Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Diễn đàn - Lưu bút

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo

Minh Di - Tạp chí Dân Văn

Đại Đường Tây Vực Ký
Phê bình bản dịch của Thích Như Điển

( Chùa Viên Giác - Đức quốc )

Kỳ 1

Kính thưa quí Độc giả các Diễn Đàn,

Từ hơn 20 năm nay, TCDV chủ trương và cổ võ việc phê bình văn học, học thuật, vì một cuốn sách “viết sai, dịch sai” sẽ di hại các thế hệ sau. Văn phong phê bình là của người viết, TCDV tôn trọng người phê bình và người “bị” phê bình, mong rằng người bị phê bình có óc cầu tiến và phục thiện để sửa chữa các “sai sót” khi tái bản tác phẩm...

TCDV cũng sẵn sàng đăng tải các “phản bác” của người “bị” phê bình.

Hôm nay, một điều thú vị, người “bị” phê bình là một tu sĩ Phật Giáo.

Bài phê bình này dài khoảng 100 trang DIN A4, để các Diễn đàn đăng được trọn vẹn, nên TCDV chia ra thành nhiều kỳ.

Theo đề nghị của nhiều độc giả, yêu cầu TCDV post bài phê bình này tiếp tục cho đến khi nào Dịch giả TNĐ lên tiếng, một là Dịch giả “phản bác” những điểm Anh Minh Di đã phê bình, hai là đón nhận bài phê bình với tinh thần cầu tiến và xin Anh Minh Di cho phép để in bài phê bình trong tác phẩm ĐẠI ĐƯỜNG TÂY VỰC KÝ khi tái bản…nhưng trước khi tái bản phải hủy bỏ các ấn bản đã phát hành.

Như thường lệ, quý vị nào cần ngay cả bài, xin liên lạc với TCDV, chúng tôi sẽ gởi đến hầu Quý vị.

Trân trọng,

Germany, 15.10.2010

Chủ Nhiệm TCDV,

Lý Trung Tín

-------------------------------------------------

Dẫn Nhập.

Năm đầu Niên hiệu Trinh Quan (627 - 649), Pháp sư Huyền Trang (600 - 664) theo sắc chỉ của Đường Thái tông (599 - 649; tại vị: 627 - 649) đi Thiên Trúc thỉnh Kinh Phật.

Huyền Trang đã từ Ngọc Môn Quan đi về hướng Tây để qua Thiên Trúc.

[Theo các Từ điển và Từ điển Lịch Sử thì Huyền Trang sinh năm 602.

Ở đây tôi căn cứ Bản “Đại Đường Tây Vực Ký Hiệu Chú” của nhóm Quí Diễn Lâm].

- Vào khoảng đầu năm Giáp Thìn (năm 644) Huyền Trang rời Thiên Trúc về nước, để tới ngày 7 tháng Giêng năm Ất Tỵ (tức 645), nhằm năm thứ 19 Niên hiệu Trinh Quan thì ông về tới Trường An, Kinh đô Đường triều, chở về mấy trăm bộ Phật Kinh.

Thời gian ở Thiên Trúc Huyền Trang học Phạn ngữ với Giới Hiền, và ông cũng từng có những cuộc biện luận với tăng chúng Thiên Trúc, tiếng tăm một thời tại nước này.

Trên đường đi, đi qua nước nào Huyền Trang cũng ghi lại vài giòng về Lịch sử, Địa lý cũng như thổ sản, phong tục, tập quán của nước đó, và nhất là về tình hình Phật giáo như tình trạng Chùa chiền, Tăng chúng, Tông phái, cũng như một vài nét về tình hình  ngoại đạo ở các nước ông đi qua, và ông đã đi qua tất cả 139 nước, lớn nhỏ.

Đây là những ghi chép quí giá, 1 sử liệu rất giá trị về tình hình của một số nước ở vùng Trung Á và Ấn Độ thời cổ.

Khi về những ghi chép trên đây được sắp xếp lại để thành tác phẩm trứ danh ngày nay chúng ta biết là “Đại Đường Tây Vực Ký”. Về nước năm trước thì tới tháng 5 (âm lịch) năm sau (646) Huyền Trang hoàn tất tác phẩm nói trên - được sư Biện Cơ ghi lại theo lời kể của ông. 

