Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

 

Biên Khảo Lịch sử

Minh Di

Chiến sự năm Kỷ Dậu 1789
  

Dẫn nhập

+ Năm 1788 Nguyễn Huệ đưa quân ra Bắc hà diệt Vũ Văn Nhậm, Đốc phủ Cao Bằng là Nguyễn Huy Tú hộ tống mẹ và vợ Lê Chiêu Thống (1766 - 1793) cùng với tông tộc tất cả là 200 người từ Cao Bằng lên thuyền trốn chạy tới tận Bác Thiểm Khê Hà ở ven Long Châu, phu? Thái Bình, tỉnh Quảng Tây. (Vũ Văn Nhậm, Thanh Sử Cảo chép là Nguyễn Nhậm).
Tổng đốc lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị (1720 - 1796), Tuần phu? Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh (? - ?) trình sự việc lên Thanh Cao tông (1711 - 1799; tại vị: 1735 - 1795) vì lẽ Lê triều vẫn triều cống hơn trăm năm nay, vì thế ra lệnh đưa gia đình, tông tộc Lê Chiêu Thống về ở Nam Ninh. Tiếp đó ra lệnh điều động quân binh hỏi tội Nguyễn Huệ, giúp ho. Lê khôi phục ngôi vị.
(Tham khảo Thanh Sử Cảo. Qu. DXXVII (Qu. 527). Ngoại quốc Truyện 2. Việt Nam).
 
- Về số quân binh Thanh triều điều động qua chinh phạt An Nam cuốn 'Việt Nam Sử Lược' của ông Trần Trọng Kim (1882 - 1953) nói là 20 vạn quân, tức 200,000 quân.
(Tham khảo Việt Nam Sử Lược. Quyển 2. Chương XỊ Nhà Nguyễn Tây Sơn.
Hiện tôi chỉ có trong tay cuốn Việt Nam Sử Lược, do đó, ở đây tôi chỉ đối chiếu những ghi chép của Thanh Sử với bộ này).

Và, từ trước tới nay hầu hết vẫn tin rằng con số kể trên là chính xác, thậm chí có người không rõ đọc ở đâu lại nâng con số này lên tới 29, 30 vạn, tức 290,000 và 300,000 quân? 
Trong phần mở đầu bài khảo luận về thư tịch viết bằng Hán văn của Việt Nam đời trước, tiêu đề là 'An Nam Thư Lục', ngay câu đầu tiên học gia? Phùng Thừa Quân (1887 - 1946) viết:
- 'An Nam quan, tư trứ tác, kim nhật tán dật giả cố dĩ thậm đa; nhiên lưu tồn ư kim khả tư chỉnh lí ngã quốc Chính sử Ngoại quốc truyện chi dụng giả, thượng phục bất thiểú.
/  Tây Vực Nam Hải Sử Địa Khảo Chứng Luận Trứ Vị Tập. 16. An Nam Thư Lục  /.
Dịch văn:
- 'Các trứ tác công, cũng như tư của An Nam, ngày nay vốn đã mất mát rất nhiều; nhưng số còn lưu giữ được cho tới ngày nay có thể dùng để điều chỉnh các phần chép về Ngoại quốc trong các bô. Chính sử của chúng ta vẫn không phải là ít'.
Tương tự, ngày nay chúng ta cũng cần tham khảo thư tịch của người Trung Hoa để bổ túc những thiếu sót, điều chỉnh những sai lầm trong Lịch sử ta, bô. Cổ sử Việt Nam, do đó, sẽ chính xác hơn và từ đó nhận định về Lịch sử của chúng ta cũng bớt đi thiên lệch.
Chung quanh 1 Sự kiện Lịch sử đôi lúc có những thêm thắt, thêu dệt, thậm chí thần kỳ hóa..... và những điều này chủ yếu khởi đi từ tự hào dân tộc, chủng tộc, chính trị, tôn giáo........ Sự việc này không chỉ thấy nơi Lịch sử Việt Nam mà trong Lịch sử dân tộc nào cũng có, không ít thì nhiều.
Bài viết này nêu lên một số Sử liệu Trung Quốc để đối chiếu với một số ghi chép vẫn được dạy ở nhà trường, vẫn đọc thấy trong sách vở của chúng ta, từ trước đến nay. 
 
Trở lại vấn đề

- Sự việc của Trung Quốc, nhân sự của Trung Quốc thì chúng ta cứ coi Sử sách Trung Quốc, cứ coi Lịch sử Thanh triều là rõ ngay.
                                                                           &
Bộ 'Thanh Sử Cảó của nhóm Triệu Nhĩ Tốn (1844 - 1927) biên soạn đã ghi rõ ràng về các ngả tiến quân, quân số, cũng như việc điều động nhân sự của Thanh triều cuối năm 1788 như sau:
- 'Ngũ thập tam niên......
An Nam tiến binh lộ tam:
Nhất xuất Quảng Tây Trấn Nam Quan vi chính đạo.
Nhất do Quảng Đông Khâm Châu phiếm hải quá Ô Lôi sơn chí An Nam Hải đông phủ, vi Đường dĩ tiền chu sư chi đạo.
Nhất do Vân Nam Mông Tự huyện Liên hoa than lục hành chí An Nam chi Thao giang, nãi Minh Mộc Thạnh xuất sư chi đạo.
Tôn Sĩ Nghị cập Đề đốc Hứa Thế Hanh suất Lưỡng Quảng binh nhất vạn xuất quan, dĩ bát thiên trực đảo vương Kinh, dĩ nhị thiên trú Lượng Sơn vi thanh viện.
Kì Vân Nam Đề đốc Ô Đại Kinh dĩ binh bát thiên thủ đạo Khai Hóa phủ chi Mã Bá quan, du Đổ Chú hà nhập Giao Chỉ giới, thiên hữu bách lý nhi chí Tuyên Hóa Trấn - giảo Mộc Thạnh cựu lộ sảo cận.
Vân Quí Tổng đốc Phú Cương thỉnh hành, đế dĩ nhất quân bất khả nhị súy, mệnh trú quan ngoại Đô Long đốc thướng vận.
+ Thập nguyệt mạt, Việt sư xuất Trấn Nam Quan - Chiếu dĩ An Nam loạn hậu lao tịch bất kham cung ức vận thướng do nội địa. Điền, Việt lưỡng lộ thiết đài trạm thất thập dư sở, sở quá thu hào vô phạm.
- Tôn Sĩ Nghị, Hứa Thế Hanh do Lượng Sơn phân lộ tiến.
- Tổng binh Thượng Duy Thăng, phó tướng Khánh Thành suất Quảng Tây binh.
- Tổng binh Trương Triều Long, Lý Hóa Long suất Quảng Đông binh.
Thời thổ binh, nghĩa dũng, giai tùy hành, thanh ngôn đại binh sổ thập vạn, các thủ ải. Tặc vọng phong bôn độn, duy ách Tam Giang chi hiểm dĩ cứ.
/  Thanh Sử Cảo. Qu. DXXVII. Ngoại quốc Truyện 2. Việt Nam  /.
- 'Năm thứ 53......
Tiến binh qua An Nam gồm 3 ngã:
Một ngã xuất ở Trấn Nam Quan, đây là đường (tiến quân) chính.
Một ngã đi từ Khâm Châu tỉnh Quảng Đông, theo đường biển đi ngang qua núi Ô Lôi để tới phu? Hải Đông của An Nam, đây là đường của thủy quân (ta) từ thời Đường trở về trước.
Một ngã đi từ Bến Liên Hoa ở huyện Mông Tự tỉnh Vân Nam, theo đường bộ đến Sông Thao của An Nam, đây là con đường tướng Mộc Thạnh của Minh triều xuất quân.
Tôn Sĩ Nghị cùng Đề đốc Hứa Thế Hanh dẫn 1 vạn quân đất Lưỡng Quảng xuất cửa quan, phân 8,000 quân đánh thẳng vào Kinh đô, còn 2,000 quân thì trú đóng ở Lạng Sơn để tiếp ứng.
Phần Vân Nam thì Đề đốc Ô Đại Kinh dẫn 8,000 quân từ đồn Mã Bá, ở phu? Khai Hóa, vượt qua sông Đổ Chú tiến nhập biên cảnh Giao Chỉ, vượt qua một đoạn đường là 1,100 dặm mà tới Trấn Tuyên Hóa - so với con đường (tiến quân) ngày trước của Mộc Thạnh thì gần hơn một chút.
Tổng đốc Vân Nam, Quí Châu là Phú Cương xin đi đánh nhưng vì cớ 1 Quân không thể 2 Tướng chỉ huy nên hoàng đế lệnh cho Phú Cương trú đóng tại Đô Long ở mé ngoài quan ải, để đôn đốc việc chuyển vận quân lương.
+ Cuối tháng 10, quân binh Lưỡng Quảng ra khỏi Trấn Nam Quan - Vua ra Chiếu nói rằng sau cơn loạn lạc An Nam đã kiệt quệ, việc cung ứng không kham, quân lương sẽ do nội địa lo liệu. Ở Vân Nam, Lưỡng Quảng lập hơn 70 dịch trạm, (quân) tới đâu, tơ hào của dân không đụng tới.
- Tôn Sĩ Nghị, Hứa Thế Hanh từ Lạng Sơn chia đường mà tiến.
- Tổng binh Thượng Duy Thăng, phó tướng Khánh Thành chỉ huy cánh quân của Quảng Tây.
- Tổng binh Trương Triều Long, Tổng binh Lý Hóa Long chỉ huy cánh quân của Quảng Đông.
Bấy giờ các thổ binh, các quân nghĩa dũng đều đi theo, (ta lại) phao ngôn rằng đại quân có đến mấy chục vạn, tất cả đều trấn giữ các cửa ải. Giặc nghe ngóng được như thế thì trốn chạy xa, để chỉ trấn đóng ở chỗ hiểm yếu ở Tam Giang để chống cứ.
[Chú thích.
+ Ngũ thập tam niên. Năm thứ 53 nói đây tức năm thứ 53 niên hiệu Càn Long (1736 - 1795), tức năm 1788. Âm lịch là năm Mậu Thân.
+ Mông Tự huyện. Nằm về phía Tây phu? Khai Hóa, cách trị sơ? Văn Sơn (phu? Khai Hóa) khoảng 100 cây số.
Kinh độ 103o 24', Vĩ độ 23o 22'.
+ Thao giang. Tức Phú Lương giang. Coi chú thích ở 1 đoạn sau.
Từ huyện Mông Tự tới sông Thao ở biên giới Trung Hoa và Việt Nam hơn 100 cây số.
Căn cứ Bản đồ Lịch sử có Tỉ lệ 1 Ĩ 3,600,000 (1 cm = 36 cs), khoảng cách nói trên là 3.2 cm.
Tức 3.2 x 36 cs = 115.2 cây số.
+ Mã Bá. Mã Bá là 1 Cửa ải ở mé Đông nam phu? Khai Hóa, tỉnh Vân Nam, nằm tại phân cương 2 nước Trung Hoa và An Nam.
Vị trí đồn Mã Bá trên Bản đồ:
Kinh độ 104o 24', Vĩ độ 23o.
Từ Mã Bá tới khúc sông Đổ Chú gần nhất là khoảng hơn 40 cây số.
+ 1,100 dặm từ Mã Bá tới Tuyên Hóa. 1 dặm đời Thanh = 0.576 cây số.
Vậy 1,100 dặm =  1,100 x 0.576 cs  =  633.6 cây số.
+ Khai Hóa Phủ. Ở cuối miền Đông nam tỉnh Vân Nam, trị sở của Phủ đặt tại Văn Sơn.
Vị trí của trị sơ? Văn Sơn trên Bản đồ:
Kinh độ 104o 14', Vĩ độ 23o 33'.
+ Đô Long. Thị trấn ở cách đồn Mã Bá khoảng 20 cây số về phía Đông nam.
Vị trí thị trấn Đô Long trên Bản đồ:
Kinh độ 104o 33'. Vĩ độ 22o 55'.
(Vị trí của những địa khu trên đây:   
Tham khảo Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập. Thanh thời kỳ. Bản đồ 48 - 49. Vân Nam).
+ Tam Giang. Ngày trước là phu? Tam Giang, cách thành Thăng Long khoảng hơn 40 cs về phía Tây bắc. Ngày nay là tỉnh Vĩnh Phúc, ở mặt Đông là tỉnh Bắc Giang, mặt Tây là tỉnh Phú Thọ, ở phía Bắc là Tuyên Quang, và Đông bắc là Thái Nguyên.  
+ Thổ binh. Thổ binh là quân binh không chính qui, tức hương binh, nói theo thuật ngữ hiện nay là địa phương quân.
Thổ binh còn được gọi là Thổ quân, tức quân binh tại địa phương nói chung - trong đó bao gồm quân chính qui lẫn hương binh, nghĩa dũng. Ở đây nghĩa này không áp dụng.
Nghĩa dũng. Thời cổ, gặp lúc Quốc gia có chiến tranh, dân chúng tự động tổ chức thành đội ngũ chiến đấu để giúp nước, loại quân binh này được gọi là Nghĩa dũng.
Dưới thời Triệu Tống, hương binh cũng được gọi là quân Nghĩa dũng.
(Tham khảo Tống Sử. Qu. CXC. Binh chí 4].

