Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Diễn đàn - Lưu bút

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

 

Biên Khảo

Minh Di - Tạp chí Dân Văn

Phê bình sách dịch Đại Đường Tây Vực Ký

Kỳ 2

2). Hoàng hậu.

Trung Cungở đây có nghĩa là Cung ở giữa, tức Cung của hoàng hậu.

Sách “Chu Lễ” viết:

- “Dĩ âm lễ giáo Lục Cung”.

Chu Lễ Chú Sớ.Qu. VII. Thiên quan. Nội Tể  /.

- “Lấy Lễ của phụ nữ dạy cho Lục Cung”.

Trịnh Huyền (127 - 200) thời Đông Hán (25 - 220) chú thích câu trên có đoạn viết:

- “Huyền vị Lục Cung vị hậu dã. Phụ nhân xưng tẩm viết Cung, Cung, “ẩn tế” chi ngôn. Hậu tượng Vương, lập Lục cung nhi cư chi, dịch chínhtẩm nhất, yến tẩm ngũ! Giáo giả bất cảm xích ngôn chi, vị chi Lục Cung, nhược kim xưng hoàng hậu vi Trung Cung hĩ!”.

Dịch:

- “(Trịnh) Huyền tôi cho rằng (2 chữ) Lục Cung tức chỉ (hoàng) hậu. Chỗ ở của đàn bà gọi là Cung, (chữ) Cung ý nói sự “kín đáo”! Cũng như vua, Hoàng hậu lập Lục Cung để ở, cũng gồm 1 Phòng Chính, 5 Yến Tẩm. Người dạy (hoàng hậu) không dám vô lễ nên gọi hoàng hậu là Lục Cung, như hiện nay gọi hoàng hậu là Trung Cung vậy!”.

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

Dịch văn của Thích Như Điển, như đã thấy, chỉ là sự mê sảng của một kẻ (của bốn kẻ có lẽ đúng hơn, tức kể cả Thích Đồng Văn + Thích Hạnh Giới + Thích Bảo Lạc).

Ở đây tôi xin nêu những cái kém cỏi về Hán văn của bộ 4 trên đây mà Thích Như Điển đại diện ký tên Bản dịch!

~ Nguyên tác: “...… độ hà chí A Xa Lí Nhị Già Lam (Đường ngôn kì đặc)...…”.

- “...… qua sông thì tới Chùa A Xa Lí Nhĩ (Hán ngữ có nghĩa là kì đặc)...…”.

Tên Chùa A Xa Lí Nhị, như chú thích của Huyền Trang in chữ nhỏ trong ngoặc đơn, có nghĩa là “kì đặc”, Thích Như Điển đã ghi vừa thiếu lại vừa sai thành “A Nhã Lý”, nhất là không hiểu, tưởng A Xa Lí Nhị là 1 địa danh, và hơn thế nữa, chữ “Nhị” trong tên Chùa Thích Như Điển lại tưởng là “2 (số 2)” do đó đã dịch câu trên mê sảng như sau:

- “qua sông đến A Nhã Lý có hai ngôi Già Lam”.  

~ Nguyên tác: “sĩ thứ, hào hữu”, nghĩa là “thứ dân, những kẻ giàu có có thế lực”.

Thích Như Điển dốt quá nên dịch tiếng “hào hữu” là “tả hữu”:

-thứ dân tả hữu”.  

~ Nguyên tác: “...… nãi mệnh mẫu đệ nhiếp tri lưu sự”.

- “...… nên ra lệnh cho người em cùng mẹ ở lại nắm giữ Chính sự”. 

Tiếng “mẫu đệ” nghĩa là “em cùng mẹ sinh ra”.

Một tiếng rất thông thường như vậy mà Thích Như Điển dịch bậy bạ là:

- “...… nên để cho mẹ và em nhiếp chính”. 

~ Nguyên tác: “Kỳ đệ thụ mệnh, thiết tự cát thế, phòng vị manh dã!”.

