Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Diễn đàn - Lưu bút

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

 

Biên Khảo

Minh Di - Tạp chí Dân Văn

Phê bình sách dịch Đại Đường Tây Vực Ký

Kỳ 3

~ Nguyên tác nói “chúng bảo trắc sức” nghĩa là “các vật quí trang trí ở 2 bên”, vậy mà Thích Như Điển lại dịch thiếu là “Trong đó trang trí nhiều đồ quý”, thiếu mất ý “2 bên”.

Ở đây Đại Đường Tây Vực Ký tự thuật về vị trí bày biện các vật trong Phật tháp: 

- “các vật quí trang trí ở 2 bên”, trong khi đó “ở giữa để xá lợi”, tự thuật rất phân minh.

Liền theo đó là Câu “thời chúc linh quang” (“thường phát ra ánh sáng linh thiêng”), và Thích Như Điển đã không dịch câu này, không hiểu để mà dịch thì đúng hơn!

~ Nguyên tác viết rõ là “chư La Hán”, tức có nhiều vị La Hán, thế mà Thích Như Điển lại dịch là “có vị A La Hán” - tức là chỉ có một người. Chữ “chư” ở đây nghĩa là gì đây Thích  Nh ư Điển, tra lại Từ điển đi!

~ Nguyên tác nói là “.… chư toát đổ ba, cơ tích tương lân, số bách dư hĩ!” - có nghĩa là “.… nền cũ của những tháp (này) nằm gần nhau, tính đến hơn trăm Tháp”.

Cơ tích là “dấu tích của nền (tháp)”.

Câu trên đây trong “Đại Đường Tây Vực Ký” rồi không thấy đâu cả trong dịch văn của Thích Như Điển. 

Và không chỉ ở đây mà dài dài trong bản dịch, ở đâu cũng thế Thích Nh ư Điển lúc nào cũng dịch thiếu không 1 câu thì cũng vài ba câu như vậy!

Lại ở một đoạn khác:

- “ĐẠI THÀNH tây bắc ngũ thập dư lý, chí Đề Vị Thành - Thành bắc tứ thập dư lý hữu Ba Lị Thành. Thành trung các hữu nhất Toát đổ ba, cao dư tam trượng”.

/  Sđd trên. Qu. I. Phược Át quốc. Đề Vị Thành cập Ba Lị Thành  /.

Thích Như Điển dịch:

       - “Chu vi thành hơn 50 dặm. Tiếp đến là thành khác. Thành phía bắc hơn 40 dặm. Tiếp đó có thành Ba Lợi. Ở trong thành có một ngôi tháp cao 3 thước”.

(trang 46).

Minh Di.

- “(Đi về) phía tây bắc THÀNH LỚN hơn 50 dặm thì tới Thành Đề Vị - phía bắc Thành  hơn 40 dặm có Thành Ba Lị. (2 Thành này) trong mỗi Thành đều có 1 Tháp Phật, cao hơn 3 trượng”.

[Phụ chú. Thời Đường, 1 Trượng = 10 xích = 0.311 m x 10 = 3.11 m.

Tháp cao 3 trượng là cao 3.11 m x 3 = 9.33 m].

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

Thích Như Điển dịch sai, dịch thiếu lung tung!

~ Không hiểu sao mà trong đoạn dịch văn trên đây của Thích Như Điển lại không thấy Đại Thành (Kinh Thành), không thấy Thành Đề Vị?

Nói “hơn 50 dặm” là nói khoảng cách từ Kinh đô nước Phược Át tới thành Đề Vị.

~ Cứ so 2 câu “Chu vi thành hơn 50 dặm. Tiếp đến là thành khác” Thích Như Điển dịch trên đây với nguyên tác thì thấy chẳng ăn nhập với những gì nguyên tác viết cả!

Nguyên tác tự thuật rành rành 2 tòa thành, một là Đề Vị, hai là Ba Lị (Ba Lợi).