Cứ như đoạn trên:
- Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị, Đề đốc Hứa Thế Hanh chỉ có 10,000 quân, tức 1 VẠN.
- Tổng binh Vân Nam là Ô Đại Kinh dẫn 8,000 quân xâm nhập Giao Chỉ.
Cộng lại chỉ có 18,000 quân, tức 1 VẠN 8,000 quân, trong đó 2,000 quân trú đóng tại Lạng Sơn để tiếp ứng chứ không trực tiếp tác chiến.

Tiếp theo đó 'Thanh Sử Cảó chép:
+ Thập nhất nguyệt, thập tam nhật Thượng Duy Thăng, Khánh Thành suất binh thiên dư, ngũ cổ để Thọ Xương giang. Tặc thoái bảo Nam ngạn, ngã binh thừa chi! Phù kiều đoạn, giai siêu phiệt trực thượng. Thời thiên đại vụ, tặc tự tương cách sát, ngã binh toại tận độ, đại phá chị - Trương Triều Long dịch phá tặc Trụ Thạch.
Thập ngũ nhật, tiến binh Thị Cầu giang, giang khoát thả nam ngạn y sơn cao ư bắc ngạn, tặc cứ hiểm liệt pháo ngã binh bất năng kết phiệt; chư quân dĩ giang thế liễu khúc tặc vọng bất cập viễn nãi dương vận trúc mộc, tạo phù kiều, thị tất độ, nhi tiềm binh nhị thiên ư thượng du nhị thập lý, lựu hoãn xứ dụng tiểu chu tiêu tế.
Thập thất nhật thừa phiệt bạc ngạn tương trì, thích thượng du binh dĩ nhiễu xuất kì bối, thừa cao đại hô hạ, kích thanh chấn sơn cốc. Tặc bất tri vương sư hà tự giáng, giai kinh hội.
Thập cửu nhật bạc Phú Lương giang. Giang tại Quốc môn ngoại. Tặc tận phạt duyên giang trúc mộc liễm chu đối ngạn. Nhiên dao vọng tặc trận bất chỉnh, tri kỳ chúng vô cố chí! Nãi mịch viễn ngạn, tiểu chu tái binh bách dư, dạ chí giang phục đoạt tiểu chu tam thập dư sưu, canh phiên độ binh nhị thiên, phân đảo tặc doanh. Tặc hôn dạ bất biện đa, quả, đại hội. - Phần kỳ thập dư sưu hoạch Tổng binh, Hầu bá sổ thập.
Lê minh, đại binh tất độ. Lê thị tông tộc, bách tính xuất nghinh phục đạo tả! - Tôn Sĩ Nghị, Hứa Thế Hanh nhập Thành tuyên úy; nhi xuất thành hoàn thổ lũy - cao bất sổ xích, thượng thực tùng trúc, nội hữu chuyên thành nhị, tắc Quốc vương sở cư cung thất dĩ đãng tận hĩ!
Nhi Lê Duy Kỳ nặc dân thôn, thị dạ nhị cổ, thủy xuất nghệ doanh kiến Tôn Sĩ Nghị, cửu đốn thủ tạ tiệp......
Nhị thập nhị nhật. Tuyên Chiếu sách phong Lê Duy Kỳ vi An Nam Quốc Vương, tịnh trì báo Tôn Vĩnh Thanh qui kỳ gia thuộc'.
Dịch văn:
- 'Tháng 11, ngày 13 Thượng Duy Thăng và Khánh Thành dẫn hơn 1,000 quân (lên đường), đến canh 5 thì tới sông Thọ Xương. Giặc lui về giữ Nam ngạn sông, quân ta thừa thế tiến lên! Nhưng cầu phao đứt quân ta đều lên bè tiến thẳng tới. Bấy giờ trời sương mờ mịt (nhìn không rõ, do đó) giặc giết lẫn nhau, quân ta nhờ đó qua sông được hết, đánh tan quân giặc. - Trương Triều Long cũng đánh tan được giặc ở Trụ Thạch.
Ngày 15, tiến quân tới sông Thị Cầu, sông rộng mà bờ Nam dựa núi, do đó cao hơn bờ bắc, giặc    
trấn giữ nơi hiểm yếu, dàn (đại) pháo khiến quân ta không kết bè được; các tướng nhân thế sông quanh co, khuất khúc, giặc không thể nhìn xa nên cho quân giả bộ chuyển vận tre và cây để làm cầu phao, cho thấy ta quyết ý qua Sông, trong khi đó ta tiềm phục 2,000 quân cách đó 20 dặm ở mạn thượng du, tại khúc sông có thế nước hòa hoãn dùng thuyền nhỏ len lén qua sông.
Ngày 17 đi bè tới gần bờ sông giằng co với giặc, vừa lúc Cánh quân ở mạn thượng du tới mé sau giặc, thừa địa thế trên cao hướng xuống hô lớn, âm thanh chấn động cả vùng sơn cốc! Không rõ quân triều đình từ đâu giáng xuống, giặc kinh hoảng mà tan rã.  
Ngày 19 tiến tới gần sông Phú Lương. Sông ở mé ngoài Kinh Thành. Giặc phạt sạch tre và cây ở dọc bờ sông, gom thuyền lại ở bên kia bờ. Tuy nhiên nhìn từ xa thì thấy trận thế của giặc (có vẻ) không được chỉnh tề, từ đó mà rõ bọn chúng không vững chí! Cho nên ta chọn một bờ ở xa, dùng thuyền nhỏ chở được hơn 100 quân, đêm về tới sông lại đoạt được hơn 30 chiếc thuyền nhỏ, thay phiên chở qua sông được 2,000 quân, chia ra phá tan doanh trại giặc! Đêm tối, giặc không phân biệt được quân ta nhiều ít, (hoảng hốt) rã ngũ toàn bộ! - Ta đốt mười mấy thuyền giặc, bắt được mấy chục Tổng binh, Hầu bá.
Trời mờ sáng thì quân ta qua sông hết. Giòng ho. Lê và dân chúng ra khỏi Thành đón, nằm phục ở ven đường. - Tôn Sĩ Nghị, Hứa Thế Hanh vào Thành trấn an dân chúng, rồi đi ra ngoài Thành tới cái lũy đất - cao chừng vài thước, bao quanh Thành, trên đầu bờ lũy trồng tre dày đặc, trong vòng lũy có 2 cái thành bằng gạch, còn Cung thất vua ở thì đã bị tiêu hủy không còn gì!
Phần Lê Duy Kỳ thì ẩn trốn tại nhà dân trong thôn, canh 2 đêm hôm đó mới tới quân doanh gặp Tôn Sĩ Nghị, khấu đầu không thôi, cảm tạ chiến thắng của quân ta......
Ngày 22, tuyên bố Chiếu chỉ, sách phong Lê Duy Kỳ là An Nam Quốc Vương, đồng thời cấp báo Tôn Vĩnh Thanh đưa gia đình của Duy Kỳ trở vế.
[Phụ chú.
+ Thọ Xương giang. Thị Cầu giang.
Bộ 'Thanh Sử Cảó chép:
- 'Sư hành, tương Lưỡng Quảng 'Lục Ký binh bát thiên nhân..... Chí kỳ Quốc đô, hữu đại xuyên tam: - Bắc viết Thọ Xương giang, Nam viết Thị Cầu giang, hựu Nam viết Phú Lương giang'.
/  Thanh Sử Cảo. Qu. CCCXXXIV. Hứa Thế Hanh truyện  /.
- 'Quân lên đường, lấy 8,000 người của quân 'Lục Ký....... Đi tới Kinh đô nước này thì có 3 con sông lớn: - Ở mặt Bắc là sông Thọ Xương, ở mé Nam là sông Thị Cầu, và ở mạn Nam (Thị Cầu) là sông Phú Lương'.
Lục Kỳ binh, còn gọi là Lục Doanh binh, là đơn vị quân đội trong đó quân binh là Hán tộc.
Đơn vị gồm 3 loại binh: Mã binh, Bộ binh, Thủ binh. Quân kỳ của đơn vị này màu lá (lục) do đó có tên Lục Kỳ. Ở Kinh đô thì gọi là 'Ngũ Thành Tuần Bô Doanh Bộ Binh'. Ngoài ra còn chia ra trú đóng ở các tỉnh, dưới sự điều động của Đề đốc, Tổng binh 

+ Phú Lương giang. Cũng gọi Thao giang, là tên cổ của sông Hồng Hà - hoặc cũng được gọi là sông Nhị Hà. Phú Lương giang là sông lớn nhất miền Bắc Việt Nam.
Phú Lương giang phát nguyên từ mạn Nam tỉnh Vân Nam (Trung Hoa), và có 2 nguồn:
Nguồn phía Đông là Bạch Nhai giang (có sách chép là Bạch Nham), xuất từ núi Lương Vương ở huyện Vân Nam, nguồn phía Tây là Dương giang, xuất từ núi Hoa Phán huyện Mông Hóa.
2 Sông này nhập lưu tại địa giới huyện Mông Hóa để thành sông Lễ Xã, tiếp đó Sông Lễ Xã theo hướng Đông nam chảy đến huyện Nguyên Giang thì được gọi là sông Nguyên Giang - Sông này cũng theo hướng Đông nam đổ vào Việt Nam để từ đây có tên là Phú Lương giang.

Sách 'Đông Tây Dương Khảó của Trương Tiệp (1574 - 1640) đời Minh chép:
- 'Phú Lương giang tại Giao Châu phu? Đông Quan huyện, nhất danh Lô giang, thượng tiếp tam đái châu Bạch Hạc giang, kinh thành Đông, hạ thông Lợi Nhân huyện Đại Hoàng giang dĩ đạt ư hải. Tống Quách Quì phá Man, quyết lí ải, thứ Phú Lương giang'.
  /  Đông Tây Dương Khảo. Qu. I. Tây dương liệt quốc khảo. Giao chỉ. Hình thắng danh tích  /.
- 'Phú Lương giang ở huyện Đông Quan, phu? Giao Châu, có 1 tên khác nữa là Lô giang, ở mạn thượng du nối với ngã ba sông Bạch Hạc, chảy ngang mé Đông thành, ở vùng hạ du, thông sông Đại Hoàng ở huyện Lợi Nhân và đổ vào biển. Thời Tống, Quách Quì thắng dân Man, khai thông những điểm yếu hại (của địch), tới đóng quân ở Phú Lương giang'.

Phú Lương giang chảy ngang mé đông Đông đô (Thăng Long) nên thời cổ người Trung Hoa còn gọi sông này là Đông Kinh hà. Ở đoạn trên nói 'sông ở mé ngoài Kinh thành', 'mé ngoàí ở đây tức cửa Đông thành Thăng Long, như đã nói trên.                           

Mở đầu bài Văn tế 'Trận Vong Tướng Sí, Nguyễn Văn Thành (? - ?) viết:
- 'Than ôi trời Đông Phố vận ra sóc cảnh, trải bao phen gian hiểm mới có ngày nay, nước Lô hà chảy xuống Lương giang, nghĩ mấy kẻ điêu linh những từ thuở nọ......'.

Quân Thanh xuất phát vào giữa tháng 11 - là tháng giữa Đông, khí trời mát mẻ, tránh cho quân cảm nhiễm bệnh dịch của mùa viêm nhiệt.
Thời cổ khi tiến đánh Giao Chỉ, để tránh trường hợp quân binh của mình không hợp thủy thổ mà nhiễm dịch mùa Nóng các triều đình Trung Quốc khi tiến quân xuống phương Nam thường chọn sao cho lúc quân tới biên cảnh Giao Chỉ thì vào tháng đầu Đông (tháng 10 Âm lịch). Nói rõ hơn lý tưởng nhất là xuất quân vào 2 mùa Thu, Đông.