- “Em của vua tiếp nhận lệnh xong thì kín đáo tự cắt bỏ bộ phận sinh dục của mình, để dự phòng việc không hay sau này!”.

Thích Như Điển dịch mê sảng, chẳng dính gì tới nguyên tác, như sau:  

-Người em lãnh giữ, nhưng chưa tự phòng được như vua anh, nên có vấn đề. Khi ngài trở về lại chẳng như ý nên Vua đã cho người khác thay thế”.

Nguyên tác: “tự cát thế”. “tự cắt bỏ bộ phận sinh dục của mình”.

Thích Như Điển không hiểu, mà cho tới cả ông Hòa thượng anh của Thích Như Điển là Thích Bảo Lạc, cũng như cho đến luôn 2 ông tỳ kheo “trợ dịch” cho Thích Như Điển là Thích Đồng Văn, Thích Hạnh Giới rồi cũng ù ù cạc cạc chẳng hiểu tiếng “cát thế” nghĩa là chi! Bởi vậy mới có đoạn văn dịch “mê sảng” trên đây của Thích Như Điển!

Câu “vị manh” nghĩa là “chưa chớm”, ở đây ý nói việc chưa xảy ra thì phải ngăn ngừa từ lúc chưa có gì!

~ Nguyên tác:

- “Vương đệ ư hậu hành, ngộ nhất phu ủng ngũ bách ngưu, dục sự hình phủ! Kiến nhi duy niệm, dẫn loại tăng hoài: “Ngã kim hình khuy, khởi phi túc nghiệp?”.  

Tức dĩ tài bảo thục thử quần ngưu”.

- “Về sau, trong một lần đi ra ngoài, người em vua gặp 1 người lùamột đàn500con đem đi thiến! Thấy thế người em nghĩ lại thân mình mà càng thêm ngậm ngùi: “Bây giờ thân thể ta khiếm khuyết thế này biết đâu chẳng là cái nghiệp của ta từkiếp trước?”.

Lập tức lấy tiền bạc, vật quí giá mà chuộc đàn bò này!”.

Thích Như Điển lại dịch đã thật dốt nát lại thật ngu ngơ là:

- “Sau đó Vua em đã tự tiện giết 500 con bò, thấy thế liền nghi mọi việc băng hoại Chẳng qua là túc nghiệp của ta giống như loài bò nầy”. 

Tiếng “cát thế” Thích Như Điển đã không biết, mà tiếng “hình phủ” ở đây cũng mù mờ không biết luôn!

Phủ” là 1 hình phạt thời cổ, cũng gọi là “Cung hình”, tức “Hoạn, thiến”! Hình phạt này đã được đề cập trong bộ “Sử Ký” của  Sử gia Tư Mã Thiên (145 - 86 ? tr. Cn), và trong bộ “Hán Thư” của Ban Cố (32 - 92). “Phủ hình” có người đọc là “Hủ hình”.

Đối chiếu với nguyên tác, độc giả thấy ngay, và thực dễ dàng, Thích Như Điển đã thiếu những chi tiết:

1). Việc em của vua tự hoạn, đem bộ phận sinh dục của mình bỏ vào hộp bằng vàng đưa cho vua anh mình.

2). Việc có kẻ tâu gian hãm hại người em, và tiếp theo đó là mẩu vấn đáp giữa vua và người em của mình!

3). Việc em vua lấy tiền của chuộc 500 con bò sắp bị đưa đi thiến.

Chẳng những thế còn bịa ra những chuyện không hề có trong nguyên tác, như:

1). “Nhưng kết quả của Vua em làm đã tạo nên những việc loạn dâm trong triều đình cung nội. Khi Vua nghe được như vậy liền giận dữ muốn nghiêm phạt. Người em nói rằng: “Em muốn cho Vương Triều phát đạt tạo nên thế lực lớn, mà sanh ra kết quả khác thường như vậy. Có ngờ đâu sanh ra việc ấy”.