Và chẳng rõ Thích Như Điển dịch ra làm sao mà chỉ còn có một Thành Ba Lị. Lại nữa về thành này dịch cũng sai: 

Nguyên tác nói là trong thành Ba Lị có một cái “Tháp cao 3 trượng” - mà không phải là tháp “cao 3 thước” như Thích Như Điển dịch ba láp! Ba láp vì Thích Như Điển mù tịt về hệ thống đo lường thời Huyền Trang.

Coi kỹ lại đi Thích Như Điển, là 3 trượng, chứ không phải là 3 thước!

Như đã nói, 1 thước (xích) thời Đường = 0.311 m.

Dịch như Thích Như Điển thì “tháp cao 3 thước” là cao: 0.311 m x 3 = 0.933 m - tức là chưa đến 1 thước (1 m)! Ô hô!

Nguyên tác. Yết Chức Quốc   32 / 34.

- “Yết Chức Quốc Đông Tây ngũ bách dư lí, Nam Bắc tam bách dư lí. Quốc đại đô thành chu tứ, ngũ lí. Thổ địa khao hạc, lăng phụ liên thuộc. Thiểu hoa quả, đa thục mạch. Khí tự hàn liệt, phong tục cương mãnh! Già Lam thập dư sở, tăng đồ tam bách dư nhân, tịnh học Tiểu Thừa giáo Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ”.

/  Sđd. Qu. I. Yết Chức Quốc  /.

Thích Như Điển dịch:

- “Nước Yết Chức đông tây hơn 500 dặm; nam bắc hơn 300 dặm. Đô thành chu vi 45 dặm. Đất đai phì nhiêu nhưng ít hoa quả, nhiều lúa mạch. Khí hậu lạnh, phong tục lành mạnh. Có hơn 10 cảnh chùa. Tăng tín đồ trên 300 người. Họ theo phái Tiểu Thừa thuộc Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ”.

(trang 47).

Minh Di

- “Nước Yết Chức Đông Tây hơn 500 dặm, Nam Bắc hơn 300 dặm. Kinh Đô chu vi ước 4, (hay) 5 dặm. Đất đai cằn cỗi, gò nỗng liền nhau! Ít hoa quả, trồng nhiều các thứ đậu và lúa mạch! Khí hậu lạnh lẽo, con người tính tình cứng rắn mạnh mẽ! Chùa có trên chục cái, tăng đồ hơn 300 người, đều theo Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ bên Tiểu Thừa”.

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

Trước hết, Thích Như Điển dịch sai chu vi Kinh Sư Yết Chức là 45 dặm, thay vì chỉ có 4 hay 5 dặm, rồi dịch thiếu câu “lăng, phụ liên thuộc” (gò nỗng liền nhau).

Kế đó, về thổ sản lại thiếu “các thứ đậu” (thục).

Càng dịch Thích Như Điển càng viết láo, viết xằng viết bậy, bất kể tội / phước!

~ Nguyên tác: “Thổ địa khao hạc”, nghĩa là “Đất đai khô cằn”, vậy mà Thích Như Điển lại dịch láo là “Đất đai phì nhiêu”.

Từ điển Từ Nguyên giải tiếng “Khao hạc” như sau:

- “[Khao hạc]. Thổ địa tích bạc”. Nghĩa là “Đất đai cằn cỗi”.

Tự thân chữ “Khao” đã có nghĩa là “đa thạch tích bạc chi địa” (đất cằn cỗi có nhiều đá). Và như vậy thì “phì nhiêu” ở cái chỗ nào đây, Thích Như Điển?

~ Tính tình con người xứ Yết Chức “cứng rắn, mạnh mẽ” (cương mãnh), thế nhưng Thích Như Điển lại dịch rất láo là “phong tục lành mạnh”.

Nguyên tác. Phạm Diễn Na Quốc   33 / 34.   

- “Phạm Diễn Na Quốc Đông Tây nhị thiên dư lí, Nam Bắc tam bách dư lí, tại Tuyết Sơn chi trung dã. Nhân y sơn cốc, trục thế ấp cư. Quốc Đại đô thành cứ nhai khóa cốc, trường lục, thất lí, Bắc bối cao nham. Hữu túc mạch, thiểu hoa quả, nghi súc mục, đa dương, mã. Khí tự hàn liệt, phong tục cương quảng. Đa ý bì hạt, dịch kỳ sở nghi! Văn tự, phong giáo, hóa tệ chi dụng đồng Đổ Hóa La Quốc, ngữ ngôn thiểu dị, nghi mạo đại đồng. Thuần tín chi tâm đặc thậm lân quốc, thượng tự Tam Bảo, hạ chí bách Thần, mạc bất thâu thành kiệt tâm tông kính. Thương cổ vãng lai giả, thiên thần hiện trưng tường, thị sùng biến, cầu phúc đức.