+ Một vài thí dụ trong Lịch sử:
Năm 41 (Tân Sửu), năm 17 Niên hiệu Kiến Vũ (25 - 56) Mã Viện, Đoàn Chí được lệnh đem quân đi Giao Chỉ đánh 2 Bà Trưng, và 'Hậu Hán Thứ của Phạm Việp đã không ghi tháng nào quân lên đường, nhưng có 1 đoạn cho biết là 'Thập bát niên, Xuân, quân chí Lãng Bạc thượng', nghĩa là 'Mùa Xuân năm thứ 18, quân tiến đến mé trên hồ Lãng Bạc'.
Cứ câu trên thì quân Hán triều phải lên đường vào mùa Thụ Có thể Hán triều cũng tính khoảng tháng 10, tháng 11, mùa Đông, thì vào Giao Chỉ, nhưng tới mùa Xuân năm sau mới tới. Sở dĩ có sự chậm trễ này là vì đi đến quận Hợp Phố thì Đoàn Chí bệnh chết, Mã Viện phải chờ triều đình quyết định thay thế nhân sự. Sau đó thì chính Mã Viện nắm luôn quân của Đoàn Chí.  
Tháng 10 năm Mậu Tuất (938) Nam Hán tiến đánh Giao Chỉ.
Tháng 10 năm Bính Thìn (1076) quân của Quách Đạt (1022 - 1088) thời Bắc Tống (960 - 1127) đến biên cảnh Giao Chỉ.
(Quách Đạt, 'Tống Sứ ghi sai là Quách Quì, Sử Việt Nam cũng theo 'Tống Sứ mà lầm! Tôi đã biện luận và điều chỉnh điều này trong bài 'Tự Dư Viết Linh Quân'. Minh Di).
Tháng 7 (đầu mùa Thu) năm Bính Tuất (1406) Minh Thành tổ (1360 - 1424; tại vị: 1402 - 1424) sai Chu Năng (1370 - 1406) xuất đại quân tiến chiếm An Nam. Tháng 10, đến Long Châu, thuộc phu? Tư Minh, tỉnh Quảng Tây, cách biên giới An Nam vào lối trên 30 cây số, thì Chu Năng bệnh chết trong quân. Trương Phụ lên thay.

Cách đoạn dẫn trên 1 đoạn ngắn, ở dưới 'Thanh Sử Cảó chép:
- 'Thị D?CH dã, thừa tư Lê cựu dân dữ các xưởng nghĩa dũng tiên khu hướng đạo, hựu Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long đẳng - tân tư. Đài Loan lập công - giai thiện chiến chi Tướng, cố đắc dĩ binh VẠN dư trường khu thâm nhập, bất táp nguyệt nhi phục kỳ Đố.
Dịch văn:  
- 'CHỈN D?CH này nhờ những dân trước đây còn nhớ tới ho. Lê và các đội binh Nghĩa dũng, và mấy người như Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long - mới lập chiến công ở Đài Loan về - đều là những Tướng giỏi chiến trận, do đó chỉ với hơn 1 VẠN quân, giong ruổi đường dài, tiến sâu vào đất giặc, chưa đầy 1 tháng đã khôi phục Kinh đô nước hó.
[Phụ chú.
+ Việc Hứa Thế Hanh và Trương Triều Long lập chiến công ở Đài Loan đề cập ở đoạn trên đây xảy ra năm thứ 52 Niên hiệu Càn Long, tức năm 1787.
Thế nhưng, ngoài 2 Tướng nói trên còn có Lý Hóa Long. Vào năm này Lâm Sảng Văn (? - 1788) ở Đài Loan nổi loạn, Thanh triều điều động Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long và Lý Hóa Long suất binh của tỉnh Quảng Đông vượt biển qua Đài Loan dẹp yên.
(Tham khảo Thanh Sử Cảo. Qu. CCCXXXIV. Hứa Thế Hanh truyện)].

Ở đây, nói 'hơn 1 VẠN quân' là chỉ 16,000 quân xâm nhập An Nam đã nói ở 1 đoạn trước - tức 8,000 quân vùng Lưỡng Quảng, thuộc quyền điều động của Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh, cùng 8,000 quân do Đề đốc Ô Đại Kinh tỉnh Vân Nam chỉ huy, xuất phát từ Mã Bá, phu? Khai Hóa.

Sau cùng, ở 1 đoạn dưới, 'Thanh Sử Cảó chép như sau:
- 'Ngũ thập tứ niên, chinh nguyệt, sóc. Quân trung trí tửu, trương nhạc, dạ hốt báo Nguyễn binh đại chí, thủy thương hoàng ngự địch.
Tặc dĩ tượng tái đại pháo xung ngã quân, chúng quả bất địch, hắc dạ trung tự tương nhu lấn! Lê Duy Kì khế gia tiên độn. Điền sư văn pháo thanh dịch thoái tẩu. Tôn Sĩ Nghị đoạt đô. Phú Lương giang tức trảm phù kiều, đoạn hậu. Do thị, tại ngạn chi quân, Đề đốc Hứa Thế Hanh, Tổng binh Trương Triều Long quan binh, phu dịch, VẠN dư giai tê nịch tử! Thời Sĩ Nghị tẩu hồi Trấn Nam tận phần khí quan ngoại lương giới sổ thập vạn, sĩ mã hoàn giả bất cập bán! Kì Vân Nam chi sư  dĩ Lê thần Hoàng Văn Thông hướng đạo đắc toàn phản'.

- 'Năm thứ 54, mồng 1 tháng Giêng. Trong quân bày tiệc rượu, đàn ca, tới giữa khuya bỗng đâu có tin báo đại quân của ho. Nguyễn kéo tới, bấy giờ (quân ta) mới hoảng hốt chống địch.
Giặc lấy voi chở đại pháo tấn công quân ta, bên đông bên ít, lực lượng không tương đương, giữa đêm đen quân ta dày đạp lên nhau! Lê Duy Kỳ dắt gia đình chạy trốn trước. Đạo quân Vân Nam nghe tiếng đại pháo thì cũng tháo chạy! Tôn Sĩ Nghị giành qua sông Phú Lương, qua rồi lập tức chặt cầu phao cắt đứt phía sau! Do đó, đạo quân bên kia bờ ở mặt sau, quan binh, phu phen của Đề đốc Hứa Thế Hanh, Tổng binh Trương Triều Long, hơn 1 VẠN người, chen lấn, xô đẩy nhau để đều bị chết chìm! Lúc (Tôn) Sĩ Nghị chạy về Trấn Nam Quan thì cho đốt bỏ hết lương thực và khí giới, (mỗi thứ) mấy chục vạn, binh mã trở về không tới một nửa! Đạo quân Vân Nam nhờ có bề tôi của ho. Lê là Hoàng Văn Thông dẫn đường mới trở về được toàn bố. 

Minh Di án.
Ở đoạn trên, Câu 'Sĩ Nghị tẩu hồi Trấn Nam tận phần khí lương giới sổ thập vạn sĩ mã hoàn giả bất cập bán' nếu ngắt sau 2 chữ 'lương giớí để câu tiếp đó thành: - 'sổ thập vạn sĩ mã hoàn giả bất cập bán', nghĩa là 'mấy chục vạn binh mã trở về rồi không tới một nửá thì cũng được.
Trong trường hợp chung, Câu ngắt như trên vẫn hợp lý, vẫn có nghĩa.

Nhưng trước đó tác giả 'Thanh Sử Cảó đã chép là Thanh triều xâm nhập An Nam chỉ đem theo có 18,000 quân, do đó, ở đây, chính xác phải ngắt mấy chữ 'sổ thập vạn' nhập vế trước, gắn liền với 2 chữ 'lương giớí, để thành câu 'lương giới sổ thập vạn' mới hợp lý.
Lại nữa, liền ở trên tác giả cũng đã chép là 'quan binh, phu phen' của Đề đốc Hứa Thế Hanh và Tổng binh Trương Triều Long có 'hơn 1 VẠN ngườí.
+ 'lương thực và khí giới, mỗi thứ mấy chục vạn'.
Lương thực thì tính theo 'hộc', khí giới tính theo từng 'món' một.
+ 'binh mã trở về rồi không đến một nửá. 
Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh, như đã rõ, dẫn theo có 8,000 quân vào An Nam, do đó nhiều lắm Thanh triều chỉ chết vào khoảng trên 4,000 quân tới ngoài 5,000 mà thôi].

Qua những ghi chép của 'Thanh Sử Cảó thì cho tới đây 8,000 quân xâm nhập Giao Chỉ từ tỉnh Vân Nam do Đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy vẫn chưa từng giao chiến. Lúc này, thấy cánh quân của Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đã thua chạy thì Ô Đại Kinh chỉ còn cách tìm đường rút quân, không dám ở lại giao chiến với quân Giao Chỉ.

Về việc quân của Nguyễn Huệ tấn công khu Kinh đô vào dịp Tết, đoạn dẫn trên chép là vào đêm mồng 1 Tết.
Trong khi đó, trong phần tiểu sử Hứa Thế Hanh lại nói đại quân Nguyễn Huệ tấn công vào ngày mồng 2 Tết:
- 'Ngũ thập tứ niên, chinh nguyệt, Mậu Ngọ, Sóc. Sĩ Nghị triệu chư tướng trí tửu cao hội.
Kỉ Vị, Duy Kỳ cáo Huệ binh chí, Sĩ Nghị thương hoàng đoạt vi xuất đô. Phú Lương giang. Phù kiều đoạn, Thế Hanh dữ Duy Thăng, Triều Long suất sổ bách nhân chiến kiều Nam, trận một..... Thế Hanh đốc chư tướng độ giang, hãm trận, lực chiến tứ.
                                                         /  Thanh Sử Cảo. Qu. CCCXXXIV. Hứa Thế Hanh truyện  /.
- 'Năm thứ 54, ngày Mậu Ngọ, Mồng 1 tháng giêng. Sĩ Nghị tụ tập các tướng lại, mở 1 tiệc rượu linh đình.
Ngày Kỉ Vị, ngày mồng 2, Duy Kỳ báo cáo quân (Nguyễn) Huệ kéo đến, Tôn Sĩ Nghị kinh hoảng phá vòng vây vượt Phú Lương giang. Cầu phao bị đứt, Thế Hanh và Duy Thăng, Triều Long dẫn mấy trăm quân giao chiến ở phía Nam cầu phao, thua trận...... Hứa Thế Hanh chỉ huy các tướng vượt qua sông, bị vây trong trận, tận lực giao chiến mà tử trận'.

- Tuy nhiên, 2 ghi chép nêu trên cũng không mâu thuẫn, vì lẽ Mồng 2 ở đây có thể là vào khuya ngày mồng 1 bước qua mồng 2 Tết, sau bữa tiệc đầu năm. 

Về các Tướng đi theo Tôn Sĩ Nghị đề cập trong các đoạn dẫn trên, trong phần chép về Vìê.t Nam bộ 'Thanh Sử Cảó không cho biết sống chết ra sao, nhưng trong phần 'Truyện' Tôn Sĩ Nghị có vài giòng như sau:
- 'Ngũ thập tứ niên Xuân, chinh nguyệt. Nguyễn Huệ suất kì đồ công Lê thành. Duy Kỳ dịch khế kỳ nô tiềm độn. Sĩ Nghị dẫn binh thoái đô. Thị Cầu giang, trú giang Bắc.
Huệ truy chí, Tổng binh Lý Hóa Long điện độ phù kiều, đọa thủy tử. Phù kiều đoạn, Đề đốc Hứa Thế Hanh đẳng giai chiến tứ.
                                            /  Thanh Sử Cảo. Qu. CCCXXX. Tôn Sĩ Nghị truyện  /.
- 'Mùa Xuân năm thứ 54, tháng giêng, Nguyễn Huệ đem quân tấn công thành ho. Lê, Lê Duy Kỳ dẫn con cái chạy trốn. Sĩ Nghị dẫn quân rút lui qua sông Thị Cầu, trú đóng ở mạn Bắc sông.
Nguyễn Huệ đuổi tới nơi, Tổng binh Lý Hóa Long ở cánh hậu quân vượt qua cầu phao lọt xuống sông chết. Cầu phao đứt, Đề đốc Hứa Thế Hanh mấy người đều tử trận'.
[Minh Di án:
Ở đây nói 'Lý Hóa Long ở cánh hậu quân vượt qua cầu phao lọt xuống sông chết'.
Nhưng trong phần 'Truyện' Lý Hóa Long (phụ sau phần 'Truyện' Hứa Thế Hanh) lại chép:
- 'Sĩ Nghị bại thoái chí Thị Cầu giang, lệnh Hóa Long tiên độ đạc phù kiều, lạc thủy tứ.
- 'Sĩ Nghị bại trận rút lui tới sông Thị Cầu, ra lệnh cho Hóa Long qua Sông trước (để) đo lường sức chịu của cầu phao, lọt xuống sông chết'.
Như vậy, Lý Hóa ở cánh tiền quân, không phải cánh hậu quân. Chưa rõ thực hư, nhưng tiền hay hậu, Lý Hóa Long cũng lọt sông chết chìm].
 