                                                                           &

Năm 2003, Thích Nh ư Điển qua Úc, lưu lại 3 tháng, và ngồi dịch Bộ “Tây Vực Ký” này với sự “trợ dịch”, theo như Thích Như Điển ghi trong bản dịch, của 2 tỳ kheo ở tại Úc là Thích Đồng Văn, Thích Hạnh Giới. Bản dịch này xuất bản năm 2004.

Nhập.

Đại Đường Tây Vực Ký có một bài Đề tựa của Trương Duyệt (667 - 730) đời Đường.

Cuối bài Đề tựa ghi:

- “Thượng thư Tả Bộc xạ Yên Quốc công vu Chí Ninh chế”.

Thích Như Điển phiên âm:

- “Thượng Thơ Tả Bộc Xạ Yến Quốc Công Trương Thuyết soạn”.

Chỉ một câu 11 chữ mà Thích Nh ư Điển đã sai tới 2 lỗi về phiên âm Hán Việt:

1). Yến Quốc Công.

Phiên âm sai chữ “Yến” (Yên + dấu Sắc). Âm chính xác là “Yên” (không dấu giọng).

Chữ “Yến” (= chim én) phải đọc là “Yên nếu chỉ Địa danh, ở đây tức chỉ nước Yên thời Chiến Quốc (403 - 221 tr. Cn), địa vực cổ hiện nay thuộc huyện Đại Hưng tỉnh Hà Bắc.

Do đó, cho đến hiện nay Yên cũng là biệt danh của tỉnh Hà Bắc

Đây là phép gọi là Giả tá trong Lục Thư (6 phép tạo văn tự), tứcmượn một chữ nhưng đọc âm khác. Âm đã khác do đó ý nghĩa cũng khác đi.

Giả tá còn gọi là Thông tá.  

2). Trương Thuyết.

Chữ “Thuyết” (= Nói) ở đây phải đọc âm “Duyệt” (= Vui vẻ).

Ở đây cũng là trường hợp Giả tá đã nói trên.

                                                                           #

Trên đây là điều căn bản. Căn bản mà còn Sai như thế thì những chuyện khác thì sao?

Tiếp đây tôi sẽ nói những chuyện khác đó trong bản dịch Việt văn Bộ “Tây Vực Kí” của Thích Nh ư Điển, với sự trợ dịch của 2 tỳ kheo Thích Đồng Văn, Thích Hạnh Giới.

- Mỗi đoạn của nguyên tác tôi dẫn dịch văn của Thích Như Điển về đoạn này.

- Tiếp đến là phần dịch của tôi để độc giả đối chiếu.

- Tiếp đến nữa, trong điều mục có tiêu đề “+ Những cái Sai của Thích Như Điển” tôi sẽ phân tích từng câu trong phần dịch của Thích Như Điển, đối chiếu với nguyên tác, để độc giả có một nhận định thực chính xác về mức độ Sai lầm của Thích Như Điển!

Việc sau tuy trùng lập nhưng cần thiết, để độc giả có thể đối chiếu dễ hơn, và rõ hơn!

                                                                           #

Trong “Lời tựa” cho bản dịch “Đại Đường Tây Vực Ký”, Thích Như Điển viết:

- “Quý vị đang cầm trên tay quyển “Đại Đường Tây Vức Ký” được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.

Xin tạ ơn Tam bảo đã soi chiếu cho chúng con để lần dò từng câu văn từng ý chữ mà ngài Huyền Trang, một bậc danh tăng đời Đường đã thể hiện trọn vẹn hết tâm ý khi đi chiêm bái, học hỏi và ghi lại nơi Thánh Địa ròng rã 17 năm trời...…”.

.........................................................…

Chúng tôi được một điều là biết thêm tiếng Nhật, cho nên việc tra cứu có phần dễ hơn một ít. Riêng chữ Hán nào không rõ thì phải tra tự điển cùng với Thầy Đồng Văn để làm cho rõ nghĩa trước khi dịch. Thầy Đồng Văn biết nhiều chữ Hán và đã tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học ở Ấn Độ năm 2001 tại Đại Học New Delhi nên những phong tục tập quán và địa danh Thầy ấy tương đối rành rẽ.