Già lam sổ thập sở, tăng đồ sổ thiên nhân, tông học Tiểu Thừa Thuyết Xuất Thế Bộ”.

/  Sđd. Qu. I. Phạm Diễn Na Quốc  /.

Thích Như Điển dịch:

  - “Nước Phạm Hạnh Na đông tây hơn 2.000 dặm; nam bắc hơn 300 dặm. Nằm ngay  trong núi tuyết. Người người hay sống trong hang động. Đô thành đa phần cũng là động đá. Chiều dài 67 dặm. Phía bắc rất cao, có lúa mạch, ít hoa quả. Nuôi gia súc, đa phần là dê và ngựa. Khí hậu lạnh, phong tục tốt đẹp, đa phần ăn mặc kín đáo. Chữ nghĩa phong tục do sự giáo hóa mà thành. Sử dụng tiền tệ giống như nước Đô Hóa La. Ngôn ngữ ít có sự sai khác. Lễ nghi đại khái giống nhau. Có lòng tin cũng giống như nước láng giềng. Trên cũng kính Tam Bảo, dưới cho đến thần dân không bị mất cướp, thành thật, tâm địa tôn kính. Có nhiều khách thương vãng lai. Thiên thần thường hay xuất hiện. Đó là do sự biến hóa của việc cầu phước đức mà nên. Chùa chiền hơn 10 ngôi, tăng tín đồ hơn 1.000 người. Họ theo Tiểu thừa giáo thuộc Thuyết Xuất Thế Bộ”.

(trang 47, 48).

~ Đọc đoạn dịch trên đây của Thích Như Điển mà tôi rùng mình, như đã rùng mình ở những đoạn dịch trước đây của Thích Nh ư Điển!

Dịch văn thì hầu hết chẳng phù hợp những gì nguyên tác viết, văn thì nhiều câu rời rạc không đầu, thiếu đuôi, tóm lại là văn Việt ngữ Thích Như Điển viết còn chưa xuôi!  

Minh Di.

- “Nước Phạm Diễn Na chiều Đông Tây hơn 2000 dặm, chiều Bắc Nam hơn 300 dặm,  nằm lọt giữa Tuyết Sơn. Người (nước này) nương theo núi, theo thế núi mà lập Đô ấp. Quốc đô kiến lập trên ghềnh đá, ở vùng sơn cốc, trải dài 6, 7 dặm, mặt Bắc thành dựa vách núi chớn chở. (Thổ sản) có lúa mạch, ít cây trái. Thích hợp cho việc chăn nuôi, có  nhiều dê và ngựa. Khí hậu lạnh lẽo, tính tình cứng cỏi, hung hãn! (Dân cư) đa số mặc áo da, đây cũng là để thích nghi với khí hậu. Văn tự, phong tục và sự giáo hóa, tiền tệ như nước Đổ Hóa La, ngôn ngữ có khác đôi chút, () khuôn mặt nhìn chung là giống. Về lòng tin thì hơn các nước láng giềng xa, trên từ Tam Bảo, dưới tới các Thần thánh không vị nào mà dân ở đây không biểu lộ sự thành tâm, hết lòng sùng kính! với các thương buôn qua lại, thiên thần xuất hiện là (một) điềm lành, và là (một) thị hiện củasự biến hóa cao siêu, (là cơ hội) cho họ cầu phúc đức.

Chùa thì có mấy chục chỗ, tăng chúng mấy ngàn người, theo phái Thuyết Xuất Thế Bộ của Tiểu Thừa”.

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

~ Trước hết, về phiên âm, Thích Như Điển đã ghi sai âm đọc tên của Quốc gia đề cập ở đây. Tên Quốc gia ở đây là Phạm Diễn Na, Thích Như Điển ghi là Phạm Hạnh Na.