- 'Đề đốc Hứa Thế Hanh mấy người đều tử trận', ở đây ngoài Hứa Thế Hanh còn 2 tướng nữa là Tổng binh Trương Triều Long ở Quảng Đông, Tổng binh Thượng Duy Thăng ở Quảng Tây.
Còn về phó tướng Khánh Thành nhờ nhận lệnh Hứa Thế Hanh hộ tống Tôn Sĩ Nghị rút qua sông nên thoát chết.
(Tham khảo Thanh Sử Cảo. Qu. CCCXXXIV (Qu. 334). Hứa Thế Hanh truyện).

Trên đây là những SỰ KIỆN liên quan trận chiến giữa An Nam và Trung Hoa cuối năm 1788, và đầu năm 1789 ghi chép trong Chính Sử Trung Quốc.
Cho tới đây, đối chiếu với các sách Việt Sử viết bằng Việt ngữ chúng ta thấy có những điểm cần xét lại về những ghi chép của Việt Nam về Trung Quốc như sau:

1). Quân số Thanh triều.
Như đã dẫn, cuối năm 1788 Thanh triều chỉ điều động 18,000 quân nhập An Nam, nói 20 vạn là nói quá lố, nói khác đi, đây là 1 sự phóng đại vô căn cứ.

2). Nhân sư. Thanh triều.
Sự kiện đáng ngạc nhiên là 'Thanh Sử Cảó trong những phần chép về trận chiến kể trên trong các Quyển CCCXXX (về Tôn Sĩ Nghị) và Quyển CCCXXXIV (về Hứa Thế Hanh), và sau cùng là Quyển DXXVII (chép về Việt Nam) rồi chẳng có Quyển nào có một giòng nào, dầu Sơ lược, hay một chữ nào về nhân vật có tên là Sầm Nghi Đống - nói rõ hơn là trong bô. Chính Sử Trung Hoa vừa kể không có 1 đoạn nào nói Sầm Nghi Đống được điều qua An Nam chiến đấu hết!
Trong phần 'Bản Kí về Thanh Cao tông (tức Càn Long) cũng không thấy đề cập việc điều động Sầm Nghi Đống qua An Nam. (Tham khảo Thanh Sử Cảo. Qu. XV. Bản kỉ. Cao tông).
Trong phần 'Truyện' Việt Nam (Qu. DXXVII) bô. Sử nói trên có 1 đoạn như sau:
- 'Ngũ thập tam niên......
Thời Duy Kỳ đê. Duy Trù, Duy Chỉ giai ngoại xuất tỵ nạn. Duy Trù tư? Tuyên Quang Thành, Duy Chỉ do Kinh Bắc Ba Bồng Xưởng lai đầu. Tôn Sĩ Nghị dĩ Duy Chỉ hữu tài khí, dục lệnh quyền nhiếp Quốc sự. Đế lự kỳ huynh đệ nhật hậu hiềm nghi, bất hứa. Nãi lệnh Thổ Điền Châu Sầm Nghi Đống hô. Duy Chỉ xuất khẩu hiệu triệu nghĩa binh'.
- 'Năm thứ 53......
Bấy giờ em của Duy Kỳ là (Lê) Duy Trù, (Lê) Duy Chỉ đều chạy ra khỏi nước lánh nạn. Duy Trù chết ở Thành Tuyên Quang, Duy Chỉ từ Ba Bồng Xưởng ở Kinh Bắc tới về theo triều đình. Thấy Duy Chỉ là người có tài năng khí khái, Tôn Sĩ Nghị muốn để Duy Chỉ nắm giữ việc Nước. Vua sợ sau này anh em hiềm nghi, không thuận. Bởi vậy sai Thổ Tri châu Điền Châu là Sầm Nghi Đống giúp Duy Chỉ trong việc kêu gọi nghĩa binh'.

Từ đoạn trên cho tới lúc chiến sự kết thúc không thấy đoạn nào nhắc tới Sầm Nghi Đống nữa.
- Nhân sự của Trung Quốc thì việc điều động nhân sự của họ, ghi trong Sử của họ, chắc chắn là chính xác, sách Việt Nam không thể chính xác hơn, bởi lẽ đây thuần là vấn đề hành chánh.
Tôi vẫn chưa rõ các sách Việt Nam chép từ đâu mà nói Sầm Nghi Đống tự tử ở An Nam, và được   lập miếu thờ ở gò Đống Đạ....
- Tiếp đến, cũng về nhân sự, nhân vật Tổng binh Trương Triều Long ông Trần Trọng Kim trong bộ 'Việt Nam Sử Lược' (Quyển 2)  lại chép là Trương Sĩ Long.

3). Thời điểm tấn công vào Kinh độ
Bộ 'Thanh Sử Cảó ghi là đại quân của Nguyễn Huệ kéo tới tấn công vào khoảng giao thời đêm mồng 1 bước qua mồng 2 Tết, trong khi Sử Việt Nam lại ghi là ngày mồng 5 Tết.
Cuốn 'Thanh Triều Nhu Viễn Ky (Qu. V. Mậu Thân. Càn Long ngũ thập tam niên) của tác gia? Vương Chi Xuân (1842 - ?) cũng nói quân Nguyễn Huệ tấn công vào đêm mồng 1 Tết. 
Minh Di luận: Đánh mồng 1 có lý hơn, vì bất ngờ hơn, mồng 5 thì đã qua Tết quân Thanh có thể phòng bị kỹ hơn. Lại nữa, đã thua mồng nào cũng là thua, Trung Hoa ghi sai ngày để làm chỉ
                                                                           *
Sau cùng, xin trở lại vấn đề quân số Thanh triều đưa qua An Nam năm 1788.
Như đã nói, quân số Thanh triều xâm nhập An Nam năm 1788 là 18,000 quân, và con số thực sự tác chiến là 8,000 quân vùng Lưỡng Quảng, dưới Sự chỉ huy tối cao của Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị, dưới là Đề đốc Hứa Thế Hanh (? - 1789), Tổng binh Thượng Duy Thăng (? - 1789) và Phó tướng Khánh Thành (? - ?) tỉnh Quảng Tây, rồi Tổng binh Trương Triều Long (? - 1789) và Tổng binh Lý Hóa Long (? - 1789) tỉnh Quảng Đông.

Khi đưa ra con số 200,000 quân, hoặc hơn thế nữa, 290,000 quân, hoặc 300,000 quân, điều này  cho thấy người đầu tiên đưa ra con số trên đây - và những người tin theo đó, đã không đối chiếu với 1 số tài liệu khác để nhận ra sự vô lý của tài liệu căn cứ! Nếu đọc Sử Trung Quốc thì sẽ thấy sự khó khăn của việc điều động 1 số quân binh đông đảo như họ vẫn tin theo.
Lấy 1 thí dụ:
Sau hơn 2 năm thảo luận - từ năm 1538 tới năm 1540, về việc đánh Mạc Đăng Dung, với những tính toán chi tiết về tài lực, nhân lực và vật lực đổ ra cho một cuộc Chiến tranh, Minh triều cũng chỉ điều động được hơn 17 vạn quân - chính xác là 170,030 quân, đặt dưới quyền điều động của tướng Mao Bá Ôn (1482 - 1545).
(Tham khảo Thù Vực Chu Tư Lục. Qu. VỊ Nam man. An Nam.
Nghiêm Tòng Giản (? - ?) đời Minh soạn).

Trước đó hơn 2 năm, sau một cuộc Hội nghị tại Bộ Binh, ngày 04 tháng 4 năm thứ 17 Niên hiệu Gia Tĩnh (1522 - 1566), năm 1538, Binh bô. Thượng thư Trương Tán (1473 - 1542) đúc kết 1 bản phân tích về việc điều động quân binh đánh Giao Chỉ, trong đó cho biết Quân số cần động dụng đại khái là 300,000 quân, cả thủy và lục, kèm theo là chiết tính chi phí cho 300,000 quân đó.

Tuy nhiên, với kế hoạch trên Trương Tán cho biết ở 1 đoạn tiếp sau đó:
- 'Kiệt lưỡng Quảng chi binh lực, thượng khiếm quân binh nhất thập thất vạn; kiệt lưỡng Quảng chi thương khố, thượng khiếm Mễ nhất bách nhị thập bát vạn ngũ thiên thạch, Ngân tam thập tứ vạn nhất thiên lượng; dĩ nhất niên kế chi số khả như thử, vạn nhất trì nhật cửu ích binh kế hướng tất cử thiên hạ toàn lực'.
                                   /  An Nam Tấu Nghị  /.
- 'Dốc hết binh lực của 2 đất Quảng Đông, Quảng Tây, thì vẫn còn thiếu 170,000 quân; dốc tận kho lẫm của 2 vùng Quảng Đông, Quảng Tây thì hãy còn thiếu 1,285,000 thạch Gạo và 341,000 lượng bạc; tính 1 năm thì số thiếu có thể là thế, nhưng vạn nhất phải kéo dài lâu nữa thì quân số phải tăng, lương thực do đó mà tăng theo, chừng đó thì phải dốc toàn lực trong thiên há.

Mỗi lần đưa quân qua Giao Chỉ, nhân lực động dụng, tài lực đổ ra nhiều và tốn kém như vậy, và để chỉ đi chinh phục 1 Nước bấy giờ chỉ bằng khoảng một nửa tỉnh Quảng Đông, và đây cũng là 1 trong nhiều lý do tại sao thời cô? Trung Quốc rất ngại khi phải động binh với Giao Chỉ. 
Lại nữa, còn phải có 1 số biện pháp về kinh tế:
- '..... Cập chiếu Thái Bình, Long Châu đẳng xứ, chính hệ đại quân phát túng chi địa, tất tiên đa phương triệu thương, tỉ chi thời giá, lượng vi tăng ích, địch mãi trữ tích dĩ tu chuyển vận'.
                                                                                                                    /  An Nam Tấu Nghị  /.
- '...... Lại xét các vùng Thái Bình, Long Châu chính là những đất đại quân xuất phát, (cho nên) trước hết phải gọi những giới buôn bán lại, tính theo thời giá, lượng định cần tăng bao nhiêu mà thu mua tích trữ đó để chờ chuyển vận'.

