tâm, nghiệp báo kiểu nhiên, thiện ác minh hĩ!

Vương toại dữ Long minh thiết yếu khế, hậu canh hữu phạm, tất bất tương xả.

Long viết:

- Ngã dĩ ác nghiệp, thụ thân vi Long, Long tính mãnh ác, bất năng tự trì, sân tâm hoặc khởi, đương vong sở chế. Vương kim cánh lập già lam, bất cảm tồi hủy. Mỗi khiển nhất nhân hậu vọng sơn lãnh, hắc vân nhược khởi, cấp kích kiên trùy, ngã văn kỳ thanh, ác tâm đương tức!

Kỳ vương ư thị canh tu già lam, kiến toát đổ ba, hậu vọng vân khí ư kim bất tuyệt”.

Thích Như Điển dịch:

- “…Vương thành phía tây bắc hơn 200 dặm thì đến núi Tuyết, trên đỉnh có hồ. Do sự cầu nguyện mà nước mưa luôn có. Nghe người xưa thuật lại rằng: xưa có vị A La Hán ở nước Kiền Đà La thường hay nhận sự cúng dường từ Long Vương ở ao hồ này. Mỗi ngày cho đến bữa ăn trưa hay dùng thần thông để ngồi trên giường bay qua lại nơi hư không. Các thị giả Sa Di đều được an ổn nơi ấy. Chỉ có vị A La Hán thì hay qua lại Long Cung. Khi gặp Sa Di, Long Vương mời ở lại dùng cơm. Long Vương dùng đồ ăn cam lồ của A La Hán biến thành hương vị của nhân gian cho vị Sa Di, A La Hán khi dùng cơm xong vì Long Vương mà thuyết các Pháp quan trọng. Sa Di như thường lệ vì Thầy mà rửa bát. Trong bát có dư hạt cơm có hương vị liền khởi lên niệm ác rằng hận Thầy và phẫn nộ với Long Vương. Nguyện cho các phước lực ngay bây giờ đoạn mất mệnh của Long Vương và ta tự làm vua. Khi Sa Di phát nguyện như vậy rồi thì Long Vương bị đau đầu. Khi A La Hán thuyết Pháp xong, Long Vương tạ lễ, Sa Di phẫn nộ vì chưa được có lời tạ nên trở lại Già Lamphát nguyện tiếp: nhờ phước lực mà đêm nay mệnh chung vì Đại Long Vương uy đức mà phát. Chờ vào nơi ao để sát hại Long Vương và ở luôn nơi Long Cung, để thống lĩnh tất cả mọi loài. Do lời nguyện đó mà mưa gió nổi dậy làm gẫy đổ cây cối và hại cả Già Lam. Cho nên Vua Ca Nị Sắc Ca kinh ngạc và hỏi rằng vị A La Hán nầy có phải là Vua không? Vị Vua đó tức là rồng đang ở trong núi tuyết, lập Tăng Già Lam kiến tạo bảo tháp cao hơn 100 thước. Rồng vì giận mà làm cho nổi mưa nổi gió. Vua vì có tâm hoằng truyền Phật Pháp, rồng sân hận mà làm dữ, nên chùa viện và bảo tháp sáu cái bị hư biến thành bảy. Vua Ca sắc Nị Ca xấu hổ vì chẳng thành công nên muốn trấn hồ rông nầy để làm chỗ cư ngụ. Cho nên đã đem binh lính đến dưới núi Tuyết Sơn. Lúc ấy bị Long Vương nhớ lại chuyện xưa làm chấn động biến thành một người Bà La Môn già lạy Vua mà trần tình rằng: Đại Vương ngày xưa đã trồng nhiều căn lành nhiều loại khác nhau cho nên thắng vậy. Được làm vua trên đời, chẳng có ý niệm báo ân. Ngày hôm nay, vì cớ sao mà giao tranh với Long Vương. Phàm là rồng thuộc về loại súc sanh vậy, cũng thuộc loài ác. Vì sao mà uy lực không đủ để cạnh tranh, như hô phong hoán vũ để có nước mà người thường không làm được. Há rằng tâm vua vẫn còn phẫn nộ sao? Vua bây giờ vừa vừa cầm nước vừa cầm binh cùng chiến đấu với một con rồng, sự thắng chắc thuộc về vua, không còn xa xôi gì nữa. Do vậy mà vua cũng không có gì xấu hổ, cho nên Vua lập kế rút binh. Về sau trở thành Vua Ca Nị Sắc Ca vậy. Rồng cũng trở lại hồ nghe được âm thanh chấn động, gió mưa cuồn cuộn làm cho cây cối đất đá lung lay, mưa rơi nặng hạt .

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 15 December, 2010 9:39