2). “Nhà Vua được điều trần trước sau như vậy; nhưng nhà Vua vẫn đặc biệt cho kiến tạo già lam xây dựng chỗ ở cho Tăng”.

Nguyên tác. Bạt Lộc Ca Quốc  <멌˙></ 멌˙>   3 / 34.

-Bạt Lộc Ca Quốc Đông Tây lục bách dư lí, Nam Bắc tam bách dư lí. Quốc Đại Đô thành chu ngũ, lục lí. Thổ nghi, Khí tự, nhân tính, Phong tục, văn tự, Pháp tắc đồng Khuất Chi Quốc, Ngữ ngôn thiểu dị, tế chiên, tế hạt, lân Quốc sở trọng. Già lam sổ thậpsở, tăng đồ thiên dư nhân, tập học Tiểu Thừa giáo Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ”.

Sđd. Qu. I. Bạt Lộc Ca Quốc  /.

Thích Như Điển dịch:

- “Nước Phạt Lục Già đông tây hơn 600 dặm. Nam bắc hơn 300 dặm, chu vi thành nội 56 dặm, thời tiết phong tục điều hòa. Chữ viết dùng giống như nước Quật Chi. Tiếng nói ít đổi khác. Có sự giao tiếp với lân bang rất tốt. Chùa viện có hơn 10 cái. Tăng tín đồ hơn 1000 người tu theo Tiểu Thừa,  thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ”.

(Trang: cuối 35, đầu 36).

Minh Di.

- “Nước Bạt Lộc Ca, từ Đông sang Tây hơn 600 dặm, từ Nam lên Bắc hơn 300 dặm. Kinh thành của nước này chu vi (khoảng) 5, 6 dặm. Thổ nhưỡng, Khí hậu, tính cách con người, Phong tục, Văn tự, Pháp luật rồi giống như Nước Khuất Chi, Ngôn ngữ không khác bao nhiêu; phục sức thì áo vải mịn, giày vải thô, được nước láng giềng coi trọng. Chùa có mấy chục ngôi, tăng chúng hơn 1,000 người, theo Tiểu Thừa, thuộc tông Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ”.

Những cái Sai của Thích Như Điển.

~ Tên nước là “Bạt Lộc Ca”, không là “Phạt Lục Già” như Thích Như Điển phiên âm.

Bạt Lộc Ca, Phạn văn là Bālukā, hoặc Vālukā.

Sử thư Hồi giáo ghi là Bakhouan, BarwanBarman.

~ Thích Như Điểnlại ghép 2 số 5 và 6 ở đây để thành56 dặm” khi dịch về chu vi của Kinh thành Bạt Lục Ca. Trong suốt bản dịch Thích Như Điển đều Sai như vậy! Ngoài ra ở đây nguyên tác đâu có nói “thành nội” mà Thích Như Điển viết ba láp!

~ Cả một câu: “Thổ nghi......Ngôn ngữ thiểu dị” Thích Như Điển dịch đã lởm chởm, chỗ dịch chỗ không, mà dịch cũng ba láp, như câu “ngữ ngôn thiểu dị” Thích Như Điển dịch là “Tiếng nói ít đổi khác”. Thiệt là ba láp!

~ Thích Như Điển đã không dịch câu “Tế chiên, tế hạt”.

~ Nguyên tác: “Lân quốc sở trọng” (“được nước láng giềng coi trọng”). Thích Như Điển đã dịch câu này rất bậy là “Có sự giao tiếp với lân bang rất tốt”.