Chữ “Diễn” ở đây cũng là chữ “Diễn” trong tên Quốc gia Xích Ngạc Diễn Na mà Thích Như Điển đã đọc sai trước đây.

~ Tuyết Sơntên riêng, Thích Nh ư Điển dịch là “núi tuyết” thì không sai, nhưng dịch như vậy thì hóa ra hàm hồ, vì núi tuyết thì có bao nhiêu là núi tuyết, núi tuyết nào đây?

~ Từ câungười người hay sống trong hang động........... cho tới hết đoạn văn trên đây Thích Như Điển dịch hầu như sai hoàn toàn!

Tôi xin nêu một vài cái sai trong đoạn dịch nói trên của Thích Như Điển:

~ Nguyên tác: “Nhân y sơn cốc, trục thế ấp cư. Quốc Đại đô thành cứ nhai khóa cốc, trường lục, thất lí, Bắc bối cao nham”.

- “Người [nước này] nương theo núi, theo thế núilập đô ấp. Quốc đô kiến lập trên  ghềnh đá, ở vùng sơn cốc, trải dài 6, 7 dặm, mặt Bắc thành dựa vách núi chớn chở”.

Thích Như Điển dịch: “Người người hay sống trong hang động. Đô thành đa phần cũng là động đá. Chiều dài 67 dặm. Phía bắc rất cao”. - Tầm bậy tầm bạ quá đi!

~ Nguyên tác: “Bắc bối cao nham” (Mặt Bắc thành dựa vách núi cao).

Thích Như Điển dịch bậy là “Phía bắc rất cao”.

~ Nguyên tác: “Khí tự hàn liệt” (Khí hậu lạnh lẽo).

Thích Như Điển dịch là “Khí hậu lạnh” không thôi thì chưa diễn tả hết được cái lạnh.

~ Nguyên tác: “Phong tục cương quảng” (Tính tình cứng cỏi, hung hãn).

Thích Như Điển dịch là “Phong tục tốt đẹp” thì phải nói là bậy bạ quá đi!

~ Nguyên tác: “Đa ý bì hạt, dịch kỳ sở nghi”.

- “[Dân cư] đa số mặc áo da, đâycũng là để thích nghi với khí hậu”.

Một câu hết sức dễ, vậy mà Thích Như Điển dịch là “Đa phần ăn mặc kín đáo”.

Câu “kỳ sở nghi” ở đoạn trên Thích Như Điển không hiểu, bởi thế đã dịch lếu láo đến không thể tưởng là “Lễ nghi đại khái giống nhau”.

~ Nguyên tác” “Văn tự, phong giáo” (Văn tự, phong tục và sự giáo hóa).

Thích Như Điển dịch hết sức bậy là:

-Chữ nghĩa, phong tục do sự giáo hóa mà thành”.

Tiếng “Phong giáo” là chữ ghép của 2 tiếng “Phong tục” và “Giáo hóa”, Thích Như Điển và ông Thích Đồng Văn mà Thích Như Điển khoe là “biết nhiều chữ Hán” lại mù mờ để rồi cả đám dịch một cách rất “ngu ngơ” như trên!

Từ điển Từ Nguyên giảng tiếng “Phong giáo” như sau:

- “[Phong giáo]. Phong tục, giáo hóa”.

4 chữ trên đi liền với những chữ sau đó thành một câu:

-Văn tự, phong giáo, hóa tệ chi dụng đồng Đổ Hóa La Quốc”.

Có thể thấy 4 chữ “Văn tự, phong giáo” chưa thành một Câu, cả 2 ông “Thích” trên đây vì “biết nhiều chữ Hán” quá, bởi thế cũng “nhiều” luôn óc tưởng tượng để biến những chữ này thành một câu, một câu để lộ 2 cái óc tưởng tượng thật ng. ng.

Càng dịch cái ba láp, cái lếu láo của Thích Nh ư Điển càng lớn hơn, do đó, cái lố bịchcủa một con người càng lộ rõ hơn:

~ Nguyên tác: “Thuần tín chi tâm đặc thậm lân quốc”.