Sau khi dịch xong chúng tôi trao qua Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, bào huynh của tôi cũng đã tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo Thiền Tào Động (Komazawa) tại Nhật để xem lại cho thật kỹ một lần nữa, trước khi cho in thành sách. Cho nên có thể tin tưởng thêm một phần lớn của dịch phẩm này. Thêm vào đó, Hạnh Giới là đệ tử xuất gia của tôi cũng mới vừa tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học về Tôn Giáo và Ngôn Ngữ Học tại Đại Học Hannover, Đức Quốc cũng đã phụ lực trong việc đánh máy, tham cứu bài vở.......…”.

(Trang 1 và trang 8).

~ Trong những trang phê bình sau đây tôi cũng sẽ “lần dò từng câu văn từng ý chữđể coi bộ 4 dịch thuật, gồm Thích Như Điển cầm đầu đứng tên, 2 ông tiến sĩ trợ dịch và 1 ông hòa thượng duyệt xét bản dịch, làm ăn ra làm sao? và nhất là để coi dịch phẩm  của bộ 4 này “có thể tin tưởng thêm phần lớn” như lời của ông đứng tên hay không?

Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo.

Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo.

Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo.

Lạy Tổ Duy Thức Tông!

Nguyên tác. A Kỳ Ni Quốc      01 / 34.

-A Kỳ Ni Quốc Đông Tây lục bách dư lí, Nam Bắc tứ bách dư lí. Quốc Đại Đô thành chu lục, thất lí, tứ diện cứ sơn , đạo hiểm, dị thủ. Tuyền, lưu giao đới, dẫn thủy vi điền.

Thổ nghi: môn, thử, túc mạch, hương tảo, bồ đào, lê, nãi chư quả. Khí tự hòa sướng, phong tục chất trực. Văn tự thủ tắc Ấn Độ, vi hữu tăng tổn..… Vương, kì quốc nhân dã, dũng nhi quả lược, hiếu tự xưng phạt. Quốc vô kỷ cương, Pháp bất chỉnh túc”.

Đại Đường Tây Vực Ký. Qu. I. A Kỳ Ni Quốc  /.

Thích Như Điển dịch.

- “Nước A Kỳ Ni, đông tây hơn sáu trăm dặm. Nam bắc hơn bốn trăm dặm, chu vi của Thủ đô 67 dặm. Bốn phía bao bọc bởi núi non hiểm trở. Sông ngòi ao hồ, lấy nước đó làm ruộng. Ruộng ấy cấy lúa. Trồng hoa, trồng nho, lê và các thứ cây ăn quả khác. Khí hậu điều hòa, phong tục chất trực. Chữ nghĩa lấy từ tiếng Ấn Độ..… Vua của nước này là người dõng mãnh mưu lược; nhưng nước không có kỷ cương, luật pháp không chỉnh đốn”.

(Trang 32).

Minh Di.

-Nước A Kỳ Ni từ Đông qua Tây dài hơn 600 dặm, từ Nam lên Bắc xa hơn 400 dặm. Kinh Thành nước này chu vi 6, 7 dặm, bốn bề dựa núi, đường đi hiểm trở, (ở vị trí) dễ phòng thủ. Sông, suối liền nhau, (dân ở đây) dẫn nước vào để làm ruộng. Thổ sản có: (lúa) , lúa nếp, lúa mạch, táo (tàu), nho, lê, táo, các thứ trái cây. Khí hậu ôn hòa, dễ chịu, con người thành thực, thẳng thắn. Văn tự thì theo qui tắc của chữ viết Ấn Độ, có sửa đổi đôi chút ...... Vua là người bản xứ, dũng cảm nhưng kém mưu lược, thích việc chinh phạt. Quốc gia thì không phép tắc, Pháp luật thì lỏng lẻo”.

[Phụ chú.

1 xích thời Huyền Trang tính ra hệ thống SI tương đương 0.311 m.

10 xích = 1 trượng = 3.11 m.

