a
 
0
0

Các hồn ma của Mao

Các hồn ma của Mao

Phần I : Trung quốc -
Đất nước của sự đói kém

  1. Trung quốc và nạn đói
  1. Những người khốn
    khổ vì nạn đói -
    Hãy vùng lên !
  1. Nạn đói Soviet
  1. Cuộc Tập thể hoá đầu tiên : 1949 - 1958
  1. Khoa học sai trái -
    Lời hứa giả tạo
  1. Mao không biết nạn
    đói đang xảy ra

Phần II : Nạn đói lớn

  1. Một cái nhìn tổng
    quát về nạn đói
  1. Tỉnh Henan : một sự
    nói dối đầy thảm họa
  1. Hãy bàn về Fengyang
  1. Ở các tỉnh khác
  1. Bức thơ của Đức
    Ban Thiền Lạt Ma
  1. Trong các trại cưỡng bách lao động
  1. Phân tích về sự đói
  1. Lịch sử của việc
    " Ăn thịt người "
  1. Đời sống ở các
    thành phố

Phần III : Một cuộc
dối trá qui mô

  1. Lưu Thiếu Kỳ : Người cứu nguy các nông dân
  1. Cuộc thất bại của
    Mao và các hậu quả
  1. Có bao nhiêu
    người đã chết ?
  1. Làm cách nào bình
    luận tại một nơi ?
  1. Một thất bại
 

a

Mật thư tội ác của
chủ nghiã cộng sản

Phần I : Tàn sát -
Khủng bố - Đàn áp

  1. Nghịch biện và sự
    hiểu lầm cuộc cách mạng tháng Mười
  1. Lực lượng võ trang của chuyên chính vô sản
  1. Khủng bố đỏ
  1. Cuộc chiến bẩn thiủ
  1. Các diễn biến từ Tambov đến nạn đói lớn
  1. Từ cuộc hưu chiến
    đến đoạn quanh lớn
  1. Giải tán quy chế điền chủ và cưỡng bách canh tác tập thể
  1. Nạn đói lớn
  1. Các phần tử xa lạ
    với xã hội và các
    chu kỳ đàn áp
  1. Cuộc khủng bố vĩ
    đại trong những
    năm 1936 - 1938
  1. Đế quốc ngục tù
  1. Mặt trái của cuộc
    chiến thắng
  1. Cao điểm của các khủng hoảng trong các hợp tác xã nông nghiệp
  1. Cuộc âm mưu
    cuối cùng
  1. Giã từ chủ
    nghiã Staline
  1. Kết thúc phần
    nhà Nước chống
    lại nhân dân

Phần II : Cách mạng Thế giới - Nội chiến và khủng bố

  1. Komintern được phát động và các hành
    động của cơ quan này
  1. Bóng đen của cơ
    quan NKVD trên
    lãnh thổ Espagne
  1. Cộng sản và khủng bố
 

a

a

Tết Mậu Thân 1968

a

Đại lộ "Kinh hoàng"
Quảng Trị 1972

a

Tội đồ Hồ Chí Minh

a

Thuyền nhân -
Boat People

a

Cộng sản Quốc Tế

a

Từ thực dân đến cộng sản - Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam

  1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm - Lời giới thiệu của giáo sư P. J. Honey - Lời tựa của tác giả - Sứ mạng lịch sử của dân tộc Việt Nam
  1. Việt Nam trong lịch sử hiện đại - “Bác Hồ”, vị cứu tinh của dân tộc
  1. Cộng sản xuất hiện - Có công mài sắt, có ngày nên kim
  1. Bần cùng hoá toàn dân - "Đấu chính trị" - Danh sách Việt gian
  1. Công tác tư tưởng - Kiểm thảo - Chỉnh huấn
  1. Năm bài học
  1. Đại cương về cải cách ruộng đất - Chiến dịch giảm tô
  1. Cải cách ruộng đất đích thực
  1. Sửa sai - Chống đối chế độ
  1. Con đường thẳng tới cộng sản chủ nghĩa
 

a

a

 

Sáng tác của ký giả Jasper Becker - Dịch giả: Ngọc Nhân

Phần II : Nạn đói lớn

Chương 7: Một cái nhìn tổng quát về nạn đói

 

"Các hành động Xấu của các Người Lãnh Đạo Xấu sẽ làm im đi các mất trật tự"

- Mạnh Tử  -

Nạn đói kém của 2 năm 1958-1961 là một trường hợp riêng biệt của lịch sử Trung Hoa. Đây là lần thứ nhất tất cả thành phần của phía Bắc của nước này đã phải chịu sự đói kém, các phần "đất lạnh" của tỉnh Hắc Long Giang (Heilongjiang) thuộc về vùng Cực Bắc, trải dài đến vùng đất sum xuê của hòn đảo bán nhiệt đới Hải Nam (Hainan) ở tại phía Nam. Dù là đã từng có xảy ra các vụ đói thuộc thập niên các năm 1920, và đến cao độ của các cuộc đói kém này, các nhà chuyên gia cũng đã khẳng định việc không thể có được một hình ảnh như vậy. Các nhà chuyên gia này đã nghĩ rằng là dù chỉ có một phần của đất nước này phải chịu sự thiếu thốn, nước Trung Hoa quá rộng lớn bao la, cùng với cảnh địa tương phản, nhưng sẽ có luôn luôn một sự thặng dư lương thực tại một phần đất nào đó. Trừ ra gần đây, tại tất cả các nơi đã có quá nhiều người dân đã chết vì đói, không có lương thực để ăn !!!

Các văn khố của các triều đại về trước đã mô tả về cách đã phải "xử sự" ra sao để giải quyết các nạn thiên tai và tai ương, các nạn này đã làm giảm đi một nửa dân số của Trung Hoa, nhưng chỉ là nói đến các hậu quả của các cuộc biến động xã hội mạnh mẽ quá độ, như các cuộc nội chiến đã xảy ra vào lúc triều đại nhà Tần (Qin) đang trên đà suy vi, xảy ra vào 2.000 năm về trước, hay là cuộc xâm lăng bạo ác của Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) xảy ra vào thế kỷ thứ 12. Vào năm 1959, nước Trung Hoa đã được thống nhất và sinh sống trong thanh bình với một chính quyền cùng có được một hệ thống giao thông và vận chuyển hiện đại. Thêm vào việc chính quyền cộng sản là chính quyền đầu tiên kể từ thế kỷ thứ 17, đã hoàn toàn do người Trung Hoa đảm nhiệm và lãnh đạo, chính quyền này hoàn toàn hành động mà không hề phải chịu một sự áp bức nào từ ở phía bên ngoài. Những người lãnh đạo đã từng là người gốc Mãn Châu (của triều đại Mãn Thanh), các người lãnh đạo này đã tự coi là các người đi chinh phạt và đã sinh sống riêng biệt và họ đã bị quét sạch." Ảnh hưởng của các nước thuộc Tây phương, các ảnh hưởng này đã hầu như không còn nữa. Các người Nhật Bản xâm lăng đã bị đánh bại. Ngay là đến cả nước Nga, vào năm 1960, đã rút các chuyên viên về nước, nước Nga cũng chả còn có một ảnh hưởng nào cả đối với chính phủ Trung Hoa. Và đây là lần đầu tiên mà đảng cộng sản Trung Hoa tự giải phóng khỏi ảnh hưởng của cơ quan Quốc Tế Cộng Sản, một tổ chức trung ương kiểm soát tất cả các đảng cộng sản.