- “Về lòng tin thuần thành (nơi Tông giáo) thì hơn các nước láng giềng rất xa”.

Vậy mà Thích Như Điển lại dịch hết sức bậy bạ như sau:

-Có lòng tin cũng giống như nước láng giềng”.

Sai đến cả ngàn dặm!

~ Nguyên tác nói “thượng tự Tam Bảo, hạ chí bách Thần, mạc bất thâu thành kiệt tâm tông kính”.

- “trên từ Tam Bảo, dưới tới các Thần thánh không vị nào mà dân ở đây không biểu lộ sự thành tâm, hết lòng sùng kính!”.

Thích Như Điển dịch câu trên đây là:

-Trên cũng kính Tam Bảo, dưới cho đến thần dân không bị mất cướp, thành thật, tâm địa tôn kính”.

+ Thần dân nào ở đây “không bị mất cướp”? ăn cướp nào ở đây, Thích Nh ư Điển?

Duyệt nguyên tác thì có thể thấy các tiếng “ăn cướp”, “thần dân” ở đây Thích Như Điển đã dịch từ 2 tiếng bách thần và “thâu thành”.

Bách Thần , chữ Thần ở đây là “Thần thánh, Thần linh”.

Chữ “Thần” là “Bề tôi” viết khác!

Thâu thành  có nghĩa là biểu lộ thành tâm.

+ Thích Như Điển bởi Hán văn lem nhem cho nên đã lẫn lộn, đã không nhận biết được  chữ “Thâu” (ăn trộm) thuộc bộ Nhân (người), vì vậy mới có chuyện “mất cướp” ở đây!

Trong khi chữ “Thâu” trong nguyên tác ở đây viết với bộ Xa (xe) ở đây có một số nghĩa là “chuyển vận. hiến nạp. thất bại, thua”.

Thích Như Điển dịch, Thích Đồng Văn, Thích Hạnh Giới hụ hợ trợ dịch làm cho tôi đây khiếp hãi quá! Như Phật trên bàn thờ đây đọc được chắc cũng nhảy xuống quá!

Nhưng “Ngã Phật từ bi” cho nên sẽ nói với Thích Nh ư Điển là “Hồi đầu thị Ngạn”.

Thích Như Điển buông cái Tâm “Hám Danh”, cái tâm “Tham” rồi sẽ thấy Bờ!

+ Thích Như Điển buông cái TâmHám Danh”, muốn thiên hạ, muốn đệ tử của mình nghĩ mình, nghĩ thầy mình, là một người tinh thâm Hán văn - Thích Như Điển nếu chịu dứt trừ cái tâm này đi rồi sẽ thấy Bờ, Thích Như Điển!

~ Nguyên tác : “Thương cổ vãng lai giả, thiên thần hiện trưng tường, thị sùng biến, cầu phúc đức”.

- “Và với các thương buôn qua lại, thiên thần xuất hiện là (một) điềm lành, và là (một) thị hiện củasự biến hóa cao siêu, (là cơ hội) cho họ cầu phúc đức”.

Thích Như Điển lại dịch hết sức bậy bạ là -Thiên thần thường hay xuất hiện. Đó là do sự biến hóa của việc cầu phước đức mà nên”. 

Tiếp liền theo đoạn trên, “Tây Vực Ký” chép:

- “Vương thành đông bắc sơn a hữu lập Phật thạch tượng, cao bách tứ, ngũ thập xích, kim sắc hoảng diệu, bảo sức hoán lạn! Đông hữu già lam, thử quốc tiên vương chi sở kiến dã. Già lam Đông hữu thu thạch Thích Ca Phật lập tượng, cao bách dư xích, phân thân biệt chú, tổng hợp thành lập.

Thành Đông nhị, tam lí già lam trung hữu Phật nhập Niết bàn ngọa tượng, trường thiên dư xích. Kì vương mỗi thử thiết Vô già Đại hội, thượng tự thê tử, hạ chí quốc trân, Phủ  khố khuynh, phục dĩ thân thí! Quần quan liêu tá, tựu tăng thù thục. Nhược thử giả dĩ vi sở vụ hĩ!”.