Tiếp liền đoạn trên:

- “Quốc tây bắc hành tam bách dư lí, độ thạch tích, chí Lăng Sơn, thử tắc Thông Lãnh bắc nguyên, thủy đa Đông lưu hĩ. Sơn cốc tích tuyết, Xuân, Hạ hợp đống, tuy thời tiêu bán, tầm phục kết băng. Kinh đồ hiểm trở, hàn phong thảm liệt, đa bạo long, nan lăng phạm! Hành nhân do thử lộ giảbất đắc giả y trì hồ đại thanh khiếu hoán, vi hữu vi phạm tai họa mục đổ. Bạo phong phấn phát, phi sa vũ thạch, ngộ giả táng một, nan dĩtoàn sinh”.

Sđd. Qu. I. Bạt Lộc Ca Quốc. Lăng Sơn cập Đại Thanh Trì  /.

Thích Như Điển dịch:

- “Phía tây bắc hơn 300 dặm từ núi đá đến Lăng Sơn, phía này có núi cao bình nguyên. Có nhiều sông chảy về hướng Đông, núi cao có tuyết. Mùa xuân mùa hạ vẫn còn đóng băng, tùy lúc băng tan rồi trở thành nước. Đường đi hiểm trở, mùa đông gió lnh thê lương. Nơi đây đa phần những kẻ phm nhân b đày, đường đi khó khăn, chẳng mang theo được đồ dùng, kêu nhau lớn tiếng. Nếu có vi phạm thì nguy đến tính mạng. Gió thổi mạnh làm cát đá bay như mưa. Nếu ai gặp phải chẳng toàn sinh mệnh”.

(Trang 36).

Minh Di.

- “Đi hơn 300 dặm về phía Tây bắc nước (này), vượt qua sa mạc tới Lăng Sơn, thì đây là bình nguyên phía Bắc của dãy Thông Lãnh, sông(ở đây) phần nhiều chảy về hướng Đông. Vùng sơn cốc thì tuyết đóng, mùa Xuân, mùa Hạ tuyết vẫn đóng băng, tuy có lúc cũng tan, để không lâu sau đó lại đóng băng. Đường đi thì hiểm trở, gió lạnh căm căm có nhiều mưa to, khó chống lại được! Quan chức theo ngã này không được để tù nhân cầm bầu nước mà kêu la, hơihơ hỏng một chút là tai họa đổ xuống đầu. Gió lớn khi đã nổi lên thì cát bay đá chạy, kẻ gặp cảnh này thì sẽ bị (cát, đá) vùi lấp, khó mà giữ được tính mạng”.

[Phụ chú

~ Thông Lãnh. Các khu cao nguyên Pamir (hay Pamirs), dãy Côn Luân Sơn và đoạn phía Tây của Thiên Sơn, tất cả những khu vừa kể thờicổ gọi chung là Thông Lãnh.

Cao nguyên Pamir chủ yếu nằm ở vùng Tadzhik (Nga), nhưng cũng trải tới Jammu vàKashmir (Ấn Độ), Pakistan, Afghanistan và mé Tây bắc tỉnh Tân Cương (Trung Quốc).

~ Trong đoạn dẫn trên “Tây Vực Ký” nói “Thủy đa Đông lưulẽ là hầu hết sông rạch ở Tây Vực đều chảy về Tây. Đây là điểm đặc biệt nên Huyền Trang mới nói như vậy].

+ Những cái sai của Thích Như Điển.

~ Nguyên tác: “Thạch tích” nói ở đoạn trên nghĩa là sa mạc, không phải là “núi đá” như Thích Như Điển hiểu sai rồi dịch sai!

~ Nguyên tác: “thử tắc Thông Lãnh bắc nguyên”, nghĩa là “đây là bình nguyên phía bắccủa dãy Thông Lãnh”.

Thích Như Điển không hiểu Thông Lãnh là gì nên không dịch!

~ Nguyên tác: “thủy đa Đông lưu”, là “sông [ở đây] phần nhiều chảy về hướng Đông”.

Thích Như Điển dịch là “Có nhiều sông chảy về hướng Đông” thì chưa chính xác!

~ Nguyên tác: “Sơn cốc tích tuyết” là “Vùng sơn cốc thì tuyết đóng”.