Nạn đói kém đã xảy ra và đã ảnh hưởng đến tất cả mọi người dân, không hề chừa lại một người nào, nhưng không vì vậy mà làm tác động đến toàn nước Trung Hoa một cách đồng đều. Nhiều yếu tố đã tham gia vào: yếu tố địa lý, đường lối của các người lãnh đạo ở các địa phương đã thi hành, yếu tố về tuổi tác và con người nam nữ và yếu tố sắc tộc, việc tham gia vào chính trị, giai cấp trong xã hội, sinh sống nơi thành phố hay ở nông thôn. Yếu tố địa lý là quan trọng, nhưng vào lần này nạn đói lại có tính cách riêng biệt bởi vì các hiệu quả lại không tập trung vào các địa phương thường hay xảy ra nạn đói kém. Quả vậy, các vùng thường là phì nhiêu và trù phú lại là các vùng phải chịu đựng nhiều hơn các vùng khác. Vùng thường hay xảy ra nạn đói là vùng nằm giữa hai con sông lớn của Trung Hoa: sông Hoàng Hà và sông Dương Tử (Yellow river & Yang Tsé Kiang), hai con sông này chảy từ hướng Tây sang hướng Đông. Con sông Hoàng Hà bắt nguồn từ trong nội địa và chảy qua các tỉnh Gansu, qua tỉnh Shaanxi, tỉnh Shanxi, tỉnh Shandong, tỉnh Hubei, tỉnh Henan và sau cùng qua cách đồng phía Bắc của Trung Hoa. Nơi này là "cái nôi" của nền văn minh của Trung quốc, nhưng con sông Hoàng Hà lại còn có thêm "biệt danh:" Nỗi buồn rầu của Trung quốc. Giòng sông Hoàng Hà đem lại sự phì nhiêu cho các cánh đồng, nhờ vào số đất phù sa mà các giòng nước đã mang theo để tưới vào các cánh đồng, nhưng vào mùa "nước lũ" cũng đã gây ra các nạn lụt tai hại lớn.

Xa hơn về phía Nam, con sông Hoài (Huai) được biết đến nhiều hơn vì phần lớn của giòng sông này đã chảy qua các tỉnh Henan và tỉnh Anhui, giòng sông này chảy qua các vùng đồng bằng và cũng thường gây ra các vụ ngập lụt trên một phạm vi rộng lớn. Trong thời hạn hán, đất trở nên khô cứng, nhưng vào các năm "mưa thuận gió hòa" vùng này đã sản xuất ra được một số thặng dư về ngũ cốc, giống như các vùng đồng bằng thuộc về miền Bắc. Nhờ vậy mà có thể tiếp tế lương thực cho các tỉnh ở vùng ven biển. Trong quá khứ, khi mà tại các tỉnh mà các con sông này đã chảy qua, các tỉnh này đã từng phải chịu đựng các nạn đói đã xảy ra, thì vào các năm 1958 và 1961, thì các tỉnh này đã phải chịu đựng các hành động của các người lãnh đạo của mỗi địa phương, hơn là ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết. Hai tỉnh Henan và Anhui đã phải trả một giá rất cao bởi vì hai tỉnh này đã bị đặt dưới sự lãnh đạo của hai vị "tỉnh ủy" đã có chủ trương "siêu cực tả" vì sự cuồng tin của hai vị này đã đưa đến các việc tàn bạo quá độ mà một độ cao về số người chết chưa từng thấy. Các sự đã xảy ra đã làm rung chuyển hai tỉnh này, các sự kiện sẽ được tường thuật lại ở hai chương kế tiếp.

Con sông lớn nhất của Trung Hoa là Dương Tử Giang (Yang Tsé Kiang). Con sông này bắt nguồn từ trên cao nguyên của xứ Tây Tạng, nguồn nước được tăng cường và gia tăng khi chảy qua các cánh đồng của tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), các cánh đồng phì nhiêu này có thể là các vùng đất tốt nhất của Trung quốc. Giòng sông nào đã chảy qua các "khe lũng" của các ngọn đồi và đã biến thành các khúc uốn quanh khi chảy qua các cánh đồng bằng phì nhiêu của vùng đất trung ương của Trung quốc, trước khi chảy ra biển ở vùng đất gần thành phố Shanghai (Thượng Hải). Theo như các sử liệu thì ít khi có xảy ra nạn đói kém, xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan) nhưng, từ năm 1958 đến năm 1959, thì tại "tỉnh vựa thóc" này thì đã ghi một số lớn người chết so với một số tỉnh khác: vì tại tỉnh này đã có một vị "tỉnh ủy" tên Li Jinqang, là một người tuyệt đối phục tùng Mao Trạch Đông. Sự nhiệt tâm của vị tỉnh ủy tin tưởng vào kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước đã đưa đến kết quả "tức thời" là đã làm các người nông dân của tỉnh này là các người nạn nhân đầu tiên của nạn đói kém. Về một mặt khác, tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan) đã mau phục hồi nền nông nghiệp so với các tỉnh ở miền Bắc vì tại tỉnh Tứ Xuyên các người nông dân đã canh tác được hai mùa gặt hái trong một năm, và còn có thể thu đạt thêm được các hoa màu phụ. Các sự kiện đã xảy ra ở tỉnh Tứ Xuyên và các sự kiện khác đã xảy ra ở toàn vùng Tây Nam Trung Hoa sẽ được mô tả ở chương thứ 10.

Ở một vài địa phương cuối cùng thuộc về khu vực Nam của sông Dương Tử đã được sắc tộc người Hán chinh phục, vẫn còn có nhiều sắc tộc thiểu số đang sinh sống tại các địa phương này. Trong các năm thuộc thập niên 1930, cuộc Vạn Lý Trường Chinh của người cộng sản, họ đã ngạc nhiên về sự nghèo khó của các người nông dân thuộc các sắc tộc thiểu số vì các người này đã không có đủ tiền để mua sắm số áo quần tối thiểu. Ở tại các địa phương này, các người Hán tộc đã canh tác ở các vùng thung lũng. Về toàn thể thì các người thuộc Hán tộc có một đời sống sung túc hơn các người sắc tộc thiểu số, vào các năm 1958 đến 1961, các người dân Hán tộc lại có ít lương thực để ăn so với các người dân thiểu số. Thực vậy, các người dân sinh sống trong các khu canh tác, có đường xá lưu thông thuận tiện, thì tại nơi này chính quyền đã đển để trưng thu các kho dự trữ lương thực. Vì vậy đã khiến xảy ra một số lớn người chết vì đói so với các người thuộc sắc tộc thiểu số đang sinh sống ở các vùng núi cao khó đi đến được.