10 trượng = 1 dẫn = 31.10 m.

18 dẫn = 1 Lí = 18 x 31.10 m = 559.8 m, tức hơn nửa cây số một chút.

600 dặm = 600 x 559.8 = 335.88 km.

400 dặm = 400 x 559.8 = 223.92 km.

Vậy, diện tích của nước A Kỳ Ni = 335.88 km x 223.92 km = 75,210.249 km2].

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

Dịch sai, dịch thiếu.

~ Chu vi của Kinh thành A Kỳ Nikhoảng 6 hoặc 7 dặm - chứ không phải là 67 dặm như Thích Như Điển dịch.

~ Thích Như Điển dịch thiếu 2 chữ “dị thủ”, nghĩa là dễ phòng thủ.

~ Câu “Tuyền, lưu giao đới” Thích Như Điển dịch là “Sông ngòi ao hồ” thì không xuôi.

~ Thích Như Điển dịch thiếu 2 chữ “thổ nghi” (= thổ sản).

~ Vọng tả, vọng tả!

Thích Như Điển nói trong đoạn dịch trên đây của ông ta là xứ A Kỳ Nitrồng hoa”.

Nếu vậy, xin Thích Như Điển chỉ cho tôi và độc giả chỗ nào trong nguyên tác dẫn trên nói tới việc trồng hoa mà ông vọng tả ra đó. Vọng tả, vọng tả!

~ Các thực vật, cây trái, thổ sản của xứ A Kỳ Ni nguyên tác liệt kê tất cả 7 thứ, nhưng Thích Như Điển chỉ dịch có 2 thứ là “nho” và “”.

~ Trong nguyên tác, tiếp liền sau câu Văn tự thủ tắc Ấn Độ” (“Chữ viết theo Ấn Độ”) là câu “vi hữu tăng tổn”, nghĩa là “có sửa đổi đôi chút- chẳng hiểu Thích Như Điển giấu câu sau này đi đâu mà không dịch?

Lại nữa, “Văn tự” mà Thích Như Điển dịch là “Chữ Nghĩa” thì đúng xa rời chữ nghĩa!

~ Câu “Vương, kì quốc nhân dã”, Thích Như Điển dịch là “Vua của nước này”, dịch vậy vẫn chưa tận ý của nguyên tác, là nhấn mạnh ông vua nước này là dân bản xứ!

~ Sau cùng, Thích Như Điển lại tiếp tục dịch thiếu. 

Trong nguyên tác: tiếp liền sau câu “dũng nhi quả lược” (“can đảm mà kém mưu lược”) là câu “hiếu tự xưng phạt”, nghĩa là “thích việc chinh phạt- Câu sau này độc giả cũng không thấy Thích Như Điển dịch.

~ Nguyên tác: “Thổ nghi: môn, thử, túc mạch, hương tảo, bồ đào, lê, nãi chư quả”.

- Thổ sản có: (lúa) , lúa nếp, lúa mạch, táo (tàu), nho, lê, táo, các thứ trái cây”.

Thích Như Điển dịch:

-Trồng hoa, trồng nho, lê và các thứ cây ăn quả khác”.

Thích Như Điển dịch vừa sai lại vừa thiếu! Nhưng ở đây tôi muốn nói thêm 1 điểm. 

2 chữ “chư quảchỉ các thứ trái cây “táo (tàu), nho, táo” liệt kê trước đó, không chỉ các thứ trái cây khác, Thích Như Điển hiểu chưa tới, tưởng như vậy. Nói rõ hơn, 2 chữ này được đặt ở sau để tóm lại những trái cây đã liệt kê trước đó. Nếu viết xuôi câu trên sẽ như sau: -Chư quả hương tảo, bồ đào, lê, nãi”.

Nguyên tác. Khuất Chi Quốc      02 / 34.

-Khuất Chi Quốc Đông Tây thiên dư lí, Nam Bắc lục bách dư lí. Quốc Đại Đô thành chu thập thất, bát lí. Nghi môn, mạch, hữu canh đạo, xuất bồ đào, thạch lựu, đa lê, nãi, đào, hạnh. Thổ sản: hoàng kim, đồng, thiết, diên, tích. Khí tự hòa, phong tục chất”.