Đây là điều Tôn Tử (? - ?) đã nói trong thiên 'Tác chiến' (Thiên thứ 2) bô. Binh pháp 'Tôn Tứ:
- 'Phàm dụng Binh chi pháp, trì xa thiên tứ, cách xa thiên thặng, đới giáp thập vạn, thiên lí quĩ lương, nội ngoại chi phí, tân khách chi dụng, giao thất chi tài, xa giáp chi phụng, nhật phí thiên kim, nhiên hậu thập vạn chi sư cử hĩ!
Kì dụng chiến dã thắng. Cửu tắc độn binh, tỏa nhuệ, công thành tắc lực khuất. Cửu bộc sư tắc Quốc dụng bất túc. Phù độn binh, tỏa nhuệ, khuất lực, đơn hóa tác chư hầu thừa kì tệ nhi khởi. Tuy hữu trí giả bất năng thiện kì hậu hĩ! Cố Binh văn chuyết tốc, vị đổ xảo chi cửu dã!
Phù Binh cửu nhi Quốc lợi giả vị chi hữu dã!
Cố bất tận tri dụng Binh chi hại giả tắc bất năng tận tri dụng Binh chi lợi dã......
Quốc chi bần giả viễn thu, viễn thu tắc bách tính bần! Cận Sư giả quí mại, quí mại tắc bách tính tài kiệt, tài kiệt tắc cấp ư khâu dịch. Lực khuất tài đơn, Trung Nguyên nội hư ư gia, bách tính chi phí thập khứ kì thất. Công gia chi phí phá xa, bì mã, giáp trụ, cung thỉ, kích thuẫn, mâu lỗ, khâu ngưu đại xa, thập khứ kỳ lục'.
- 'Nói chung, theo nguyên tắc Dụng binh tác chiến thì phải sử dụng cả ngàn xe trận, cả ngàn xe chuyển vận, phải điều động cả trăm ngàn quân binh, rồi phải chuyển vận quân lương xa xôi đến ngàn dặm, do đó, các khoản chi phí cho cả 2 mặt trong, ngoài, như tiếp đãi tân khách, cung ứng vật liệu, vật dụng thay thế, cũng như tu bổ xe cộ, giáp tru......... rồi cũng lên tới cả ngàn vàng cho mỗi ngày. Có chi nổi 1 ngân khoản như vậy thì mới động dụng nổi cả trăm ngàn quân binh!
Điều động cả một lực lượng quân binh tác chiến qui mô tới vậy thì phải làm thế nào chiến thắng cho thật nhanh chóng. Còn cứ giằng co thì lâu dần quân đội sẽ mệt mỏi, nhuệ khí sẽ giảm sút và do đó, khi công hãm thành trì lực lượng rồi đến tiêu hao đáng kể! Mặt khác, Chiến tranh nếu cứ dai dẳng Kinh tế Quốc gia rồi sẽ đến kiệt quệ! Để rồi, một khi quân đội đã mệt mỏi, nhuệ khí đã giảm sút, lực lượng đã tiêu hao, Kinh tế đã kiệt quệ......., các Quốc gia chư hầu, Quốc gia nào có thế lực tương đương với mình rồi thừa cơ này mà (có thể), hoặc can thiệp vào nội bộ mình, hoặc khởi binh tiến công mình - còn các Quốc gia xưa nay là chư hầu của mình cũng thừa cơ hội này mà tách rời khỏi quĩ đạo của mình! Trong 1 tình thế như vậy dầu là người tài trí cũng không sao ứng phó nổi! Bởi vậy, luận dụng binh thì chỉ nghe một điều là việc giải quyết chiến tranh lẹ làng đôi lúc tuy có vụng nhưng vẫn hơn, chưa hề thấy việc kéo dài chiến tranh mà khéo bao giờ!
Tóm lại, chiến tranh dai dẳng mà Quốc gia có lợi, sự kiện này chưa hề có bao giờ!
Cho nên là, đã không hiểu được hết cái hại của Chiến Tranh thì (cũng) không sao hiểu hết được cái lợi của Chiến Tranh......
Quốc gia sở dĩ trở nên nghèo là do việc chuyển vận xa xôi tốn kém, chuyển vận xa xôi thì dân sẽ bần cùng! Mặt khác, tại những vùng gần chỗ quân đồn trú thì vật giá sẽ trở nên mắc mỏ, vật giá mắc mỏ thì của cải của dân sẽ cạn, và tài lực của dân đã cạn thì quốc gia tự nhiên phải gấp việc gia tăng thuế má, sưu dịch. Quân lực đã tiêu hao, tài lực đã kiệt quệ, kinh tế quốc gia rồi tới chỗ khủng hoàng, tài sản dân chúng 10 phần hao hụt đi 7 - Tài sản Quốc gia, vì phải bù đắp cho số chiến xa hư hại, chiến mã đuối mỏi, giáp trụ, cung tên, mâu kích, khiên thuẫn, cũng như xe cộ về chuyển vận hư hại, 10 phần hao hụt đến 6'.

Trong 'Bản tường trình' kể trên Trương Tán nói là quân số Thủy, Lục cần động dụng đại khái là 300,000 quân, thế nhưng, dốc hết quân vùng Lưỡng Quảng thì vẫn còn thiếu 170,000 quân - tức quân số hiện có lúc bấy giờ của Lưỡng Quảng là: 300,000 - 170,000 = 130,000 quân.
Năm 1540, hơn 2 năm sau Bản tường trình ngày 04 tháng 4 (Âm lịch) năm 1538 của Thượng thư Bộ Binh Trương Tán việc điều động 300,000 quân binh theo tính toán của quan Thượng thư vẫn không thực hiện được! Cuối cùng, khi quyết định sai Mao Bá Ôn xuống phương Nam, Minh triều cũng chỉ động dụng được 170,030 quân, tức ít hơn tính toán của Trương Tán là 129,970 quân.
+ Qua những Sử liệu đã trưng dẫn ở trên thì có thể thấy rất rõ là thuyết nói rằng cuối năm 1788 Thanh triều đưa qua An Nam 200,000 quân có mấy điểm vô lý sau đây: 

1). CHỈ với một thời gian ngắn từ Mùa Hè năm 1788 đến cuối tháng 10 cùng năm, trong khoảng có nửa năm làm thế nào Thanh triều có thể điều động 200,000 quân, với không biết bao nhiêu là chuẩn bị như đã thấy, chứ đừng nói là 300,000 quân, gấp rưỡi con số kể trên?

2). Thanh triều đưa quân xâm nhập An Nam cuối năm 1788 nhằm phục hồi vua Lê, chứ không là 1 cuộc chiến tranh xâm chiếm lãnh thổ để phải điều động một số quân binh lớn đến thế! Bởi vậy Thanh triều chỉ điều động 1 số quân vừa phải là 18,000 như đã rõ. Hơn nữa, trong số này chỉ có 8,000 quân dưới quyền Tôn Sĩ Nghị thực sự tác chiến. 2,000 quân trong số 1 Vạn quân của vùng Lưỡng Quảng trú đóng tại Lạng Sơn để tiếp ứng, nếu có bất trắc trong việc đưa Lê Chiêu Thống trở lại ngôi vị. Và rồi  8,000 quân Vân Nam cũng chỉ giữ nhiệm vụ yểm trợ, cho nên sau khi thấy quân của Tôn Sĩ Nghị tan rã thì lập tức triệt thoái! Tiếp đó, 2,000 quân đồn trú tại Lạng Sơn tuy bộ 'Thanh Sử Cảó không chép nhưng chúng ta cũng hiểu là cánh quân này cũng rút về theo.
Bộ 'Thanh Sử Cảó chép rõ là ngày 22 tháng 11 (năm Mậu Thân) Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long đọc chiếu chỉ của Thanh triều phong Lê Chiêu Thống là An Nam Quốc Vương, báo về triều đình và kế đó lại toan tính việc đóng thuyền đuổi theo đánh tiếp. Biết được, Tuần phủ tỉnh Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh trình lên nói là đất Quảng Nam cách Kinh đô vua Lê 2,000 dặm, nếu điều động 1 vạn quân thì dân phu vận chuyển ở những trạm vận lương phải cần tới 10 vạn người cung cấp cho quân binh từ  cửa Trấn Nam Quan tới Kinh đô triều Lệ Bởi thế Thanh Cao tông ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị lập tức rút quân. Thế nhưng Tôn Sĩ Nghị không nghe lệnh để cuối cùng thảm bại.
(Tham khảo Thanh Sử Cảo. Qu. DXXVII. Ngoại quốc Truyện 2. Việt Nam).
Chuyện bên lề. Sau khi về triều chờ luận tội thì Tôn Sĩ Nghị vốn được Càn Long sủng ái cho nên cuối cùng lại được thăng chức Binh bô. Thượng thự
(Tham khảo Thanh Sử Cảo. Qu. CCCXXX. Tôn Sĩ Nghị truyện).
 
Cứ như lời của Tôn Vĩnh Thanh (? - ?) trên đây thì nếu điều động 20 vạn quân binh thì phải cần đến 200 vạn dân phu, tức 2 triệu (2,000,000) người.
Căn cứ thống kê năm Gia Khánh (1796 - 1820) thứ 24, năm 1819, dân số toàn tỉnh Quảng Đông là 21,392,000 người. Thống kê năm sau, năm 1820, dân số toàn tỉnh Quảng Tây là 7,416,000.
Cộng lại, Quảng Đông và Quảng Tây là 28 triệu 808 ngàn (28,808,000) người.
(Tham khảo Trung Quốc Nhân Khẩu Sử. Đệ Ngũ quyển. Thanh thời kỳ.
                                                                    Đệ nhị tiết. Quảng Đông.
                                                                    Đệ tam tiết. Quảng Tây).
Năm 1820 cách năm 1788 ở đây là 32 năm. Bây giờ, cứ cho là sau 30 năm dân số 2 tỉnh nói trên tăng gấp 2 thì vào năm 1788 dân số 2 tỉnh này khoảng 15 triệu, trừ đi con nít, người già, số đinh từ 16 tới 60 cũng vào khoảng 4 hoặc 5 triệu. Số 2,000,000 dân phu có thể trưng tập được, nhưng không thực tế, vì những khó khăn về mặt Kinh tế, Xã hội như đã biết, và thời gian thực hiện.        
 
- Xét các điều kiện đã dẫn trên, chưa nói những chứng cứ hiển nhiên trong Chính Sử, nói con số 20 vạn (200,000) quân Tôn Sĩ Nghị đưa qua Giao Chỉ là con số không tưởng, một Con Số chỉ có từ lòng tự hào dân tộc quá đà, không xét, nói rõ hơn là không biết, những điều kiện chung quanh một cuộc động dụng quân đội thời cổ.

Mỗi sự việc đều có cái LÝ của nó.
Một sự việc đưa ra - như việc Quang Trung đánh tan 20 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị ở đây, có thể làm vui tai, vui lòng mọi người. Thế nhưng, xét tới S? LÝ thì đây là một S? trống rỗng.
                                                                           
- 'Xưa có người cho (Trịnh) Tử Sản 1 con cá sống, Tử Sản sai người trông coi ao vườn của mình thả xuống ao nuôi. Người này làm thịt con cá ăn rồi về nói với Tử Sản:
Lúc tôi mới thả nó xuống thì nó còn lừ đừ, một hồi sau thì nó thư thái quẫy đuôi rồi lủi mất tiêu!
Tử Sản nói: - Nó đã gặp được chỗ thích hợp với nó, nó đã gặp được chỗ thích hợp với nó!
Người coi vườn ra ngoài nói (với người khác):
~Ai nói Tử Sản là người khôn ngoan sáng suốt, con cá tôi đã ăn mất, vậy mà ông ta (không biết) lại còn nói là 'nó đã gặp được chỗ thích hợp với nó, nó đã gặp được chỗ thích hợp với nó.

Kể xong câu chuyện trên đây, Mạnh Tử (390 - 305 tr. Cn) kết luận:
- 'Quân tử khả khi dĩ kỳ phương, nan võng dĩ phi kỳ đạó.
                                                     /  Mạnh Tử. Vạn Chương. Thượng. 2   /.
- 'Người quân tử có thể bị gạt với những chuyện hợp tình, hợp lý, nhưng khó mê hoặc được bằng những chuyện phi lỵ

Chuyện 20 vạn quân Thanh ở đây cũng vậy, chỉ là một chuyện 'phi kỳ đạó.