Ở về phía Tây của Trung Hoa, các sắc tộc Tạng, Mông Cổ và Ouighour và nhiều sắc tộc thiểu số khác sống rải rác ở các vùng "nửa khô cằn" ở các vùng núi cao và các vùng sa mạc. Với một lối sống khác, các dân tộc thiểu số đã ít phải chịu nạn đói kém tuy là các người cầm quyền, dù là tỏ ra không thương hại (trắc ẩn), đã gặp các khó khăn lớn để thực hiện các yêu sách của họ; dù là khi họ đã thu được các lương thực, các người dân "du mục" này vẫn còn sinh sống được với các nguồn lương thực riêng của họ, và họ đã tìm ra các nguồn lương thực này từ các núi cao, từ các khu rừng hay từ các cánh đồng cỏ. Các người dân Tạng, họ rất sùng đạo và họ rất thiết tha với nền độc lập riêng của họ, các người dân Tạng này đã không có cái may này. Chính sách của các người cộng sản đã khiến các người Tạng nổi lên gây ra một cuộc nổi loạn lớn, và đã xảy ra một cuộc "trấn áp" thêm vào một nạn đói để kết thúc bằng một tai họa khủng khiếp sẽ được mô tả ở chương 10.

Ba tỉnh thuộc Mãn Châu (Liaoning), Jilin (Kilin) và Hắc Long Giang (Heilongjiang), cũng như xứ Nội Mông, các tỉnh này cũng đã có một số người di dân gốc người Hán tộc, nhưng đây là việc mới xảy ra. Nạn đói đã xảy ra vào năm 1958-1961 đã tạo ra một cuộc di dân ồ ạt từ miền Nam Trung Hoa lên ba tỉnh này và xứ Nội Mông. Riêng tại Nội Mông đã có một triệu người đến cư ngụ.Tỉnh Hắc Long Giang đã có dân số từ 14 triệu dân vào năm 1958, sang đến năm 1964, dân số của tỉnh này đã tăng lên đến 20 triệu người do việc di cư này. Tại xứ Mãn Châu đã xảy ra nạn chết người vì Đói, dù là vào thời bình thường xứ này đã có thặng dư về lương thực. Nhưng về sau nạn đói đã xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên và cùng ở nhiều tỉnh khác.

Các tỉnh nằm ở các vùng ven biển và các thành phố ở các vùng này thường xuyên vẫn phải mua - nhập vào các lương thực của các tỉnh nằm sâu trong lục địa, thường là vẫn cung cấp khoảng một phần ba (1/3) số lương thực cần thiết; và từ các tỉnh và vùng này họ sẽ trao đổi bằng các sản phẩm do địa phương sản xuất ra, các sản phẩm này có được "giá trị thêm vào" như là: trà, bông vải, tơ lụa và trái cây. Khi các nguồn về lúa và các hạt đã ngừng cung cấp do từ nội địa, các người dân cư ngụ tại đây đã phải chết vì Đói. Mặc dầu trên hết mọi việc,vào lúc nạn đói sắp kết thúc, đã có nhiều người dân sinh sống ở các tỉnh Fujian, Zhejang và Guan Dong đã có được "đặc quyền" nhận được các gói thực phẩm do các thân nhân của họ sinh sống ở các nước ngoài gửi về. Một trong số các người đối thoại với chúng tôi, đã nhớ lại là người mẹ của ông đã thường dùng thuyền đánh cá đi từ Mã Lai (Malaysia) đi về Quảng Đông để chở theo các "thùng tròn" đựng đầy "mỡ heo" nhờ vậy mà đã cứu được khỏi chết đói nhiều người nơi ngôi làng mà bà đã sinh ra tại đây. Nhưng các tỉnh này hẩu như đều giống nhau về địa lý, các tỉnh này đều đã trải qua các sự thử nghiệm khác nhau trong thời gian xảy ra nạn đói kém.

Trước khi kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước được phát động, tại tỉnh Zhejang đã có một tập hợp một pháo đài, các sản nghiệp tư hữu. Trong chiến dịch chống lại các người chống lại việc "tập thể hóa" các người nào tự tách rời ra khỏi các hợp tác xã  liền bị phũ phàng tiêu diệt. Vào năm 1958, chỉ riêng tại hạt tên Yongia, ở gần thành phố Wenzhou, đã có 200.000 người nông dân đã bị đưa ra để "phê bình và chỉ trích" vì được coi là "cơ hội hữu khuynh", một số lớn trong số các người nông dân này đã bị đưa đi cải tạo tại các trại "lao động tập trung" hay là bị xử bắn chết. Ở kế bên tỉnh Fujian, tỉnh này là tỉnh ở tuyến đầu có thể là mục tiêu xâm lăng của quân đội Quốc Dân Đảng (Koumingtang) qua ngã eo biển Đài Loan (Taiwan), trong các năm 1959 đến 1963, tỉnh này đã được đặt dưới chế độ kiểm soát của quân đội và phải bắt buộc cung cấp lương thực để nuôi quân đội đang đóng tại đây. Đã có rất nhiều người dân đã bị bắt giam vì bị tình nghi là hoạt động về gián điệp, sau khi các người cầm quyền đã ra lệnh cho các người dân sinh sống ở trong vùng phải canh chừng các hành động của các người hàng xóm và báo cáo lên chính quyền về hành động của tất cả mọi người. Tại Fujian, tại Zhejiang và tại Guan Dong, chính phủ đã đưa ra các biện pháp "vô lý" để làm gia tăng tiềm năng sản xuất lương thực. các người nông dân đã nhận được lệnh phải nhổ bỏ các cây trồng để ăn trái và nhổ các vườn trồng trà uống để gia tăng diện tích trồng cây lương thực. Và để gia tăng thêm diện tích để trồng các "cốc loại" họ đã phải đốt bỏ các ngọn đồi để có thêm diện tích để gieo trồng lúa mì. Đến mùa gặt lúa đầu tiên thì đã đạt được kết quả khả quan nhờ vào việc đất đã được bón thêm với các phân tro do việc đốt các bụi cây nhỏ tạo ra, nhưng đến các năm kế tiếp thì vụ mùa lại xấu đi vì không có được phân tro nên đất đã kém "chất màu." Vào năm 1960, các người dân của tỉnh Fujian chỉ còn có khoai lang để ăn hầu được sống còn. Vùng đất này còn được nổi danh về nghề nuôi cá, cả 2 loại cá nước ngọt và cá nước biển, nhưng các người đối thoại với chúng tôi đã xác nhận là trong khi xảy ra nạn đói, các người cầm quyền đã ra lệnh triệt để cấm các người nông dân và cấm luôn các người ngư phủ không được câu cá để tiêu dùng riêng cho bản thân của mình.