Thích Như Điển dịch là “Núi cao có tuyết” thì chưa lột được hết ý của nguyên tác nói về tình trạng tuyết tích tụ lâu ngày không tan trên vùng núi cao (thiên niên tuyết).

~ Nguyên tác: “Xuân, Hạ hợp đống, tuy thời tiêu bán, tầm phục kết băng”.

Câu này như đã dịch “mùa Xuân, mùaHạtuyết vẫn đóng băng, tuy có lúc cũng tan, để không lâu sau đó lại đóng băng (lại)”.

Thích Như Điển dịch là “Mùa xuân mùa hạ vẫn còn đóng băng, tùy lúc băng tan rồi trở thành nước” là dịch bậy câu sau!

~ Thích Như Điển không hiểu 2 chữ “bạo long” nên lờ đi không dịch!

~ Đoạn dịch sau đây của Thích Như Điển thực ngô nghê, chẳng ra cái gì hết:

- “Nơi đây đa phần những kẻ phm nhân b đày, đường đi khó khăn, chẳng mang theo được đồ dùng, kêu nhau lớn tiếng. Nếu có vi phạm thì nguy đến tính mạng”.

Nguyên tác chẳng có cái ý nào là “chẳng mang theo được đồ dùng” hết!

Nguyên tác: “bất đắc giả y trì hồ đại thanh khiếu hoán, vi hữu vi phạm tai họa mục đổ”.  Thích Như Điển không hiểu câu trên, chỉ dịch cho qua truông là “kêu nhau lớn tiếng”.

Nếu Thích Như Điển dịch là “không được kêu nhau lớn tiếng” có lẽ còn khá hơn!

Thích Như Điển không biết rằng có những triền núi tuyết, núi đá có những mảng đá hay mảng tuyết không chắc chắn, âm thanh chấn động trong sơn cốc có thể làm cho đá hay tuyết lở xuống gây tai họa! Ý của Huyền Trang trong đoạn trên là ở đó!

Thích Như Điển dịch: “Nếu có vi phạm thì nguy đến tính mạng”.

Vi phạm cái chi đây, Thích Như Điển?

Nguyên tác: “Bạo phong phấn phát, phi sa vũ thạch, ngộ giả táng một, nan dĩtoàn sinh”.

Thích Như Điển dịch là:

- “Gió thổi mạnh làm cát đá bay như mưa. Nếu ai gặp phải chẳng toàn sinh mệnh”.

Dịch vậy là còn thiếu cái ý “bị bão cát vùi lấp”.

Tiếp theo Lăng Sơn là Đại Thanh Trì:

- “Sơn hành tứ bách dư lí chí Đại Thanh Trì (hoặc danh Nhiệt Hải, hựu vị Hàm Hải.), chu thiên dư lí. Đông Tây trường, Nam Bắc hiệp, tứ diện phụ sơn, chúng lưu giao thấu, sắc đới thanh hắc,vị kiêm hàm khổ, hồng đào hạo hãn, kinh ba cốt ột, long ngư tạp xử, linh quái gián khởi. Sở dĩ vãng lai hành lữ đảo dĩ kỳ phúc. Thủy tộc tuy đa, mạc cảm bổ”.

Sđd. Qu. I. Bạt Lộc Ca Quốc. Lăng Sơn cập Đại Thanh Trì  /.

Thích Như Điển dịch:  

- “Đi núi suốt như thế hơn 400 dặm thì tới ao rất lớn, nơi này còn gọi là biển nóng, chu vi ngàn dặm. Phía đông tây dài phía nam bắc thì hẹp, bốn phía đều là núi, nước chảytừ trên ấy xuống. Màu nước xanh đen, vị thường đăng đắng. Sóng chao gió đảo có rồng cá đủ loại, linh quái nổi lên. Cho nên khách vãng lai phải tạo phước. Những loài thủy tộc này đa phần là cá lớn”.