+ Trịnh Tử Sản. Tức Công Tôn Kiều (? - 522 tr. Cn), Chính trị gia và Tướng quốc hiền đức nước Trịnh vào khoảng giữa thời Xuân Thu (770 - 403 tr. Cn). Đương thời, 2 nước Tấn, Sở tranh bá, ở giữa là nước Trịnh nhỏ yếu, nhưng nhờ tài ngoại giao của Tử Sản mà nước Trịnh vẫn yên ổn! Về mặt đối nội Tử Sản chủ trương thương dân, trừ gian, cởi mở trong việc phê bình chính sự.
Sách 'Tả Truyện' chép:
- 'Tử Sản hữu tật, vi. Tử Thái Thúc viết:
Ngã tử, tử tất vi chính, duy hữu đức giả năng dĩ khoan phục dân, kỳ thứ mạc như mãnh! Phù hỏa liệt dân vọng nhi úy chi, cố tiển tử yên, thủy nhu nhược dân hiệp nhi ngoạn chi, tắc đa tử yên, cố khoan nan.
Tật sổ nguyệt nhi tốt. Thái Thúc vi chính bất nhẫn mãnh nhi khoan, Trịnh quốc đa đạo, thủ nhân ư Hoàn Phu chi trạch. Thái Thúc hối chi viết: - 'Ngô tảo tòng phu tử bất cập thử!' Hưng đồ binh dĩ công Hoàn Phu chi đạo, tận sát chi, đạo thiểu chỉ....
Cập Tử Sản tốt, Trọng Ni văn chi, xuất thế viết: - 'Cổ chi di ái dá.
                                                                 /  Tả Truyện. Chiêu công nhị thập niên  /. 
- 'Tử Sản bệnh, nói với Tử Thái Thúc:
Ta chết, ngươi sẽ nắm quyền, chỉ người có đức mới có thể dùng sự khoan dung làm dân phục, kế đến thì không gì hơn nghiêm khắc! Như lửa nóng, dân thấy thì sợ, vì vậy mà ít kẻ chết vì lửa, còn nước thì mềm yếu nên dân khinh lờn, coi thường, vì thế mà nhiều kẻ chết vì nước, cho nên trị dân thì khoan dung là việc khó.
Tử Sản bệnh vài tháng thì mất. Thái Thúc trị dân không nỡ nghiêm khắc, mà áp dụng chính sách khoan dung, do đó nước Trịnh trộm cướp nổi lên tứ tung, bọn chúng (thường) chận cướp tại đầm Hoàn Phụ Thái Thúc hối hận nói: - '(Nếu) ta sớm làm theo lời thầy thì đâu đến nỗi nàý. Sau đó đưa quân tới đánh bọn cướp ở đầm Hoàn Phu, giết sạch bọn chúng, ít lâu sau thì hết đạo tặc....
Lúc Tử Sản qua đời, Trọng Ni nghe tin, rơi nước mắt nói: - 'Đây là mẫu người lưu lại trong lòng đời sau sự thương mến thấy nơi con người thời cố.    
                                                                           #
Cũng về quân số, có người (Việt Nam) còn nói 'khơi khơí rằng, sau khi Tôn Sĩ Nghị bại trận về Thanh triều định điều động 50 vạn quân, tức nửa triệu (500,000) quân, qua báo thù.
Gọi là 'nói khơi khơí vì chẳng căn cứ vào Sử Sách nào cả, chỉ truyền ngôn để thỏa tự ái dân tộc mà thôi! Thanh triều chẳng hề có ý báo phục!
Thất trận, Tôn Sĩ Nghị mất chức Tổng đốc Lưỡng Quảng, Phúc Khang An (1754 - 1796) về thay và tâu xin bãi binh, không đánh An Nam, Càn Long chấp thuận ngay.
(Tham khảo Thanh Sử Cảo. Qu. CCCXXX. Phúc Khang An truyện).
Năm 1307, học gia? Mã Đoan Lâm (~1254 - ~1323) soạn xong bộ 'Điển chế Sứ nổi tiếng, tựa đề là 'Văn Hiến Thông Khảó (thường được gọi giản lược là 'Thông Khảó) - sau 23 năm sưu tập tư liệu cũng như Sử liệu để biên soạn, khởi đầu vào năm 1285.

Trong phần đề tựa cho bộ 'Văn Hiến Thông Khảó Mã Đoan Lâm đã viết như sau:
- 'Phàm tư. Sự, tắc bản chi Kinh, Sử nhi tham chi dĩ lịch đại Hội Yếu, dĩ cập Bách gia, Truyện ký chi thư, tín nhi hữu chứng giả tòng chi, quai dị truyền nghi giả bất lục, sở vi. Văn dã.
Phàm luận Sự tắc tiên thủ đương thời thần liêu chi tấu, sớ, thứ cập cận đại chư nho chi bình luận, dĩ chí danh lưu chi yến đàm, bái quan chi kỷ lục, phàm nhất thoại, nhất ngôn khả dĩ đính điển cố chi đắc thất, chứng Sử, Truyện chi thị phi giả tắc thái nhi lục chi, sở vi. Hiến dá.
                                                                      /  Văn Hiến Thông Khảo. Tự tự  /.
- 'Nói chung, việc tự sự thì căn cứ theo Kinh, Sử đồng thời tham khảo thêm những sách ghi chép định chế, chế độ (Hội Yếu) của các triều đại, cho đến những Sách Chú giải Kinh điển, Bút ký của các tác giả [có tiếng] (Bách gia), điều gì đáng tin và có chứng cứ thì theo, điều gì nghịch thường còn nghi ngờ thì không ghi chép lại, như vậy gọi là Văn.
Nói chung, việc nghị luận thì trước hết y cứ các bài tấu, sớ của đình thần đương thời, và kế tới là những bình luận của các học giả cận đại cho tới những buổi nhàn đàm của các nhân vật nổi danh những ghi chép của những người viết dã sử, tiểu thuyết, nếu một câu chuyện nào, một lời nói nào mà có thể đính chính cái đúng, cái sai của sự thực trong quá khứ, có thể chứng minh cái phải, cái trái của Sử, Truyện thì trích ra và ghi chép lại, như vậy gọi là Hiến'.

- Tôi nghĩ, khi viết về Cổ sử Việt Nam và Trung Hoa chúng ta nên viết cho có 'Văn Hiến' nhằm tránh truyền đi những sai lầm, những sư. Sai lầm có thể trải dài tới vài ba thế hệ.
Về 1 số từ ngữ chuyên môn.
+ Dã sử. Người Việt Nam chúng ta vẫn hiểu 'Dã sứ là 'Tiểu thuyết lịch sứ, nghĩa là ít nhiều có những thêm thắt, tưởng tượng chung quanh Sự kiện Lịch sử!
Trong khi người Trung Hoa lại hiểu cách khác: 'Dã sứ là những ghi chép phần lớn có tính cách xác thực nhưng không chính thức được triều đình xác nhận.
Nói rõ hơn, 'Dã sứ ở đây có nghĩa là 'Tư sứ, tức Sử do tư nhân chép.
+ Tiểu thuyết. Tiểu thuyết nói ở đoạn dẫn trên không có nghĩa như chúng ta vẫn hiểu.
Tiểu thuyết ở đây nghĩa đen là những 'lời nói vụn vặt'. Là 'lời nói vụn vặt' nhưng ghi chép ở đây là những lời thực, không phải tưởng tượng.
Tóm lại, có thể nói 'Dã sứ và 'Tiểu thuyết' danh xưng tuy dị nhưng nội dung thì đồng. Cả 2 đều có tính cách Sử liệu.
Cuốn 'Thế Thuyết Tân Ngứ của Lưu Nghĩa Khánh (403 - 444) ghi chép lại những giai thoại về các nhân vật nổi tiếng trong khoảng các thời Ngụy (220 - 265), Tấn (265 - 420), cũng như tất cả những cuốn ghi chép loại như 'Quế Hải Ngu Hành Chi của Phạm Thành Đại (1126 - 1193) và  tập 'Lãnh Ngoại Đại Đáp' của Chu Khứ Phi (1135 - 1189)... đều được xếp vào loại Tiểu thuyết.
                                                                           #
Kết luận

Cho tới hiện nay cuốn 'Việt Nam Sử Lược' của tác gia? Trần Trọng Kim (1882 - 1953) vẫn được nhiều người tham khảo hơn hết.
Cuốn 'Sử Lược' nói trên được soạn thuật để 'cho những thiếu niên nước ta ngày nay ai cũng thể biết một đôi chút sự tích nước nhà, cho khỏi tủi quốc hồn'. (Việt Nam Sử Lược. Tựa).
Có lẽ, vì cấp bách tác giả đã không đủ thời giờ thu thập, đối chiếu, phân tích, và gạn lọc tài liệu do đó tác phẩm không tránh khỏi một số thiếu sót, lầm lẫn, con số 20 vạn quân Thanh nói ở đây là một trong những lầm lẫn đó.
Là lớp đi sau, trong phạm vi có thể, chúng ta cần điều chỉnh những lầm lẫn, những thiếu sót của người đi trước, không chép, không trưng dẫn lại một cách thụ động - và hơn thế nữa, đôi lúc còn suy diễn từ 1 số lầm lẫn, để rồi sai lầm ngày càng sâu, càng xa hơn!

Triều Nguyễn của Nguyễn Phúc Ánh không có một cuộc đụng độ nào với Trung Quốc, và sau đó triều đại này bi. Pháp tiêu diệt.
Triều Nguyễn Tây Sơn là triều đại phong kiến cuối cùng có chiến tranh với phương Bắc - nhưng không ở mức độ qui mô. Nếu so với chiến tích năm Bính Thìn (1076) của Lý Thường Kiệt thời Lý chiến tích năm Kỉ Dậu (1789) ở đây không lừng lẫy bằng. Nhưng, nói như thế không có nghĩa về mặt Quân sư. Lý Thường Kiệt tài giỏi hơn Nguyễn Huệ! Chúng ta không ai phủ nhận tài Quân sự  của Nguyễn Huệ, chỉ tiếc là ông mất quá sớm - mới ở tuổi 41, để có cơ hội cho hậu thế chúng ta thấy khả năng Quân sự đó rồi tới đâu.
Có phải vì tiếc cho một con người tài mà ngắn số, tiếc cho 1 Đất nước đang trên đường đi xuống mà người nào đó đã khoác lên người Quang Trung Nguyễn Huệ những điều ông không có?
Điều chúng ta TIN rất nhiều lúc không phải là Lịch Sử, điều chúng ta TIN chỉ có giá trị khi nào có chứng cứ xác thực đi kèm, đây là 'Qui luật của Trò chơí.
Chúng ta tham gia 'Trò chơí nhưng chúng ta lại không tuân thủ 'Qui luật của Trò chơí rốt cục chỉ có chúng ta chơi với nhau thôi!

Đại Tượng từ Quẻ Khốn nói:
- 'Trạch vô Thủy, Khốn, quân tử dĩ trí mệnh toại chị
- 'Đầm không có nước, là Quẻ Khốn, quân tử coi đó mà [tận sức] đạt thành tâm chí, dầu cho có bỏ mạng cũng đành'.