Nói tổng quát thì các người dân sinh sống ở trong các thành phố lớn, các thành phố này thường là ở gần bờ biển hay là bên các thủy lộ của các con sông lớn, như thành phố Wuhan bên sông Dương Tử (Yang Tsé) ở các thành phố này đã ít phải chịu đựng về nạn đói, vì tại các nơi này đã được áp đặt chế độ cấp phát lương thực theo tem phiếu. Một cái may khác, đã có một kế hoạch để thiết lập các "Công Xã" ở trong các thành phố, nhưng kế hoạch này đã không bao giờ được áp dụng, và ở trong thành phố này người ta đã không hề thấy được "các nhà ăn tập thể." Người dân cư ngụ tại các thành phố này chưa hề bị cấm nấu ăn tại nhà, không giống như ở thôn quê. Tuy vậy, cũng có một số người đã chết vì thiếu ăn, nhiều nhất là các người lớn tuổi và các trẻ em, nhưng cũng hiểu là nạn đói cũng cần một thời gian để có ảnh hưởng đến 2 loại người kể trên.

Cũng như ở tỉnh Anhui, tỉnh này là nơi nạn đói đã xảy ra một cách bi thảm, các người dân sinh sống ở các thành phố thuộc tỉnh này cũng chỉ chịu ảnh hưởng nhỏ của nạn đói, và các người dân đô thị này cũng không được biết rõ về các sự kiện đã xảy ra tại các ngôi làng ở nông thôn.

Một phần lớn các người dân được coi là "bị tổn thương" dễ dàng, theo sự nhận định của Mao, gồm cả lớp người khoảng 5% (năm thần trăm) của toàn dân số, đã bị xếp vào loại "kẻ thù của nhân dân. Trong các chiến dịch đã được phát động về trước, bất cứ người nào bị xếp vào loại "hạng người xấu" sẽ là các người bị loại ra khỏi danh sách cấp phát tem phiếu để cung cấp thực phẩm. Các người địa chủ, các người tu sĩ cùng với các giới chức sắc các tôn giáo, các người hữu khuynh, các người bị coi là phản cách mạng, không quên các thân nhân của họ, là người toán người nạn nhân đầu tiên. Trong thời gian diễn ra kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước, các người đã bị xếp vào các loại bị kể trên đã bị bắt giam ngay. Như đã nêu lên ở chương 12, chế độ nhà tù đã phát triển đến độ không thể lường được, khi mà đã có nhiều triệu người đã bị bắt giam mặc dù không hề được tòa án xét xử. Một phần lớn các nơi giam cầm tù nhân đều ở về phía Bắc của tỉnh Hắc Long Giang (Heilongjiang) hay là ở các vùng đất hoang vắng (vùng sa mạc) ở về phía Tây của lãnh thổ Trung Hoa, ở các nơi này dân cư rất thưa thớt, hay là ở các nơi mà rất khó làm mọc cây cỏ hay là một thức ăn loại nào có thể nuôi sống con người trong thời gian bình thường. Vì vậy đã có một nửa ố tù nhân đã chết khi họ bị đưa đến các vùng thuộc tỉnh Qinhai và Gangsu. Và chắc chắn là các tù nhân bị đưa đến các vùng có các trại giam tù nhân đã phải chịu đau khổ gấp 2 lần vì đã bị giam cầm và thêm phải nhịn đói vì không có được thức ăn đều đặn hàng ngày. Tại các tỉnh mà các người tù nhân bị đưa đến nơi để giam cầm, tại các tỉnh này các người chỉ huy các trại tù là các phần tử cực tả với đường lối cứng rắn cùng với các người lãnh đạo các tỉnh này, chính sách độc đoán của họ đã tàn phá nhân dân ở địa phương và luôn cả các tù nhân.

Dù là ở địa phương nào, việc này không phải là một sự làm ngạc nhiên, các người ít phải chịu đau khổ hơn hết là những đảng viên của Đảng cộng sản. Các người đảng viên này là các người được hưởng ưu tiên trong bộ máy của các kho dự trữ của Nhà Nước; các người này sống riêng biệt trong các khu vực dành riêng cho họ, các khu vực này được tách riêng, khác biệt với các khu vực ở bên ngoài: các người đảng viên này ăn cơm ở các câu lạc bộ (các nhà ăn tập thể). Ngay cả ở trong các trại giam tù nhân, các người tù nhân là cựu đảng viên đảng cộng sản bị thất sủng, các người này cũng được phân phát các phần ăn nhiều hơn các tù nhân khác. Nhiều thân nhân của các người công chức đã xác nhận với chúng tôi là họ không biết tin tức gì cả về các việc đã xảy ra ở các nơi ngoài nơi họ cư trú. Các sự khốn khổ của dân chúng không hề được biết đến tại các nơi cư ngụ đầy ưu quyền của các người công chức; tất cả các tin tức mà họ được biết là do các người đầy tớ của họ đã thông báo cho họ biết. Tại các vùng ở thôn quê, các người cán bộ lãnh đạo các Công Xã Nhân Dân không hề ngồi ăn chung với các người nông dân ở tại các nhà ăn tập thể (căng tin). Họ có các nhà ăn riêng. Đã có nhiều nguồn tin đã xác nhận là tại các nhà ăn riêng biệt này, các thức ăn được dồi dào hơn và thường là loại ăn ngon và được ăn đủ các loại thịt. Ông Zhang Zhonliang là đệ nhất bí thư của tỉnh Gangsu, tỉnh này đã có 1 triệu người đã chết vì Đói, ông này đi thăm viếng các nơi trong tỉnh và luôn luôn có người đầu bếp riêng của ông đi theo để phục vụ các bữa ăn của ông. Tại Xinyang trong tỉnh Henan, là nơi đã bị nạn đói hoành hành, ông Lu Xianwen là bí thư của Đảng, ông này chỉ đến thăm viếng các Công Xã Nhân Dân tại các địa phương sau khi đã đặt các bữa tiệc với 24 món khác nhau, chiếu theo một tài liệu của Đảng. Tại cấp bậc làng thì chỉ có người công chức cấp bậc nhỏ như là các người chịu trách nhiệm về sản xuất là đã chết vì Đói.

Con số các người đã chết vì Đói sẽ được mô tả ở phần viết về sau, nhưng người ta có thể nói đại khái là đa số các người nạn nhân là các người nông dân nhỏ bé gốc người Hán, các người này sinh sống ở các Công Xã Nhân Dân mới được thiết lập. Vào cuối năm 1958, hầu như toàn thể dân số là 500 triệu người đã được kiểm soát và phân chia ra để sinh sống ở các công xã mới được thiết lập. Và là điều kỳ quái này - là một hình thức cấu tạo liên quan đến thể chế của kề hoạch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước. Mao và các người đồng chí của ông đã cầu mong là các "Công Xã Nhân Dân là cái cửa để lên thiên đường và ông Khang Seng đã làm ra vài câu diễn đạt dành cho các người nông dân:

Cộng sản là các Thiên Đường
Công Xã Nhân Dân đưa ta đến nơi
Cộng Sản là cái Thiên Đường
Và luôn cũng là cái Thang để leo
Nếu ta thiết dựng cái Thang
Chúng ta có thể leo lên đến Trời.