Sđd. Qu.I. Khuất Chi Quốc  /.

Thích Như Điển dịch.

- “Nước Quật Chi đông tây hơn ngàn dặm. Nam bắc hơn 600 dặm. Thủ đô của nước này là 78 dặm. Có trồng lúa mạch, nho, lựu và nhiều đào lê. Những thổ sản như vàng, đồng, thiếc, khí hậu phong tục ôn hòa”.

(trang 33).

Minh Di.

- “Nước Khuất Chi Đông – Tây dài hơn một ngàn dặm, Nam - Bắc xa hơn 600 dặm. Kinh thành của nước này chu vi 17, 18 dặm. Thổ sản: có lúa kê, lúa mạch, có cả giống  lúa muộn, trồng nho, thạch lựu, có nhiều lê, táo, đào, mơ. Khoáng sản: có vàng, đồng, sắt, chì, thiếc. Khí hậu ôn hòa, phong tục chất phác”.

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

~ Chữ “Khuất” trong tên “Khuất Chi Quốc” cũng có một âm đọc là “Quật”, nhưng ở đây phải đọc là “Khuất”. Tức Khuất Chi, không phải Quật Chi như Thích Như Điển viết.

Khuất Chi tức nước Khâu Tư, nay là Khu Tự trị Duy Ngô Nhĩ, tỉnh Tân Cương.

~ Chu vi của Kinh thành Khuất Chi là 17 hoặc 18 dặm, Thích Như Điển lại nói 78 dặm!

Trước hết, Thích Như Điển dịch thiếu chữ “thập” (= 10), và cũng như trước đây, ông ta thấy 2 con số gần nhau cứ thế mà ráp lại, mà không biết rằng những con số đứng liền nhau chỉ chiều dài hay chu vi trong “Tây Vực Ký” độc lập, mỗi số là 1 trị số khác.

~ Về cây trái thực vật Thích Như Điển dịch thiếu các thứ lúa kê (môn), lúa muộn (canh) và táo (nãi), rồi (hạnh).

Đây là chưa nói trước những thực vật được liệt kê trong nguyên tác có chữ “Nghi”, tức tiếng “Thổ nghi” (Thổ sản) viết tắt, chữ này Thích Như Điển đã dịch thiếu.

~ Về khoáng sản Thích Như Điển dịch thiếu 2 khoáng sản “sắt” (thiết) và chì (diên).

~ Nguyên tác:Phong tục chất” (“phong tục chất phác”), nhưng Thích Như Điển lại dịch là “phong tục ôn hòa”! Ở đây chỉ tính tình của người Khuất Chi chất phác.

Cũng trong phần tự thuật về nước Khuất Chi, tập Tây Vực Ký chép:

-Quốc đông cảnh thành bắc Thiên Từ tiền hữu Đại Long Trì. Chư long dịch hình giao hợp tẩn mã toại sinh long câu, lộng lệ nan ngự; long câu chi tử phương nãi tuần giá. Sở dĩ thử quốc đa xuất thiện mã”.

Sđd. Qu. I. Khuất Chi Quốc. Đại Long Trì cập Kim Hoa Vương  /.

Thích Như Điển dịch:                  

- “Phía đông của quốc gia này có một cái ao rất lớn. Nơi đó xuất hiện nhiều con rồng hay lấy nhau với ngựa sanh ra ngựa rồng trông rất khó coi. Ngựa rồng được huấn luyện thuần thục. Cho nên nước này có nhiều ngựa hay”.

(trang 33).

Minh Di.

- “Ở miền Đông nước này, ở phía Bắc thành, trước miếu Thiên Từ có một cái ao tên là Đại Long Trì. Những con rồng ở trong ao này biến hình mà giao hợp với ngựa cái để sinh ra giống ngựa gọi là long câu, (giống ngựa này) rất khó cỡi; (phải đến đời) con của long câu thì mới huấn luyện để cỡi được. Bởi vậy nước này có nhiều ngựa hay”.

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

Cứ đối chiếu nguyên tác, và dịch văn của tôi độc giả thấy ngay Thích Như Điển đã dịch tầm bậy tầm bạ, thiếu rất nhiều.