Thích Như Điển dịch như sau:

- “Vương thành phía đông bắc gần núi có tượng Phật đá đứng cao 145 mét. Màu sắc vàng, trang sức bằng những loại đá quý. Phía đông có Già Lam do Tiên đế đã kiến tạo nên. Tiếp đó có tượng Thích Ca bằng đá đứng cao hơn 100 thước. Phân thân đứng riêng biệt để thành một quần thể như thế.

Thành phía đông có 23 dặm. Giữa chùa có tượng Phật nhập Niết Bàn nằm, chiều dài 100 thước. Vua nước này thường thiết lễ cầu siêu. Trên từ vợ con, dưới đến thần dân   đều lấy của trong kho của Vua, đem ra bố thí. Quần thần, tả hữu cũng làm việc đó như là một nhiệm vụ”.   

(trang 48).

Minh Di.

- “Ở ven núi phía Đông bắc Vương thành có Tượng Phật đứng bằng đá, cao (khoảng) 140, 150 thước, sắc vàng chói lọi, các vật quí rỡ ràng tô điểm tượng Phật! Ở mặt Đông Tượng Phật có ngôi Chùa, Chùa này do vua đời trước kiến tạo. Ở phía Đông chùa có tượng Phật Thích Ca đứng bằng đồng vàng, cao hơn 100 thước, các bộ phận của tượng được đúc riêng rồi ráp lại thành Tượng.

Trong một ngôi Chùa cách (Vương) Thành 2, 3 dặm về phía Đông có Tượng Phật nằm  nhập Niết bàn, dài hơn 1,000 thước! Vua nước này thường cử hành Đại hội Vô già tại nơi này, trên từ vợ con, dưới tới những vật quí của quốc gia, chẳng những là các Kho của các Phủ đã dốc hết ra, mà còn lấy thân mình để bố thí! Quan liêu và các thuộc cấp đều tới gặp tăng để chuộc thân mình! Những việc như vậy, tất cả đều coi như việc làm của mình”.

[Phụ chú.

Nguyên tác: “Già lam Đông hữu thu thạch Thích Ca Phật lập tượng”.

- “Ở phía Đông chùa có tượng Phật Thích Ca đứng bằng đồng vàng”. 

Chú thích chữ “thu thạch”, Quí Diễn Lâm viết:

-Thu thạch: Tức hoàng đồng. “Thu” đa bán thị A lập bá - Ba tư ngữ trung chi tūtiya,  Phạn văn tác tuttha, Thạch tự nãi Hán ngữ sở gia, tham khán Lao Phí Nhĩ (B. Laufer) “Trung Quốc Y Lang Biên”, Lâm Vân Nhân dịch, Thương Vụ Ấn Thư Quán, 1964 niên hiệt 340 - 344.

Thu thạch, “Phạn Ngữ Tạp Danh” tác Lí Để (riti),

Tây Vực Ký” trung đa thứ đề đáo Thu thạch Phật tượng, tự thị độ thượng chân thu.  Quyển Nhị vân: - “Nhược phù Kim, Ngân, Thu thạch, Bạch thạch, Hỏa chu, phong thổ sở sinh”.

Trình Đại Xương “Diễn Phiền Lộ”: - “Thế hữu Thu thạch giả, thực vi Đồng, sắc như hoàng kim”.

Cách Cổ Yếu Lãm”: - “Thu thạch, tự nhiên Đồng chi tinh dã. Kim Lô cam thạch luyện thành giả, giả Thu ! Thôi Phưởng viết Đồng nhất cân, Lô cam thạch nhất cân luyện chi thành Thu đồng. CHÂN THU THẠCH sinh BA TƯ QUỐC giả như hoàng kim, thiêu chi xích sắc bất thoái”.”.

Dịch:

-Thu thạch: Tức Đồng vàng. Chữ “Thu” phần lớn trong tiếng Á rập - Ba tư là tūtiya, tiếng Phạn là tuttha, chữ Thạch là Hán ngữ thêm vào, xin coi Lao Phí Nh ĩ (B. Laufer) trong “Trung Quốc Y Lang Biên”, Lâm Vân Nhân dịch, Thương Vụ Ấn Thư Quán, năm 1964, các trang: 340 -344. Thu thạch, cuốn “Phạn Ngữ Tạp Danh” ghi là Lí Để (riti).