Các người nông dân đã nhận thức ngay được là các công xã là công cụ để khủng bố. Các công xã được mau chóng tổ chức trong mùa Hè năm 1958, thường là chỉ trong vòng có một tháng, nhiều khi chỉ trong vòng 48 giờ đồng hồ. Tư tưởng và ý định này đã phát xuất từ "Bản tuyên ngôn của Đảng cộng sản" của Karl Marx, trong bản tuyên ngôn này, Marx đã dự kiến việc tổ chức các người nông dân thành các "đạo quân kỹ nghệ" các đạo quân này sẽ ở trong các "thành phố nông nghiệp" để hủy bỏ được sự cách biệt về lối sống giữa các nông thôn và các thành phố. Thường là có 100.000 người nông dân được tập hợp thành một công xã, và thường là các công xã này tập họp đến số gấp hai hay gấp ba lần. Để thiết lập một công xã, các người cầm quyền ở địa phương các "hợp tác xã" ở cấp bậc cao, các hợp tác xã này đã được thành lập vào năm 1955-1956. Công xã đầu tiên đã được thiết lập vào tháng 4 năm 1958 tại Chayashan, trong tỉnh Henan, đã tập hợp 27 hợp tác xã, với 93 nông trại và gồm có 43.000 nhân khẩu. Như đã được tường thuật ở trong Đảng: Vào năm 1958, một tổ chức mới về xã hội đã được thành hình, tổ chức mới này cũng giống như mặt trời vào buổi sáng tại chân trời rộng bao la của vùng Đông Á Châu. Các công xã này đã tạo thành một trong "Ba Lá Cờ Đỏ" của Đảng, hai lá cờ khác là kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước và chính sách tổng quát để xây dựng chủ nghĩa xã hội để thúc đẩy nước Trung Hoa đi đến chủ nghĩa cộng sản. Ba Lá Cờ này được sử dụng để hủy bỏ tất cả các quyền tư hữu, để kỹ nghệ hóa đất nước và để hợp nhất bộ máy của Nhà Nước, Đảng và giới nông dân để thành lập một tổ chức với kỷ luật quân sự. Vào mỗi buổi sáng, vào lúc tinh sương, các người nông dân sẽ đi ra đồng làm việc, với sự hướng dẫn của lá cờ đỏ, có nhiều khi vác súng theo. Ở trong mỗi công xã, các người nông dân được phân chia thành các toán (nhóm) người thành các phân đội sản xuất, nhiều khi là tất cả các người dân ở trong một ngôi làng nhỏ. Nhiều phân đội sản xuất này được họp thành một đơn vị rộng lớn hơn, là một trung đoàn. Có thêm các toán đặc biệt là các toán nhân công sản xuất và gương mẫu để làm các người "lao công xung kích" có khả năng lao động liên tục trong 18 giờ trong ngày trong lúc đó thì các trung đoàn lao động phải làm việc 12 giờ trong ngày. Cũng có các toán người lao động được tổ chức theo bán quân sự lao công xung kích.

Trong vài tháng của năm 1958, đã có các người lãnh đạo của vài Công Xã Nhân Dân đã phân chia các toán nam công nhân riêng biệt ra với các nữ công nhân, thành ra các toán người tốt riêng ra khỏi các người lao động xấu và đã đưa các người lao động tốt ra sống riêng biệt ở một nơi. Mao cũng tự hỏi là các đôi vợ chồng chỉ có thể gặp nhau 2 lần trong một tháng, vậy có thể gọi là đủ hay không hầu để sinh ra con cái.( trường hợp đó cũng được áp dụng tại Việt Nam ). Sự sống riêng biệt ra ở 2 nơi khác nhau đã được thực hiện tại Công Xã Nhân Dân tại Xushui, trong tỉnh Hebei, và sau được dần dần thực hiện tại các nơi trong nước, gồm luôn ở tỉnh Henan, tỉnh Hunan và tỉnh Anhui, đồng thời việc phát triển các "tiểu đoàn" được gởi đi lao động ở các nơi thiết lập các "chiếc đập ngăn nước" và các nơi kiến tạo các công trình xây dựng. Tại một công xã thuộc tỉnh Anhui, các người nam và nữ đã ngủ ở trong các "nhà ngủ tập trung" riêng biệt được kiến tạo ở vị trí ở đầu khác nhau ở mỗi ngôi làng. Các người lãnh đạo đã suy nghĩ rằng sự sống riêng biệt này sẽ có lợi ích cho việc sản xuất, và các người lãnh đạo đã nằn nì về việc các người nam và nữ, dù đã thành vợ chồng hay không, họ đều phải họp thành từng toán tập thể để đi dự các buổi họp hay đi lao động trên các cánh đồng. Mục đích rõ ràng của Đảng là phá hủy "cơ chế gia đình" và coi đây là một thể chế:

"Khuôn khổ của một gia đình cá thể, việc này đã có từ nhiều ngàn năm, đã biến mất, chúng ta phải coi công xã là gia đình của chúng ta và không được chăm lo riêng cho gia đình của chúng ta. Trong nhiều năm, mối tình "mẫu tử" đã được vinh danh… Nhưng đó là việc không tốt, là làm hư hỏng vai trò xã hội là một vai trò hoàn toàn về sinh vật, đối với cha mẹ của chúng ta là các người thân yêu nhất ở trên đời, nhưng việc này không thể so sánh được với chủ tịch Mao và đảng cộng sản… vì không phải gia đình cho chúng ta tất cả các điều gì và việc gì, đó là đảng cộng sản và cuộc Đại Cách Mạng. Tình cảm cá nhân không phải là quan trọng: vì vậy các người phụ nữ không được quyền đòi hay yêu sách gì về năng lực của người chồng.

Để đạt được mục tiêu này, các người lớn tuổi được đưa về sinh sống ở các "ngôi nhà hạnh phúc" được coi là các ngôi nhà để nghỉ hưu trí, còn về các trẻ em thì bị tách ra không sống với cha mẹ, và đưa về sống ở các vườn thiếu nhi hay là ở các ký túc xá. Ở trong phần lớn các công xã, chỉ trong ít lâu đã thực hiện được chương trình (kế hoạch) này, hoặc là không thực hiện được, nhưng các người cán bộ đã ít nhiều phá bỏ được đời sống trong gia đình bằng cách cấm không cho nấu ăn riêng tại nhà, cùng với việc ăn cơm tại gia. Các nhà nấu ăn tập thể đã được thiết lập ở khắp mọi nơi và đã hoạt động trong thời gian ít nhất là 3 năm. Nói tổng quát, gian nhà nào to lớn nhất ở trong làng đã được biến thành nhà ăn tập thể, và người ta đã nấu ăn trong chiếc nồi to lớn dùng để nấu thực phẩm. Đã có vài công xã đã thiết lập được một nhà ăn và được trang bị với các chiếc bàn ăn và các chiếc ghế dài, nhưng thường là mọi người đều phải ngồi ngay dưới đất để ăn khẩu phần của họ. Chỉ đến thời gian khi nạn đói chấm dứt thì mọi người mới được phép trở về nhà của họ để ăn các bữa cơm gia đình.