(Trang 36).

Minh Di.

- “Đi đường núi hơn 400 dặm thì tới Đại Thanh Trì (hoặc tên Nhiệt Hải, còn gọi Hàm Hải) chu vi hơn 1,000 dặm. Đông Tây rộng, Nam Bắc hẹp, bốn bề (đều) là núi, sông rạch từ các nơi đổ về giao hội, nước ánh sắc xanh đen, vị đắng mặn, sóng nước mênh mông xa thẳm, sóng gào ầm ầm, rồng và cá ở lẫn lộn, các loài thủy quái linh dị thay nhau mà xuất hiện! Cho nên, những khách Lữ hành qua lại nơi đây đều cầu cúng để được bình yên.  Cho nên loài thủy tộc ở đây tuy nhiều nhưng không ai dám bắt”. 

[Phụ chú.

Đại Thanh Trì. Tên Mãn Châu là Đặc Mục Nhĩ Đồ Trác Nhĩ, hay Đồ Tư Khố Nhĩ Hà.

Từ Tùng (1781 - 1848) đời Thanh (1644 - 1911) viết:

- “”Đặc Mục Nhĩ Đồ Trạc Nhĩ”, dịch viết “Đồ Tư Khố Nhĩ Hà”, Đông Tây trường tứ bách dư lí, Nam Bắc quảng xứ bách nhị thập dư lí, hiệp xứ bát thập dư lí, đươngBa Lặc Khách Thập Trạc Nhĩ” chính Nam thiên ngũ bách dư lí, duyên ngạn chi sa khả tiên thiết cố hữu “Đặc Mục Nhĩ” chi mục dã......

Địa đương Thông Lãnh Bắc đạo xung...... Cái tự Bắc lộ biên cảnh phó Hồi Cương giả tất thủ kính ư tư hĩ! Biện Cơ “Tây Vực Ký” vân:..... Nguyên chú: hoặc danh Nhiệt Hải, hựu vị Hàm Hải ..........  Thị Thanh Trì, Nhiệt Hải giai tư thủy cựu danh. Kì sản ngư tự , kim Tây Vực cạnh võng thủ chi, vô phục hướng thời kỳ đảo chi dị”.

Tây Vực Thủy Đạo Ký. Qu. V  /.

Dịch văn:

- “”Đặc Mục Nhĩ Đồ Trạc Nhĩ”, cũng gọi là “Đồ Tư Khố Nhĩ Hà”, chiều từ Đông qua Tây rộng hơn 400 dặm, chiều Nam Bắc thì chỗ rộng (nhất) hơn 120 dặm, chỗ hẹp (nhất) hơn 80 dặm, nằm ở phía chính Nam của “Ba Lặc Khách Trạc Nhĩ” hơn 1,500 dặm, cát ở dọc ven hồ có thể dùng nấu sắt, do đó mà có tên “Đặc Mục Nhĩ”......…

Địa khu nằm tại chỗ yếu hại của con đường phía Bắc của Thông Lãnh...... Tóm lại con đường ở biên cảnh phía Bắc đi Hồi Cương (Tân Cương) tất yếu phải đi qua đây! (Bộ) “Tây Vực Kí” của Biện Cơ nói:..… Nguyên chú: hoặc tên Nhiệt Hải, còn gọi Hàm Hải.......... [Cứ đây] thì Thanh Trì, Nhiệt Hải đều là tên cũ của sông này. Cá ở sôngnày dạng như cá chép, hiện nay thì ở Tây Vực người ta thi nhau lưới bắt (thứ cá này), không còn việc cầu cúng lạ lùng như thời trước”.

[Phụ chú.

1 dặm đời Thanh = 0.576 km.

Đông Tây 400 dặm = 400 x 0.576 km = 230.4 km.

Nam Bắc:

Chỗ rộng nhất 120 dặm = 120 x 0.576 = 69.12 km.