~ Trước hết về vị trí chính xác của Đại Long Trì Thích Như Điển không biết.

~ Nguyên tác: “Những con rồng (ở trong ao) biến hình” (“Chư long dịch hình”), câu này không thấy trong dịch văn của Thích Như Điển.

~ Câu dịch “Nơi đó xuất hiện nhiều con rồng hay lấy nhau với ngựa sanh ra ngựa rồng trông rất khó coicủa Thích Như Điển có mấy chỗ thực ba láp!

Vì không hiểu câu lộng lệ nan ngự là gì Thích Như Điển dịch láo là “trông rất khó coi”.

2 chữ “lộng lệ [ ]” nghĩa là rất”. Lộng lệ nan = rất khó.

Khang Hi Tự Điển: “Lộng lệ, ngận dã”. [ , ]: “Lộng lệ, nghĩa là rất”.

Ngoài ra, nguyên tác nói rõ là “rồng giao hợp với ngựa cái” [tẩn mã], trong khi câu dịch của Thích Như Điển nói khơi khơi là ngựa, không biết là ngựa đực hay ngựa cái?

~ “Ngựa rồng được huấn luyện thuần thục”, câu dịch này của Thích Như Điển chẳng ra đầu cua tai nheo gì hết, thực là lạc lõng!

Chỉ một đoạn văn ngắn như thế mà Thích Như Điển sai, thiếu tới chừng đó, và Câu cú thì lủng cà lủng củng, rời rạc chẳng câu nào ăn với câu nào, đúng là “bất khả tư nghì”! 

Cũng ở Khuất Chi quốc, ở một đoạn dưới nữa:

-Hoang thành Bắc tứ thập dư lí, tiếp sơn a cách nhất hà thủy, hữu nhị già lam, đồng danh Chiêu Hổ Ly, nhi Đông, Tây tùy xứng. Phật tượng trang sức đãi việt nhân công! Tăng đồ thanh túc, thành vi cần lệ. Đông Chiêu Hổ Ly Phật đường trung hữu ngọc thạch, diện quảng nhị xích dư, sắc đới hoàng bạch, trạng như hải cáp, kỳ thượng hữu Phật túc lí chi tích, trường xích hữu bát thốn, quảng dư lục thốn hĩ! Hoặc hữu trai nhật chiếu chúc quang minh”.

Sđd. Qu.I. Khuất Chi Quốc. Chiêu Hổ Ly nhị Già lam  /.

Thích Như Điển dịch:

-Hoàng thành phía bắc hơn 40 dặm giáp với núi và sông. Có hai ngôi chùa cùng có tên Chiếu Cổ Cốc; nhưng Đông Tây thì tùy xưng. Sự trang sức Phật tượng do nhân công làm lấy. Tăng tín đồ dùng trai thanh tịnh. Tại Phật đường chùa Chiếu Cổ này có ngọc thạch. Mặt dài hai tấc, màu vàng và trắng giống như nước biển. Tại đây cũng có dấu chân của Đức Phật, chiều dài cở tám tấc, chiều rộng cở sáu tấc. Những ngày lễ lạc đều có thắp đèn”.

(trang 34).

Minh Di.

- “Phía Bắc thành hoang hơn 40 dặm, bên ven núi, cách một con sông, có 2 ngôi chùa cùng tên Chiêu Hổ Ly, 1 chùa bên Đông, 1 chùa bên Tây, đối xứng nhau. Tô điểm cho các tượng Phật đại khái do nhân công từ xa tới phụ trách! Tăng chúng thì thanh tịnh trang nghiêm, thành tâm siêng năng (tu tập). Trong Phật đường Chùa Chiêu Hổ Ly bên Đông có một phiến ngọc thạch, bề mặt rộng hơn 2 thước, màu trắng ánh vàng, có dạng như loài trai sò biển, trên mặt có dấu chân Phật dài 1 thước 8 tấc, rộng hơn 6 tấc! Vào những ngày chay có lúc phiến ngọc thạch này phát ra ánh sáng rỡ ràng”.

[Phụ chú.