Các thành phố nông nghiệp đã không bao giờ được thực hiện, và được coi là thành phố nông nghiệp, nhưng đã có nhiều nơi đã được khởi làm các kế hoạch đầy khát vọng này. Ở trong hạt Fenyang, thuộc tỉnh Anhui, các người cán bộ đã quyết định chỉnh trang lại thành phố bằng cách phá bỏ các con đường quanh co để biến thành các con đường thẳng. "Các con đường cần phải thiết lập thành đường đi chiều thẳng và phải có 4 đường lưu thông, và ở giữa đường lưu thông này phải có các ngôi vườn cảnh trồng bông hoa" như đã được nêu ra và chỉ thị ở trong các buổi họp dự bị. Ký giả ly khai Liu BinYang, đã bị ghép tội "hữu khuynh" và bị đưa đi đày ở một ngôi làng ở tỉnh Shanxi, thuộc vùng Đông Bắc của nước này, người ký giả này đã hồi nhớ lại về các kế hoạch đầy khát (tham) vọng này:

"Ở dưới đất sâu của các ngôi làng này, người ta không hề tìm được các mạch nước uống, nhưng đã có lệnh phải thiết dựng một vòi nước ở tại con đường chính ở trong làng. Các người dân sinh sống tại nơi làng này hiếm hoi mới được ăn thịt lợn, nhưng người ta đã ra lệnh cho các người dân làng phải đào phá để tạo được các hốc ở bên các sườn núi để có chỗ nuôi các con hổ và các con sư tử. Các khoản ruộng đã được thiết lập từ các bậc của sườn núi, các khoản ruộng này đã bị phá bỏ để có mặt bằng hầu để xây dựng một dinh thự nhỏ dùng làm chỗ nghỉ ngơi vào mùa Hè.

Đã có nhiều dinh thự "kỳ diệu" này, người ta đã tự cho là trong đầu hôm sớm mai sẽ được hoàn thành. Tại hạt Fenyang đã tuyên bố vào cuối năm 1958, đã thành lập 158 việc đại học "Đỏ" chuyên khoa, 46 trường trung học canh nông, 509 trường tiểu học, 24 trường trung-tiểu học canh nông, 156 câu lạc bộ, 44 cung văn hóa và 105 ban ca vũ nhạc. Các ban ca vũ này sẽ trình bày một chương trình ca vũ về cách mạng và ở mỗi đoạn trình diễn sẽ đuợc kèm theo, dù ngay cả trong bữa ăn cơm, mô tả về các sự cố gắng lao động của các người nông dân. Nếu các người diễn viên đã trình diễn liên tục trong 24 giờ, các buổi trình diễn đã gặp các khó khăn vào ban đêm và ngay cả trong thời gian được giả định là các diễn viên đang ăn cơm, các người nông dân vẫn phải bắt buộc đến dự các cuộc tranh luận công khai và dự các cuộc "mít tinh.".

Trên lý thuyết, các mùa gặt hái "huyền hoặc" này có thể cung cấp cho các người nông dân các sự nhàn rỗi mà từ trước tới nay họ chưa hề biết được. Khi Mao đến viếng thăm một xã ở hạt Xushui, tỏa ở trong tỉnh Hebei, Mao đã được nghe là mùa gặt hái vào mùa Thu đã được coi là đầy hứa hẹn, Mao đã chỉ cho các người dân làng: "Hãy gieo trồng tỉa bớt đi và hãy chỉ làm việc trong bán thời gian, hãy dùng thời gian còn lại để trau dồi thêm văn hóa và kiến thức, hãy tạo ra các trò giải trí, hãy thiết lập một trường tiểu học và một trường trung học." Nhưng sự thật là vào cuối năm 1958, tờ Nhân dân Nhật Báo đã đăng một bài viết: "Chúng ta hãy cảnh cáo về việc các người nông dân sẽ tự nghỉ ngơi." Tác giả của bài viết này đã khẳng định là một cuộc thử nghiệm đang được tiến hành, việc so sánh các người nông dân đã bị bắt buộc phải lao động liên tục trong 4 hay 5 ngày và đã thiếu giấc ngủ, so sánh với kết quả của các người nông dân chỉ làm việc đến nửa đêm và có được hai lần ngừng tay làm việc trong ngày. Hình như là các kết quả tốt đạt được là toán các người nông dân đã ngừng làm việc vào lúc nửa đêm. Nhật báo này đã khuyến cáo là một nên "làm các người nông dân "mệt lả" đi và phải để cho các người nông dân có được một giấc ngủ.
Cũng trong khoảng thời gian này, người ta đã cưỡng ép các người nông dân phải tự "lột bỏ" tất cả các vật dụng tư hữu của mình. Đã xảy ra tại một nơi nào đó, một cơn "mê sảng không tưởng" xảy ra với dân làng. Một người lãnh đạo cao niên, ông Bo Yibo, về sau đã thuật lại người gì đã xảy ra tại một thành phố ở trong tỉnh Hebei:

"Viên bí thư Đảng của thành phố Paoma, vào tháng 10 năm 1958, đã thông báo là chủ nghĩa xã hội đã kết thúc vào ngày 7 tháng 11 và chủ nghĩa cộng sản sẽ bắt đầu vào ngày 8 tháng 11. Khi tan cuộc họp, tất cả mọi người đã tràn xuống các đường phố và bắt đầu đi vào các cửa hàng để tự lấy hàng hóa mà không hề trả tiền mua. Khi các cửa hàng đã trống không, không còn hàng hóa gì cả, đám đông dân chúng đã đi đến nơi nhà riêng của các người khác và đã tưóc đoạt các gà vịt và rau cải và đã đoạt lấy để đem về nhà của họ và đã ăn các loại này. Và cuối cùng dân chúng đã không còn phân biệt các trẻ em, đứa nào là con của mình và đứa nào là con của người khác. Chỉ có các "người vợ" là không bị coi là của chung, vì viên bí thư của Đảng đã do dự về "đầu đề" này. Vị này đã chuyển đạt lên các cấp trên để xin các chỉ thị để được biết là nếu dân chúng có thể giữ riêng cho các nhân của mình, người vợ của mình."