Chỗ hẹp nhất 80 dặm = 80 x 0.576 km = 46.08 km.

Theo chú thích của Quí Diễn Lâm trong “Đại Đường Tây Vực Ký Hiệu Chú”:

Hồ “Nhiệt Hải” vị trí trong khoảng Bắc Vĩ tuyến 42o 39’, Đông Kinh tuyến 78o 30’.

Hồ cao hơn mặt biển 1,600 m, dài 185 km, rộng 57 km, chỗ sâu nhất702 m.

Diện tích 6,200 cây số vuông.

Nhiệt Hải trước vốn thuộc Trung Quốc nhưng năm 1864 thì bị Nga chiếm.

Sầm Tham (716 - 770) có bài Hành về Nhiệt Hải, trích mấy câu như sau:

                   Trắc văn Âm Sơn Hồ nhi ngữ,

                   Tây đầu Nhiệt Hải thủy như chử.

                   Hải thượng chúng điểu bất cảm phi,

                   Trung hữu lí ngư trường thả phì.

                   Ngạn bàng thanh thảo thường bất hiết,

                   Không trung bạch tuyết dao tuyền diệt.

                   (Nhiệt Hải hành tống Thôi Thị Ngự hoàn Kinh).

                                             Mé bên Âm Sơn rợ bàn gẫu,      

                                             Bên Tây Nhiệt Hải nước như nấu.

                                             Trên biển chim chóc chẳng dám bay,

                                             Vừa béo lại to cá chép đây.

                                             Cỏ xanh ven nước thường vẫn ánh,

                                             Trên không tuyết trắng xa rồi tán. 

Và 2 câu cuối (câu 15, 16):

                      Bách Đài sương uy hàn bức nhân,

                      Nhiệt Hải viêm khí vi chi bạc!

                                                Sử đài sương căm lạnh khiếp người,

                                                Nhiệt Hải nồng bức hơi dồn ép!

Thời cổ, trong khuôn viên của Phủ Ngự Sử trồng nhiều cây bách, bởi thế mà người ta gọi Ngự Sử Đài, nơi các quan Ngự Sử làm việc, là Bách Đài.

- “........... Thị thời Ngự Sử phủ lại xá bách dư khu, tỉnh thủy giai kiệt; hựu kỳ Phủ trung liệt bách thụ, thường hữu dã điểu sổ thiên thê túc kì thượng, thần khứ mộ lai, hiệu viết ‘triêu tịch điểu’. Điểu khứ bất lai giả sổ nguyệt, trưởng lão dị chi ......”.

Hán Thư. Qu. XXCIII. Chu Bác truyện  /.

- “............ Bấy giờ trong phủ Ngự Sử có hơn một trăm căn nhà nhỏ, giếng nước ở đây đều khô cạn; rồi trong (khuôn viên) Phủ trồng (nhiều) cây bách, trên cây thường có cả mấy ngàn con chim rừng tới ở, sáng bay đi chiều tối về, gọi là ‘triêu tịch điểu’. (Có lần) Chim bay đi cả mấy tháng không trở về, những người già cả đều kinh ngạc...... “.  

Bách Đài ở đây chỉ nơi làm việc của quan Thị Ngự sử họ Thôi mà Sầm Tham đưa tiễn.

Ngự Sử Đài gồm có 3 Viện.

Sách “Nhân Thoại Lục” của Triệu Lân (? - ?) đời Đường viết:

- “Ngự Sử Đài tam Viện:

~ Nhất viết Đài Viện, kỳ liêu viết Thị Ngự Sử, chúng hô vi Đoan Công…

~ Nhị viết Điện Viện, kỳ liêu viết Điện Trung Thị Ngự Sử, chúng hô vi Thị Ngự…

~ Tam viết Sát Viện, kỳ liêu viết Giám Sát Ngự Sử, chúng hô dịch viết Thị Ngự…

Nhân Thoại Lục. Qu. V. Chủy Bộ. Ngự Sử Đài 5  /.              