Trên là que? Đoài (Đầm Nước) dưới là que? Khảm (Nước). 1 cái Đầm Nước mà Nước đã thấm qua mặt đất, rút hết xuống lòng đất, để trơ lại 1 cái đầm khô cạn.
- Chúng ta tin những điều chúng ta muốn người khác tin theo nhưng lại chẳng có cái gì làm cho người tin, tình cảnh rồi có khác chi những con tôm, con cá đang ngo ngoe, ngáp ngáp....... trong vũng bùn sình lầy nhầy của 1 cái đầm ngày càng khô cứng!  
                                                                           #
Phụ lục.
+ Bản tường trình của Thượng thư Bộ Binh Trương Tán ngày 4 tháng 4 năm Gia Tĩnh thứ 17.
- 'Lưỡng Quảng địa phương tiến binh, lục lộ ưng phân chính binh tam tiêu:
Nhất do Tư Minh phủ, Tư Lăng châu chinh tiến Lộc Châu, Tây Bình châu đẳng xứ.
Nhất do Long Châu , La Hồi động  chinh tiến Ải Lưu quan, Cao Bình phủ đẳng xứ.
Nhất do Bằng Tường châu chinh tiến Lượng Sơn, Trường Khánh đẳng xứ.
Mỗi tiêu Hán, Thát, Lang thổ quan binh ngũ vạn danh.
Viện binh tam tiêu, mỗi tiêu quan binh nhị vạn danh.
Tái phân kỳ binh nhị tiêu:
Nhất do Qui Thuận châu chinh tiến Thượng lang, Hạ lang, Quảng Nguyên, Thạch Lâm đẳng xứ.
Nhất do Khâm Châu chinh tiến Vĩnh An, Hải Đông đẳng xứ.
Mỗi tiêu quan binh nhị vạn ngũ thiên danh.
Ngũ tiêu phân bạt thâu vận tri trọng binh phu nhất vạn danh.
Hải đạo do Liêm Châu phủ phát chu sư, chinh tiến Đô Trai đẳng xứ.
Đả tạo đại ô tào chiến thuyền nhị bách chích, mỗi chích cố bạt quán tập ba đào binh phu cửu thập danh.
Đại bạch tào chiến thuyền tứ bách chích, mỗi chích cố bạt binh phu tam thập danh .
Cộng dụng chu sư tam vạn danh, đại ước thủy, lục ưng điều tam thập vạn chúng.
Tùy quân hành lương, mỗi danh nhật chi mễ nhất thăng ngũ hợp, nguyệt chi tứ đấu ngũ thăng,  tuế chi ngũ thạch tứ đấu. Đại ước ứng bị lương mễ nhất bách lục thập nhị vạn thạch.
Ô tào chiến thuyền mỗi chích đả tạo dụng ngân ngũ bách lượng, Bạch tào chiến thuyền mỗi chích đả tạo dụng ngân lục thập lượng. Cộng cai ngân thập nhị vạn tứ thiên lượng.
Quân phu, chu sư mỗi danh tuế chi cố mộ ngân thập lượng, cộng cai ngân tứ thập vạn lượng.
Thu mãi chiến mã ngũ thiên thất, mỗi thất liên yên, bí dụng ngân thập thất lượng, cộng cai ngân bát vạn ngũ thiên lượng.
Đại Bình, Long Châu đẳng xứ trang vận binh lương, quân nhu đả tạo bách liệu thuyền ngũ bách chích, mỗi chích dụng ngân thất lượng, khán thủ thủy phu nhị danh - (Nhị bách) liệu thuyền nhị bách chích, mỗi chích dụng ngân thập nhị lượng, khán thủ thủy phu tứ danh, mỗi danh tuế chi công thực ngân thập lượng. Cộng cai ngân nhất vạn bát thiên lượng.
Khôi giáp, cung tiển, đao thương, hỏa dược, kì hiệu, dược tài cộng ngân nhị vạn lục thiên lượng.
Khao lao dương tửu, ngư diêm, đoạn quyên, bố thất, ngân bài, tướng quan cung cấp, cập quân trung nhất ứng khí cụ, cộng ngân bát vạn tứ thiên lượng.
Đại ước, dụng ngân Thất thập Tam vạn Thất thiên lượng. Phỏng thám, nghịch Dung thủy, lục đê phòng, tiền hạng binh lương giai sở tất dụng.
Tra đắc Quảng Đông Triệu Khánh, Thần Điện, Tăng Thành, Tòng Hóa đẳng Vệ, Sở, Hán, Thát quan quân tam vạn bát thiên ngũ bách lục thập thất viên danh; Quảng Tây Quế Lâm, Bình Lạc đẳng Vệ, Sở Hán, Thát quan quân cửu thiên lục bách ngũ thập nhị viên danh. Trừ thủ thành, thủ tiêu, tuần bô, tuần hải, thủ áo cập quân môn công ban thao thủ chi ngoại, kham dĩ chinh tiến quan quân, Quảng Đông nhất vạn thất bách lục thập tứ viên danh, Quảng Tây nhất thiên nhị bách nhị thập viên danh. Quảng Tây Tả, Hữu nhị giang thổ binh, trừ Long Châu, Bằng Tường châu, Thượng Đống, Hạ Đống nhị châu tiếp nhưỡng Giao Chỉ, ưng hợp tồn lưu phòng, thủ nạn dĩ chế điều ngoại, Điền Châu, Trấn An, Tư Minh, Tư Ân, Qui Thuận, Tứ Thành, Nam Đơn, Đông Lan, Na Địa đẳng xứ, chính điệu gia điệu binh cai thổ binh cửu vạn lục thiên tam bách cửu thập danh. Lượng tồn cảnh nội điều khiển phòng tiễu nhất vạn thất thiên lục bách nhất thập danh, kham dĩ chinh tiến thổ binh thất vạn bát thiên thất bách bát thập danh'.
                                                                                                                   /  An Nam Tấu Nghị  /.      
- '2 đất Quảng Đông, Quảng Tây tiến binh, đường bộ thì phân 3 đạo quân Chính qui:
1 đạo từ châu Tư Lăng, phu? Tư Minh tiến đánh các xứ Lộc Châu, Tây Bình châu.
1 đạo từ Động La Hồi, ở Long Châu, tiến đánh cửa ải Ải Lưu, Cao Bằng.
1 đạo từ châu Bằng Tường tiến đánh các đất Lạng Sơn, Trường Khánh.
Mỗi đạo quân gồm quân binh Hán, Thát tộc, Lang tộc, thổ quan quân, cộng 50,000 quân.
Viện binh gồm 3 đạo, mỗi đạo quan quân 20,000 người.
Ngoài ra còn phân 2 đạo Kỳ binh:
1 đạo xuất từ ngã Qui Thuận châu tiến đánh các đất Thượng Lang, Hạ Lang, Quảng Nguyên, và Thạch Lâm, 1 đạo từ Khâm Châu tiến đánh các đất Vĩnh An, Hải Đông.
Mỗi đạo Kỳ binh quân số là 25,000 quân.
5 đạo quân mỗi đạo đều có một số xe chuyển vận quân trang, quân dụng và số quân binh cho số quân xa này là 10,000 quân.
Về đường biển thì chiến thuyền xuất phát từ Liêm Châu, tiến đánh Đô Trai các nơi.
Chiến thuyền đen lớn 200 chiếc, mỗi chiếc có 90 tay chèo, là những quân binh quen sóng gió.
Chiến thuyền trắng lớn 400 chiếc, mỗi chiếc có 30 tay chèo.
Thủy quân cộng tất cả là 30,000 quân, đại khái về 2 mặt thủy, lục phải điều động 300,000 quân.
Tùy quân số mà tính lương thực, mỗi binh lính 1 ngày cấp 1 thăng 5 hợp gạo, mỗi tháng như vậy tính ra là 4 đấu 5 thăng, vậy 1 năm chi ra là 5 thạch 4 đấu. Đại khái số lúa gạo phải chuẩn bị là 1,620,000 thạch.
Mỗi chiếc chiến thuyền đen, chi phí chế tạo là 500 lượng bạc, chiến thuyền trắng chi phí chế tạo cho mỗi chiếc là 60 lượng bạc. Cộng tất cả chi phí này lại là 124,000 lượng bạc.
Chi phí một năm cho mỗi lục quân, mỗi thủy quân là 10 lượng bạc, cộng tất cả chi phí này lại là 400,000 lượng bạc.
Chiến mã (phải) mua là 5,000 thớt, mỗi thớt kể luôn cả yên, cương giá 17 lượng bạc, cộng tất cả chi phí này lại là 85,000 lượng bạc.
Để chuyển vận quân lương, và quân trang, quân dụng tại các vùng Đại Bình, Long Châu thì cần chế tạo 500 chiếc Bách Liệu thuyền, mỗi chiếc kinh phí chế tạo là 7 lượng bạc, và mỗi chiếc cần 2 người trông coi - (Nhị bách) Liệu thuyền 200 chiếc, mỗi chiếc kinh phí chế tạo là 12 lượng, và cần có 4 người trông coi, mỗi người như vậy một năm tốn 10 lượng bạc tiền ăn và tiền làm. Cộng tất cả các chi phí này lại là 18,000 lượng bạc.
Và, chi phí cho nón trận, áo giáp, cung tên, đao, thương, hỏa dược, cờ xí, thuốc men, cộng tất cả là 26,000 lượng bạc.
Chi phí cho khoản rượu thịt khao thưởng quân binh, cá mắm, tơ lụa, vải vóc, thẻ bài hành sự, và những cung ứng cho quan, tướng và những đồ dùng trong quân, cộng lại là 84,000 lượng bạc.
Đại khái chi phí toàn thể là 737,000 lượng! Dò la để tính coi về việc phòng đê 2 mặt thủy, lục và quân lương như trên đây Mạc Đăng Dung phải chi phí là bao nhiêu?  
(Ngoài ra thì thần lại) kiểm tra được số quan quân người Hán lẫn người Thát tộc của các Vệ, Sở Triệu Khánh, Thần Điện, Tăng Thành, Tòng Hóa tỉnh Quảng Đông  là 38,567 người, các Vệ, Sở Quế Lâm, Bình Lạc tỉnh Quảng Tây là 9,652 người, vừa Hán lẫn Thát tộc. Trừ các quân binh có nhiệm vụ tuần phòng, bắt đạo tặc, tuần duyên, giữ bến, cảng, doanh trại, những người trong các cơ sở tạo tác, những kẻ có thể sung quân tác chiến thì Quảng Đông có 10,764 người, Quảng Tây có 1,220 người. Thổ binh ở tại 2 vùng Tả giang, Hữu giang, trừ Long Châu, Bằng Tường, 2 châu Thượng Đống, Hạ Đống, giáp giới với Giao Chỉ ra, Số quân binh cần giữ lại cho việc phòng thủ khó mà điều động đi đâu, thì thổ binh, chính thức và tăng cường, ở các đất Điền Châu, Trấn An, Tư Minh, Qui Thuận, Tứ Thành, Nam Đơn, Đông Lan, Na Địa, cộng tất cả 96,390 người! Lượng  định số giữ lại trong nội địa để phòng thủ, dẹp loạn là 17,610 quân'. 
[Chú thích.
+ Thăng. Hợp. Đấu. Các đơn vị dung lượng.
1 Thăng đời Minh = 1.0737 lít.
1 Hợp  =  1 / 10 Thăng.
1 Đấu  =  10 Thăng.
+ Lượng. Đơn vị trọng lượng. 1 Lượng thời Minh  =  37.30 gr.
+ Vệ, Sở là 2 đơn vị quân sự trong Binh chế Minh triều.
Tổ chức quân sự thời Minh, từ Kinh sư ra tới các địa phương, tại các vị trí yếu hại triều đình đều thiết lập các Vệ, Sở. Ở cấp Quận thì lập Thiên Hộ Sở, quân số của mỗi Sở gồm 1,120 quân, và ở cấp liên quận thì lập thành Vệ, mỗi Vệ gồm 5,600 quân.
Tại địa phương các Vệ, Sở trực thuộc Đô Chỉ Huy Sứ Ty (gọi tắt là Đô Ty) và thống lãnh tối cao của các Vệ, Sở là cơ quan Ngũ Quân Đô Đốc Phủ ở Trung Ương.
+ (Nhị bách) Liệu thuyền.
Trong phần 'Hiệu Khám Ky tập 'Quốc Triều Điển Cô, chú thích [7] của đoạn văn trên viết:
- '[7]. 'Liệu Thuyền nhị bách chích', 'Liệú tự thượng nguyên diễn 'Nhị bách' nhị tự, cứ Minh Chu Đương Miện 'Quốc Triều Điển Cô Bản, Thanh 'Hoàng Minh Tu Văn Bị Sứ Bản san'.
Dịch văn:
- 'Liệu Thuyền nhị bách chích', ở trên Chữ 'Liệú vốn suy diễn thêm 2 chữ 'Nhị bách', căn cứ bản 'Quốc Triều Điển Cô của Chu Đương Miện đời Minh và 'Hoàng Minh Tu Văn Bị Sứ đời Thanh mà bỏ đí.

Minh Di án.
Phần 'Hiệu Khám Ky trên đây là của 2 tác giả điểm hiệu Hứa Đại Linh và Vương Thiên Hữu.
2 tác giả này đã sai lầm khi bỏ đi 2 chữ 'Nhị bách'.
Chiến thuyền trong sông (nội hà) đời Minh nói chung phân 4 cỡ với các danh xưng:
1). Tứ bách liệu thuyền.
- Dài 8 trượng 6 thước 9 tấc / Rộng 1 trượng 7 thước. Thuyền có 2 cột buồm.
Tức dài 27.0259 m. và rộng 5.287 m.
2). Nhị bách liệu thuyền.
- Dài 6 trượng 2 thước 1 tấc / Rộng 1 trượng 3 thước 4 tấc. Thuyền có 2 cột buồm.
Tức dài 19.593 m. và rộng 4.1674 m.
3). Bách liệu thuyền, hoặc Nhất bách liệu thuyền.
- Dài 5 trượng 2 thước / Rộng 9 thước 6 tấc. Thuyền có 1 cột buồm.
Tức dài 16.172 m. và rộng 2.9656 m.
4). Tam bản thuyền.
- Dài 3 trượng 8 thước / Rộng 8 xích 4 tấc. Thuyền có 1 cột buồm.
Tức dài 11.818 m. và rộng 2.6124 m.
+ 1 thước (xích) đời Minh = 31.10 cm và 10 xích = 1 trượng.
Tham khảo Trung Quốc Quân Sự Sử.
                   Đệ tam Chương. Lãnh Binh khí hòa Hỏa khí tính dụng Thời đại đích Binh khí.
                   Đệ tứ Tiết. Chiến thuyền - 2. Minh, Thanh chiến thuyền.
Cứ đó thì thấy là Chu Đương Miện và cuốn 'Hoàng Minh Tu Văn Bị Sứ đã Sai lầm khi san trừ 2 Chữ 'Nhị bách' trước 2 chữ 'Liệu thuyền' trong đoạn văn trên của Bài 'An Nam Tấu Nghí.
- 'Tứ bách liệú, 'Nhị bách liệú, 'Bách liệú là những danh từ hàng hải thời cổ, cho nên ở đây tôi lấy lại 2 chữ 'Nhị bách' và để trong ngoặc đơn].