Như đã nói, 1 thước (xích) đời Đường = 31.1 cm (0.311 m).

1 tấc (thốn) bằng 1 / 10 xích, tức = 3.11 cm (0.0311 m).

Dấu chân Phật kể trên dài 1 xích 8 thốn là dài:

(1 x 31.1 cm) + (8 x 3.11 cm) = 31.1 cm + 24.88 cm = 55.88 cm.

Dấu chân Phật rộng 6 tấc là rộng:

6 x 3.11 cm = 18.66 cm]. 

+ Những cái Sai của Thích Như Điển.

Cứ đối chiếu 2 đoạn dịch văn trên đây độc giả thấy ngay những cái sai về phiên âm, về phiên dịch của Thích Như Điển. Những cái sai, cái bá láp của Thích Nh ư Điển:

~ Nguyên tác: “Hoang thành (Thành hoang) dịch là “hoàng thành”,

~ Nguyên tác: “tiếp sơn a, cách nhất hà thủy (bên ven núi, cách một con sông)” thì dịch rất là ba láp là “giáp với núi và sông”.

~ Tên Chùa “Chiêu Hổ Ly” đọc thành “Chiếu Cổ Cốc”.

Cả 3 Chữ phiên âm đều sai cả 3! Tôi đến không rõ Thích Nh ư Điển mò được ở đâu ra cái tên Chiếu Cổ Cốc này?

Chiêu Hổ Ly .   

Và “tùy xứng” (đối xứng) lại đọc sai là “tùy xưng”, và rồi cũng bởi không hiểu 2 chữ này nghĩa là gì, túng quá, không biết phải dịch ra làm sao, Thích Như Điển rồi để nguyên là “tùy xưng”.

~ Nguyên tác nói là: “Nhân công tô điểm tượng Phật là nhân công từ xa tới”, thế nhưng Thích Như Điển lại dịch sai lạc là “Sự trang sức Phật tượng do nhân công làm lấy”.

~ Nguyên tác: “Tăng chúng thì thanh tịnh trang nghiêm, thành tâm siêng năng (tu tập)”.

Thích Như Điển lại dịch rất ba láp là “Tăng tín đồ dùng trai thanh tịnh”   

~ Về màu sắc cũng như kích thước chính xác của phiến ngọc thạch trong Phật đường của Chùa Chiêu Hổ Ly bên Đông cũng viết ba láp.

Chúng ta hãy nghe Thích Như Điển nói lếu láo: “Tại Phật đường chùa Chiếu Cổ này có ngọc thạch. Mặt dài hai tấc, màu vàng và trắng giống như nước biển”.

> Nguyên tác tả là “Phiến ngọc thạch này bề rộng hơn 2 thước, sắc trắng ánh vàng, có hình dạng như vỏ trai sò ở biển”.

~ Và rồi, thêm 1 cái lếu láo nữa: Tại đây cũng có dấu chân của Đức Phật, chiều dài cở tám tấc, chiều rộng cở sáu tấc”.

> Nguyên tác: “Dấu chân Phật dài 1 thước 8 tấc, rộng hơn 6 tấc”.

~ Một cái lếu láo sau cùng của Thích Như Điển: “Những ngày lễ lạc đều có thắp đèn.

> “Vào những ngày chay có lúc phiến ngọc thạch này phát ra ánh sáng rỡ ràng”.

Nguyên tác ghi rành rành là “ngày Chay” (“Trai nhật”) mà Thích Như Điển dịch tầm bậy là “ngày lễ lạc”....…

Cũng nước Khuất Chi, ở một đoạn dưới nữa:

- “Đại thành Tây môn ngoại lộ tả hữu các hữu lập Phật tượng cao cửu thập dư xích. Ư thử tượng tiền kiến ngũ niên nhất đại hội xứ. Mỗi tuế Thu phân sổ thập nhật gian, cử quốc tăng đồ giai lai hội tập. Thượng tự Quân vương, hạ chí sĩ thứ quyên phế tục vụ, phụng trì trai giới, thụ Kinh, thính Pháp, khát nhật vong bì. Chư tăng già lam trang  nghiêm Phật tượng .

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 15 December, 2010 9:10