Luôn cả các "phân người" của các người nông dân cũng trở thành "tài sản công cộng." Ở các công xã, các "nhà xí" tập thể cũng đã thay thế các "nhà xí" (nơi tiểu tiện) của tư nhân. Về quần áo thì nam và nữ đều vận quần áo giống nhau và việc vận quần áo khác nhau thì bị bài bác, đồng phục quần rộng và áo dài được khuyến lệ. Và như đã mô tả ở phần trước của thiên khảo cứu này, đã có một sự cố gắng lớn để tiêu diệt các diện của văn hóa và các tín ngưỡng của dân gian. Tất cả các biện pháp này ít ra được coi là xóa bỏ các sự phân biệt trong sự bề ngoài và cương vị của các con người khác nhau, cũng như các sự khác biệt của các làng mạc và các địa hạt cùng các

Tổ chức về đời sống ở nông thôn cũng đã có nhiều việc thay đổi lớn. Trong quá khứ, nơi các người dân làng cũng đã có nhiều sự kiểm soát về mọi mặt của đời sống. Kể từ nay, công xã sẽ có trách nhiệm, không người về các sự liên hệ về canh nông, nhưng luôn về các sự việc hàng ngày như: các đám cưới, các đám tang, các cuộc di chuyển và luôn cả việc cấp phát lương thực cùng với các việc "cung tiêu" khác cho sự biến thể: các cửa hiệu buôn đã được đổi tên là "văn phòng cung cấp" để thay thế cho giấy bạc, người ta đã cung cấp bằng các "chứng chỉ để mua hàng hóa" các số tiền được ký gởi vào các ngân hàng đã trở thành các "nhân khoản để đầu tư công cộng." Ông Chen Boda đã dự định việc bỏ hoàn toàn các giấy bạc đang lưu hành và việc này gần như là một sự thực. Các người nông dân đã phải dùng các chiếc tem phiếu để cung cấp thực phẩm, được dùng vào tất cả mọi việc và ở tất cả mọi nơi, luôn cả các việc mua nước nóng để uống.

Ở trong các Công Xã Nhân Dân, một cơ cấu tổ chức mới và duy nhất đã được thiết lập và là trách nhiệm cho mỗi sự quyết định luôn cho các việc tầm thường. Viên bí thư Đảng cho công xã là người lãnh đạo của các ủy ban kiểm soát về canh nông, lương thực và thương mại, các vấn đề về chính trị, tư pháp, quân sự, khoa học và kỹ thuật. Ngoài ra, một văn phòng thứ hai chịu trách nhiệm về tổ chức các ngày lãnh đạo và thảo kế hoạch về giáo dục, văn hóa, y tế và các việc "giúp đỡ" khác. Đứng trước một nền hành chánh được tập trung triệt để, cá nhân đã trở thành bất lực, không có một việc nào có thể làm được nếu không có được sự chấp thuận của văn phòng trung ương của công xã, thường là phải đi vài ngày đường vì ở quá xa.

Nhìn qua các công xã, một hệ thống đẳng cấp trực tiếp đã đi từ Mao xuống đến người nông dân. Một cơ cấu kiểm soát như vậy, giống như ở quân sự, không thể còn là việc nghi ngờ, đã ngự trị một cách tuyệt đối trong lịch sử của Trung Hoa. Ở về bên trên của các công xã thì có cơ quan hành chính của hạt, ủy ban Đảng của quận, các cơ quan Đảng của tỉnh, rồi đến Mao và các đảng viên cao cấp là các người đứng trên tất cả mọi sự việc. Mỗi một nơi của 28 tỉnh, các vùng tự trị và các thành phố lớn đã được coi là đơn vị tự trị và tự túc. Việc này có ý nghĩa là viên Đảng ủy là "chủ nhân ông" tại các tỉnh và được coi là một "vị phó vương" chỉ có trách nhiệm với riêng Mao. Cơ quan hành chính dân sự - các bộ của Nhà Nước, không còn hành sự nữa và luôn cả các cơ quan hành chính địa phương. Đảng là tất cả, và không có một cá nhân nào có thể đặt ra câu hỏi hay là kêu ca gì về một quyết định, vì một lẽ dể hiểu là không có một cơ quan quyền lực nào để nhận các lời phàn nàn hay kêu ca hay để nhận sự khiếu nại.

Các tiền giấy được coi là tiềm tàng bãi bỏ, các công xã đã thay thế vào một hệ thống vô cùng phức tạp, căn bản trên số ngày lao động và cố gắng để tái phân phối các tài nguyên một cách công bình. Vài lúc đầu khi bắt đầu thiết lập các công xã, các người cán bộ đã giả định là mỗi cá nhân tùy theo sự lao động của bản thân; cho mỗi việc đã làm xong sẽ nhận được một số điểm ghi công. Vào lúc khởi đầu, mỗi người nông dân sẽ được cấp theo một thang bậc từ 1 đến 10, tùy theo sức khỏe và sức học của mỗi người. Sự khéo tay, các kinh nghiệm và sự hiểu biết, tất cả đều không được chú trọng đến. Về sau, mỗi một công tác hay lao động được tính riêng biệt, với một phương pháp tính điểm khác nhau ở mỗi nơi trồng tỉa, đối với các công tác khác nhau: các công tác xây dựng các đập ngăn nước, và các kinh đào dẫn thủy, hay là các dịch vụ như chăn nuôi gà vịt và lợn, hay là việc sửa chữa các nông cụ và các cơ giới khác.

Vào lúc khởi đầu, đã có một hệ thống về các khế ước, và từ lúc khởi đầu, các người nông dân hay các toán người sản xuất đã có các sự cam kết về lao động trong một khoản thời gian để thực hiện một mục tiêu sản xuất do Nhà Nước đã định ra. Các số nông sản đã sản xuất ra và được coi là thặng dư sẽ được phân phối cho các cấp bậc khác nhau theo một công thức khác và công thức này rất là phức tạp. Vào lúc khởi đầu, đã có được một sự khích lệ để lao động thật nhiều, không khuôn khổ lợi tức tùy ở nơi năng lực và khả năng sản xuất; Vào mùa Thu năm 1958, Mao đã rất lấy "làm kinh dị" khi được người ta cho trông thấy, các kết quả ở các "Công xã kiểu mẫu" ở các tỉnh Anhui và Henan, và Mao đã quyết định là nước Trung Hoa đã sẵn sàng để vượt qua giai đoạn kế tiếp: là chủ nghĩa cộng sản, là mỗi người sẽ nhận được những gì theo nhu cầu. Khi Mao đi thăm viếng tỉnh Anhui, Mao tuyên bố: "Khi một công xã đã thực hiện được việc ăn cơm mà không phải trả tiền, các công xã khác cũng có thể làm được giống như vậy. Nếu người ta có thể ăn cơm mà không phải trả tiền, trong tương lai chúng ta cũng có thể có được và quần áo để vận (che thân) mà không phải trả tiền."