- “Ngự Sử Đài có 3 Viện:

~ Một là Đài Viện, đồng liêu gọi là Thị Ngự Sử, mọi người gọi là Đoan Công…

~ Hai là Điện Viện, đồng liêu gọi là Điện trung Thị Ngự Sử, mọi người gọi là Thị Ngự…

~ Ba là Sát Viện, đồng liêu gọi là Giám Sát Ngự Sử, mọi người cũng gọi là Thị Ngự…”.

Chức Thị Ngự Sử lập dưới Tần triều (221 - 206 tr. Cn), Hán triều (206 tr.Cn - 220 Cn) cũng noi theo. Địa vị của Thị Ngự Sử dưới Ngự Sử Đại Phu.

Chức chưởng của Thị Ngự Sử gồm có các việc hoặc lo liệu việc trong Cung điện, hoặc nêu ra những việc phi pháp của các quan, hoặc thanh tra quận, huyện, hoặc xuất Sứ.

Thời Đông Hán (25 - 220) đặt thêm chức Trị Thư Thị Ngự Sử, mọi việc lúc vua ăn chay viên chức này hầu một bên lo việc văn thư. Sau cũng coi các việc về Tư pháp.

Từ thời Ngụy (220 - 265) về sau lại có chức Điện Trung Thị Ngự Sử ở trong Cung xem xét các việc phi pháp.

Thời Đường (618 - 907) cải Trị Thư Thị Ngự Sử thành Ngự Sử Trung Thừa, là phó của Ngự Sử Đại Phu, và các chức Thị Ngự Sử, Điện Trung Thị Ngự Sử, Giám Sát Ngự Sử phân ra cầm đầu Đài Viện, Điện Viện, Sát Viện 3 Viện của Ngự Sử Đài.

Các chức Ngự Sử có trách vụ xét việc làm phi pháp của các quan, can gián vua, vì vậy quan lại làm việc bất pháp đều sợ các chức này, giống như gặp sương lạnh. Vì vậy mà Sầm Tham viết “Bách đài sương uy hàn bức nhân”.

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

~ Không rõ Thích Như Điển có biết là danh xưng “Nhiệt Hải- mà Thích Như Điển dịch là “biển nóng”, là ghi chú của Huyền Trang, trong nguyên tác in chữ nhỏ, trong dịch văn của tôi, để phân biệt, tôi cũng ghi chữ nhỏ và để trong ngoặc đơn.

Ở đây Thích Như Điển đã để chính văn và ghi chú của tác giả lẫn lộn.

Lại nữa, Nhiệt Hải là tên riêng, nên để nguyên không dịch thì phải hơn!

Trong ghi chú của Huyền Trang, ngoài Nhiệt Hà, Đại Thanh Trì còn 1 tên gọi khác nữa là “Hàm Hải” (Biển Mặn). Thích Như Điển không rõ tên gọi thứ 2 này của Nhiệt Hải, tức thiếu mất 4 chữ “hựu vị Hàm Hải” trong ghi chú của Huyền Trang.

Thích Như Điển nói là mình dịch “Đại Đường Tây Vực Kí” từ bản chữ Hán, thế nhưng không hiểu sao Thích Như Điển lại dịch thiếu rất nhiều chữ, và tất cả đều là những chữ thông thường?

Hay là ở đây Thích Như Điển cũng giở tròlòe bịp thiên hạ như Phạm Văn Bân khi dịch cuốn “Chân Lạp Phong Thổ Ký”? Hoặc nói cho rõ hơn, Thích Như Điển đã dịch cuốn “Đại Đường Tây Vực Ký” từ 1 bản dịch Anh văn, hay Pháp văn, hoặc giả cũng có thể từ một bản dịch Đức văn màlại đi bịp, nói là dịch từ bản gốc Hán văn ?

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Sunday, 12 December, 2010 23:29