Trong “Tây Vực Ký” nhiều lần đề cập tượng Phật bằng Đồng vàng, hình như được mạ với Đồng vàng thuần. Quyển II ghi: - “Những thứ Vàng, Bạc, Đồng vàng, Bạch thạch, Hỏa chu, đều do đất đai sinh ra”.

Tập “Diễn Phiền Lộ” của Trình Đại Xương (nói): - “Trên đời có thứ Thu thạch, thực ra đây là Đồng, sắc như Vàng”.

Tập “Cách Cổ Yếu Lãm”: - “Thu thạch là Đồng tinh thuần trong thiên nhiên. Hiện nay thứ Đồng luyện thành từ Lô cam thạch là thứ Đồng vàng giả! Thôi Phưởng nói 1 Cân Đồng, 1 Cân Lô cam thạch thì luyện thành Đồng vàng. ĐỒNG VÀNG THẬT xuất từ nước BA TƯ sắc như Vàng, nung thì sắc đỏ không biến”.

(Lô cam thạch tức ZnCO3. Minh Di).

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

~ Nguyên tác: “Sơn a” nghĩa là “ven núi”, Thích Như Điển dịch là “gần núi”.

~ Nguyên tác: “cao bách tứ, ngũ thập ngũ xích” (“cao [khoảng] 140, 150 thước”).

Thích Như Điển dịch là “cao 145 mét”. Thích Như Điển, “Xích” không phải là “Mét”!

Như đã biết, 1 xích thời Đường = 0.311 m.

Tượng Phật cao 140, 150 xích là cao:

0.311 m x 140 = 43.54 m. và 0.311 m x 150 = 46.65 m.

Tức Tượng Phật bằng đá ở đây cao trong khoảng từ 43.54 m đến 46.65 m.

~ Nguyên tác nói Tượng Phật bằng đá sắc vàng tức ý nói Tượng được sơn phết vàng có sắc chói lọi (hoảng diệu). Thích Như Điển đã không dịch 2 chữ “hoảng diệu” này!

~ Nguyên tác nói những vật quí dùng để tô điểm tượng Phật bằng đá trong đoạn dẫn ở đoạn trên tỏa ánh sáng ngời (hoán lạn), Thích Như Điển cũng thiếu cái “hoán lạn” này! 

Lại nữa, nguyên tác chỉ nói chung chung những vật quí tô điểm Tượng Phật đá - mà  không hề xác định là “những loại đá quý” như Thích Như Điển dịch láo, bậy! Đá lượm ở đâu đây, Thích Như Điển? 

~ Nguyên tác nói ở phía Đông của Tượng Phật bằng đángôi Chùa, và rồi cũng ở về phía Đông ngôi Chùa này lại có Tượng Phật bằng đồng vàng (thu thạch)!

Nguyên tác: “Già lam Đông hữu thu thạch Thích Ca Phật lập tượng”.

Thích Như Điển dịch bậy là “Tiếp đó có tượng Thích Ca bằng đá”.

Rõ ràng là “ở phía Đông Chùa có tượng Phật Thích Ca đứng bằng đồng vàng ”, tác giả đã viết rõ ràng như thế! Thích Như Điển nói mình dịch Bộ “Đại Đường Tây Vực Ký” từ bản Hán văn. Thế nhưng, dịch như kiểu Thích Như Điển trên đây thì tôi đến không rõ Thích Như Điển dịch theo bản Hán văn nào đây?

~ Nguyên tác nói “phân thân biệt chú, tổng hợp thành lập”.

Như tôi dịch ở trên, “các bộ phận của tượng được đúc riêng rồi ráp lại thành Tượng”.

Nhưng, Thích Như Điển lại dịch ba láp, bậy bạ là: Phân thân đứng riêng biệt để thành một quần thể như thế”.

-Phân thân đứng riêng biệt” như thế nào đây, Thích Như Điển?

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Monday, 13 December, 2010 0:36