Còn quân của Mao Bá Ôn điều động năm 1540 gồm 3 đạo quân Chính qui:
1). Đạo Trung quân xuất phát từ châu Bằng Tường, phu? Thái Bình, tỉnh Quảng Tây. Đạo này do
Phó Tổng binh Trương Kinh suất lãnh, Giám quân là quan Tham chính Ông Vạn Đạt, điều động Vương  Lương Phụ với những thổ binh Hán tộc và Thát tộc, cộng 40,000 quân.
2). Đạo Tả quân xuất phát từ động La Hồi ở Long Châu, Tham tướng Lý Vinh chỉ huy và Phó sứ Trịnh Tông Cổ là Giám quân, điều động Chu Duy Tân với 14,000 thổ binh Hán tộc, Thát tộc.
3). Đạo Hữu quân xuất phát từ Ninh Châu tại Phủ Tư Minh, Đô Chỉ huy Bạch Huyễn chỉ huy, và Giám quân là Hứa Lộ, điều động Lại Kiệt với 14,000 thổ binh Hán tộc, Thát tộc.
Ngoài ra còn 2 đạo Kỳ Binh:
1). 1 Đạo xuất phát từ Qui Thuận châu do Đô Chỉ huy Trương Nguyệt chỉ huy, quan Tham chính Trương Nhạc là Giám quân, điều động Trương Nghĩa với 14,000 thổ binh Hán tộc và Thát tộc.
2). 1 Đạo xuất phát từ ngã Khâm Châu, do Tham tướng Cao Nghị chỉ huy, Giám quân là Phó Sứ Trương Gia Mưu, điều động Lý Bang Tướng với 14,000 thổ binh Hán tộc và Thát tộc.
Ngoài ra còn 1 đạo hải quân xuất phát từ núi Ô Lôi, do Đô chỉ huy Vũ Loan chỉ huy, Giám quân là Đồ Kiển, điều động Dư Đức An với 14,000 thổ binh Hán tộc, Thát tộc.
Sau cùng là đạo Hậu quân dưới sự điều động Tuần phủ ho. Uông tỉnh Vân Nam, Tổng binh Kiềm Quốc Công ho. Mộc và Tuần án Bành Thời Tế, chia ra 2 đạo xuất phát từ bến Liên Hoa, mỗi đạo gồm 20,010 thổ binh Hán tộc, Thát tộc, và 50 con voi. 2 đạo này hợp với quân của Vũ Văn Uyên cộng lại khoảng 60,030 quân.
Khi Mao Bá Ôn điều quân đến sát biên giới thì Mạc Đăng Dung sợ quá, viết tờ biểu xin hàng.
(Về việc điều động trên đây, tham khảo Thù Vực Chu Tư Lục. Qu. VỊ Nam Man. An Nam).
Trong tờ biểu đầu hàng Minh triều nói trên Mạc Đăng Dung có đoạn viết như sau:
- 'Quảng Đông Khâm Châu thủ thần tấu xưng Như Tích, Thiếp Lãng nhi. Đô, Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Ả Cát đẳng, tứ Động, nguyên hê. Khâm cố địa. Như quả sở xưng, tắc thị tiên niên Lê thị mạo nhi hữu chi, kim thần nguyện tương tiền địa qui lê. Khâm Châú.
                                                                 /  Thù Vực Chu Tư Lục. Qu. VỊ Nam Man. An Nam  /.
- 'Quan trấn thu? Khâm Châu tỉnh Quảng Đông, tâu lên nói 2 Đô Như Tích, Thiếp Lãng, 4 Động Tư Lẫm, Cổ Sâm, Kim Lặc, Ả Cát vốn là đất xưa của Khâm Châu. Nếu quả đúng như lời tâu này thì những năm trước đây ho. Lê đã mạo nhận mà chiếm đoạt, bây giờ thần xin đem đất trước đây trả về Khâm Châú.
[Phụ chú.
+ Ả Cát. Trung Hoa ghi là Liễu Cát. Không rõ có phải An Nam đã đổi tên thành Ả Cát?
+ Câu nói trên đây của Mạc Đăng Dung được dẫn lại từ bài 'Nghị Xử An Nam Sự Nghí, trong bô. Tùng thư 'Quốc Triều Điển Cô, Quyển XCIII (Qu. 93)].

Thực không còn kẻ nào hèn hạ hơn Mạc Đăng Dung!
Minh triều chưa đả động gì tới 2 Đô và 4 Động nói trên, Mạc Đăng Dung đã vội vàng mở miệng xin trả lại, hèn nhất là đổ lỗi cho ho. Lệ
Mạc Đăng Dung chiếm ngôi của ho. Lê năm 1527, đến đây là được 13 năm (1527 - 1540), lẽ nào trong suốt 13 năm Mạc Đăng Dung lại không biết 2 Đô, 4 Động này ở đâu mà có? - và như vậy Mạc Đăng Dung chẳng những đã hèn hạ mà còn xảo trá nữa?
Tiền nhân đã tốn bao công sức, xương máu, mới chiếm lĩnh được 2 Đô, 4 Động kể trên, giữ được hơn 100 năm - Bây giờ cũng chỉ vì tâm địa tham lam, tham quyền, và hèn nhát Mạc Đăng Dung đã giao lại cho Minh triều thực dễ dàng, để được ngồi ở ngôi vị mà bóc lột, đày đọa dân!
Đều là những gian thần, những kẻ tham lam, độc ác, vì cướp ngôi mà cả 2 đều bị áp lực nặng nề từ phương Bắc, nhưng, tên con nhà buôn bán gốc ở Giang Tây rồi còn khí phách hơn ho. Mạc!
Nhưng, sau đó Mạc Đăng Dung ra hàng nên Minh triều không dùng tới 170,030 quân nói trên.
Vào năm Gia Tĩnh thứ 16 (tức năm 1537), Minh triều chuẩn bị đem quân đánh Mạc Đăng Dung thì các chức Thị lang Phan Trân, Tổng đốc Lưỡng Quảng Phan Đán, Ngự Sử Từ Cửu Cao, kế đó Cấp Sự trung Tạ Đình Chỉ, Án Sát Sứ Dư Quang đều phản đối! Để rồi, có người, như Phan Trân đã bị cách chức, và Dư Quang thì bị tước bổng lộc 1 năm.
(Tham khảo Minh Sử. Qu. CCCXXI. An Nam).   

Sau cùng là thống kê dân số 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây thời Minh, để tham khảo.
- Quảng Đông.
Năm thứ 24 Niên hiệu Hồng Vũ (1368 - 1398) - tức năm 1391, theo thống kê thì dân số của tỉnh Quảng Đông là 3,366,000 - trong đó Quảng Châu là 1,168,000, tức hơn 1 / 3 dân số toàn tỉnh.
- Quảng Tây.
Năm thứ nhất Niên hiệu Gia Tĩnh (1522 - 1566), dân số của tỉnh Quảng Tây là 1,054,752.
(Các số liệu trên đây, tham khảo:
- Trung Quốc Nhân Khẩu Sử. Đệ tứ Quyển. Minh thời kỳ.
                                                   Đệ tứ tiết. Quảng Đông, Quảng Tây hòa Tứ Xuyên).
Cộng lại, dân số Lưỡng Quảng giữa thời Minh là: 3,366,000 + 1,054,752  =  4,420,752 dân.
                                                                           #
23 tháng 9. 2008.
Mậu Tý.

Thư mục:

[1]. Tả Truyện.
Xuân Thụ Tả Khâu Minh.
Thanh. Hồng Lượng Cát chú.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1987 / Sợ
[2]. Hậu Hán Thự
Nam Bắc triều - Tống. Phạm Việp.
Thanh. Vương Tiên Khiêm tập giải.
Dân Quốc. Hoàng Sơn hiệu bổ.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1984 / Sợ
[3]. Tống Sử.
Nguyên. Đoạt Đoạt.
[4]. Minh Sử.
Thanh. Trương Đình Ngọc.
[5]. Thanh Sử Cảo.
Thanh. Triệu Nhĩ Tốn tổng tài.
3 bô. Chính sử ghi số hạng [3], [4], [5]:
Nhị Thập Ngũ Sử Bản.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1991 / 8.
[6]. Minh Thông Giám.
Thanh. Hạ Tiệp.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã      1995 / 4.
[7]. Đông Tây Dương Khảo.
Minh. Trương Tiệp.
Tạ Phương điểm hiệu.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1981 / Sợ
[8]. An Nam Tấu Nghị.
Minh. Vô danh.
[9]. Nghị Xử An Nam Sự Nghị
Minh. Vô danh.
2 tác phẩm ghi số hạng [8], [9] trên đây:
Quốc Triều Điển Cố Bản.
Minh. Đặng Sĩ Long tập.
Hứa Đại Linh & Vương Thiên Hữu điểm hiệu.
Bắc Kinh Đại Học Xuất Bản Xã      1993 / Sợ
[10]. Thù Vực Chu Tư Lục.
Minh. Nghiêm Tòng Giản.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      2000 / 2.
[11]. Thanh Triều Nhu Viễn Ký.
Thanh. Vương Chi Xuân.
Triệu Xuân Thần điểm hiệu.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      2000 / 2.
[12]. Tây Vực Nam Hải Sử Địa Khảo Chứng Luận Trứ Vị Tập.
Dân Quốc. Phùng Thừa Quân.
Trung Hoa Thư Cục (HC)      1976 / Không ghi lần thứ xuất bản.
[13]. Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập. (Nguyên. Minh thời kỳ).
[14]. Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập. (Thanh thời kỳ).
Đàm Kỳ Tương chủ biên.
Trung Quốc Địa Đồ Xuất Bản Xã (TQ)      1996 / 2.
[15]. Trung Quốc Nhân Khẩu Sử. Đệ Tứ Quyển. Minh thời kỳ.
[16]. Trung Quốc Nhân Khẩu Sử. Đệ Ngũ Quyển. Thanh thời kỳ.
Tào Thụ Cơ.
Phục Đán Đại Học Xuất Bản Xã      2000 / Sợ
[17]. Trung Quốc Độ Lượng Hành Sử.
Dân Quốc. Ngô Thừa Lạc.
Thượng Hải Thư Điếm (TQ)      1984 / Sợ
[18]. Trung Quốc Quân Sự Sử (Tăng đính Bản. Đệ Nhất Quyển. Binh Khí).
Vi Trấn Phúc. Điền Chiêu Lâm. Y Tu Lương. Hoàng Dịch Binh.
Giải Phóng Quân Xuất Bản Xã      1994 / Sợ
[19]. Tôn Tử Binh Pháp Độc Bản (Bạch Thoại dịch giải).
Xuân Thụ Tôn Vũ Tử.
Thanh. Tôn Tinh Diễn soạn.
Đại Phu Thư Cục (ĐL)      Dân Quốc năm 82 (1993) / Sơ bản.
[20]. Mạnh Tử Chính Nghĩa.
Thanh. Tiêu Tuần chú.
Thượng Hải Thư Điếm      1992 / 2.
[21]. Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển (Thanh sử. Thượng).
Chủ biên: Trịnh Thiên Đĩnh. Ngô Trạch. Dương Chí Cửu.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã      1992 / Sợ
[22]. Tiên Tần Chư Tử Hệ Niên (Tăng định bản).
Tiền Mục.
Trung Hoa Thư Cục (TQ)      1985 / Sợ
[23]. Khang Hi Tự Điển (Tân tu Bản).
Thanh. (Thánh tổ) Khang Hi sắc soạn.
Lăng Thiệu Văn đẳng toản tụ
Cao Thụ Phiên trùng tụ
Linh Ký Xuất Bản Hữu Hạn Công Ty (HC)      1981 / Sợ
[24]. Từ Nguyên (Súc ấn Hợp đính Bản. 1987 Bản).
Quảng Đông. Quảng Tây. Hồ Nam. Hà Nam Tu đính Tổ.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC)      1987 / Sợ 

 

Chu Chỉ Nam

a

Dương Thu Hương

a

Đào Như

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Liên hiệp quốc

a

Lý Đại Nguyên

a

Mai Thanh Truyết

a

Minh Di

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Quang Duy

a

Nguyễn Thiếu Nhẫn

a

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

a

Nguyễn Trãi

a

Nguyễn Văn Canh

a

Nguyễn Văn Hoàng

a

Lm. Tadeo Nguyễn Văn Lý

a

Phạm Đình Hưng

a

Ht. Thích Quảng Độ

a

Ht. Thích Thiện Minh

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Vũ Cao Đàm

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Monday, 17 January, 2011 9:46