Ở tại các công xã ở tỉnh Henan, các người nông dân đã không phải lo âu về các việc làm hàng ngày. Các bữa ăn đã được phân phối "miễn phí" ở các phòng ăn công cộng và tùy theo nhu cầu của mỗi cá nhân. Tất cả mọi thứ đều "miễn phí" các quần áo luôn cả việc "cắt tóc." Trong chế độ quản trị này, các "tiêu phí" về 7 trong số 10 về các "nhu cầu sơ đẳng" của đời sống đều "do công xã đài thọ": lương thực, quần áo, nhà ở, sinh đẻ, giáo dục, điều trị về y tế, đám cưới và đám tang. Không ai còn nhận được nữa các khoản tiền bạc, luôn cả số tiền để tiêu vặt. Các công xã cũng đảm nhận luôn việc tái phân phối các sự "phong phú" giữa các ngôi làng giàu có cho các ngôi làng nghèo nàn, các nông cụ và một phần các gia súc, luôn cả các của cải của các cá nhân gồm luôn cả các "hiện kim" đang có. Khi đã gặt hái xong các mùa lúa và đem về các kho chứa, người ta đã giao cho công xã để phân chia các phần lúa đã được định trước. Cũng đã xảy ra ở một vài vùng, việc tái phân chia các tài nguyên đã được thực hiện giữa các hạt.

Khởi đầu từ mùa Đông năm 1958-1959, việc không thể tránh được, từ nơi các người nông dân đã xảy ra việc oán hờn, vì việc thực hiện sự thử nghiệm hoàn toàn này đưa đến sự đổ nát. Ở tại nhiều nơi, vì vậy có thể là giai đoạn cuối cùng của việc thử nghiệm này sẽ không được thực thi. Nhưng ít ra, vì các hậu quả của chính sách này ảnh hưởng đến nên đứng trước các sự kiện về lao động, thái độ của các người nông dân vẫn không có thay đổi. Các người nông dân đều có cảm tưởng là từ nay trở đi họ không còn được khích lệ để làm việc nhiều hơn, trông coi và chăm sóc các cánh đồng cùng với các gia súc, vì các kết quả của các công sức và các sự cố gắng của họ đều bị tước đoạt. Thay vì vậy, các người nông dân đã tự nói với nhau là chủ nhân cộng sản đã đến rồi, Nhà Nước sẽ cung cấp cho họ tất cả những gì mà họ cần dùng. Thực vậy, việc này chỉ đến cho các người cán bộ ở địa phương, các người này đã sinh sống đầy đủ với những gì mà Nhà Nước đã ban cho họ.

Tác động về tâm lý của chế độ cũng phải đo lường dưới ánh sáng của việc thực thi về nền canh nông để canh tác khoản đất riêng của họ, người nông dân là một gương mẫu về sự "hiệu xuất." Đến khi các người cộng sản lên chấp chánh, các người cộng sản đã coi việc canh tác về canh nông là ngang hàng với việc công tác về kỹ nghệ và có thể là canh nông có thể canh tác theo phương sách "dây chuyền" Việc nhận định này đã không chấp nhận sự khéo léo của người nông dân, vì người nông dân đã biết thích nghi các điều kiện về thời tiết ở địa phương. Đã từng xảy ra vào thế kỷ thứ 18, các người giáo sĩ dòng Tên đã đến truyền giáo ở Trung Hoa, các vị giáo sĩ này đã lấy làm ngạc nhiên về cách canh tác của các người nông dân và các người nông dân này chăm sóc rất là kỹ càng các khoản đất nhỏ bé mà họ canh tác hầu để đạt được tối đa các hoa màu: "Một phần lớn các người nông dân đã có được một sự hiểu biết sâu sắc về thời tiết sẽ xảy ra và về việc canh tác đúng lúc để sản xuất các hoa màu trên các khoản đất nhỏ bé mà họ canh tác hầu để đạt được mức tối đa về các mùa gặt hái. Sự hiểu biết của các người nông dân về kỹ thuật canh nông, sự hiểu biết này thật là đáng được chú ý, họ đã phân rất đúng vào các đất đai mà họ canh tác và cũng đã nghĩ đến việc để qua một bên những gì mà họ đã gặt hái được và sẽ trồng tỉa cho mùa về sau; họ chú ý cẩn trọng đến thời tiết xảy ra và sẽ đến trong những ngày sắp đến và các quyết định sẽ phải làm các việc gì cần thiết.

Khởi đầu từ khi người nông dân được biết là họ sẽ không còn làm chủ được khoản đất riêng của họ nữa, họ thấy là không còn thiết tha đến việc chăm sóc cho khoản đất này nữa hầu để đạt được một năng xuất cao cho một khoản thời gian lâu dài tối đa. Thay vì việc này, các lệnh sản xuất từ chế độ "thơ lại quan liêu" ở từ xa, đã làm trái ngược lại các công việc tuần tự phải làm, muốn đạt được một sự sản xuất nông phẩm tối đa trong một thời gian ngắn. Họ đã ra lệnh phải gieo hạt vào trước thời gian hay là cố gắng đạt được 2 mùa gặt hái thay vì một mùa, hay là ra lệnh trồng 1 loại cây ở nơi không thích hợp. Với quyền lực tuyệt đối của Đảng, đã ra các lệnh canh tân cải tiến của Mao về việc cấy lúa sát vào với nhau hay là cầy và bừa với các luống cày thật sâu, các người nông dân không có cách nào khác là chỉ còn biết là phải tuân lệnh, và họ biết là các phương pháp này đều là xấu, nhưng vào các ngày này, mỗi một người nông dân chỉ còn biết chỉ có một việc liên hệ đến họ, đó là gom góp các điểm chấm công về lao động.

Vào mùa Đông năm 1958-1959, sau khi xảy ra nạn đói thê thảm, sự thờ ơ và dững dưng đã xảy ra ở thôn quê. Các người cán bộ đã càng phải dùng đến bạo lực và khủng bố để các người nông dân tuân theo các lệnh của họ.Vào lúc nạn đói đã đạt đến cao đỉnh, các người cán bộ đã có được quyền làm việc sống hay là chết đối với các người nông dân vì họ nắm quyền kiểm soát cho các kho chứa lương thực và tuyên án tử hình bằng cách không cấp phát lương thực cho bất cứ người nào. Đã xảy ra ở tại nhiều nơi, các người cán bộ đã quyết định là chỉ có người nào lao động thì mới được có "cái ăn" và để các người già tuổi và các người đau ốm phải chết vì Đói. Tại tỉnh Sichuan và ở vài nơi khác chỉ trong vòng 6 tháng đã đổi thay từ cảnh dư thừa qua cảnh chết đói: "Hãy lao động không thì chết đói."

Đọc tiếp Phần II - Chương 8 : Tỉnh Henan - Một sự nói dối đầy thảm họa

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Truyện Lịch sử

Tủ sách "Vàng"

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 2 February, 2011 22:34