a
 
0
0

Các hồn ma của Mao

Các hồn ma của Mao

Phần I : Trung quốc -
Đất nước của sự đói kém

  1. Trung quốc và nạn đói
  1. Những người khốn
    khổ vì nạn đói -
    Hãy vùng lên !
  1. Nạn đói Soviet
  1. Cuộc Tập thể hoá đầu tiên : 1949 - 1958
  1. Khoa học sai trái -
    Lời hứa giả tạo
  1. Mao không biết nạn
    đói đang xảy ra

Phần II : Nạn đói lớn

  1. Một cái nhìn tổng
    quát về nạn đói
  1. Tỉnh Henan : một sự
    nói dối đầy thảm họa
  1. Hãy bàn về Fengyang
  1. Ở các tỉnh khác
  1. Bức thơ của Đức
    Ban Thiền Lạt Ma
  1. Trong các trại cưỡng bách lao động
  1. Phân tích về sự đói
  1. Lịch sử của việc
    " Ăn thịt người "
  1. Đời sống ở các
    thành phố

Phần III : Một cuộc
dối trá qui mô

  1. Lưu Thiếu Kỳ : Người cứu nguy các nông dân
  1. Cuộc thất bại của
    Mao và các hậu quả
  1. Có bao nhiêu
    người đã chết ?
  1. Làm cách nào bình
    luận tại một nơi ?
  1. Một thất bại
 

a

Mật thư tội ác của
chủ nghiã cộng sản

Phần I : Tàn sát -
Khủng bố - Đàn áp

  1. Nghịch biện và sự
    hiểu lầm cuộc cách mạng tháng Mười
  1. Lực lượng võ trang của chuyên chính vô sản
  1. Khủng bố đỏ
  1. Cuộc chiến bẩn thiủ
  1. Các diễn biến từ Tambov đến nạn đói lớn
  1. Từ cuộc hưu chiến
    đến đoạn quanh lớn
  1. Giải tán quy chế điền chủ và cưỡng bách canh tác tập thể
  1. Nạn đói lớn
  1. Các phần tử xa lạ
    với xã hội và các
    chu kỳ đàn áp
  1. Cuộc khủng bố vĩ
    đại trong những
    năm 1936 - 1938
  1. Đế quốc ngục tù
  1. Mặt trái của cuộc
    chiến thắng
  1. Cao điểm của các khủng hoảng trong các hợp tác xã nông nghiệp
  1. Cuộc âm mưu
    cuối cùng
  1. Giã từ chủ
    nghiã Staline
  1. Kết thúc phần
    nhà Nước chống
    lại nhân dân

Phần II : Cách mạng Thế giới - Nội chiến và khủng bố

  1. Komintern được phát động và các hành
    động của cơ quan này
  1. Bóng đen của cơ
    quan NKVD trên
    lãnh thổ Espagne
  1. Cộng sản và khủng bố
 

a

a

Tết Mậu Thân 1968

a

Đại lộ "Kinh hoàng"
Quảng Trị 1972

a

Tội đồ Hồ Chí Minh

a

Thuyền nhân -
Boat People

a

Cộng sản Quốc Tế

a

Từ thực dân đến cộng sản - Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam

  1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm - Lời giới thiệu của giáo sư P. J. Honey - Lời tựa của tác giả - Sứ mạng lịch sử của dân tộc Việt Nam
  1. Việt Nam trong lịch sử hiện đại - “Bác Hồ”, vị cứu tinh của dân tộc
  1. Cộng sản xuất hiện - Có công mài sắt, có ngày nên kim
  1. Bần cùng hoá toàn dân - "Đấu chính trị" - Danh sách Việt gian
  1. Công tác tư tưởng - Kiểm thảo - Chỉnh huấn
  1. Năm bài học
  1. Đại cương về cải cách ruộng đất - Chiến dịch giảm tô
  1. Cải cách ruộng đất đích thực
  1. Sửa sai - Chống đối chế độ
  1. Con đường thẳng tới cộng sản chủ nghĩa
 

a

a

 

Sáng tác của ký giả Jasper Becker - Dịch giả: Ngọc Nhân

Phần I : Trung quốc - Đất nước của sự đói kém

Chương 5 : Khoa học sai trái - Lời hứa giả tạo

 

Về khoa canh nông, việc thành công của thực hành là tiêu biểu cuối cùng của sự thật.

- Stalin -

Khi trông thấy mọi người đều cư xử như các người say rượu thì một mình tôi có thể tự coi là điều độ được.

- Thi ca đời nhà Đường của Trung quốc -

Để phát động phong trào Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước, Mao đã khơi động các hy vọng hăng hái của toàn dân Trung quốc, việc này cũng hiển nhiên giống như sự cuồng loạn tập thể. Mao là vị "đại lãnh tụ" là con người không thể sai lầm, một người "Mát Xít" sáng chói, một thiên tài tuyệt đối, đã hứa kiến tạo nên Thiên Đường trên trái đất này. Cũng như trong các năm 40, Đảng đã khuyến khích sùng bái Mao, nhưng lần này người ta đã đi đến cao độ của sự "lố lăng quái dị": Mao đã trở thành một "bán-thần linh" không thể sai lầm. Các thi sĩ, các văn sĩ, các người ký giả và các khoa học gia của toàn Trung quốc và luôn toàn thể đảng cộng sản đã đồng lên tiếng là ảo tưởng của Mao sẽ đến trong tầm tay. Từ một nước mà nạn đói xảy ra triền miên, sẽ nhờ vào thiên tài của Mao, đất nước này sẽ trở nên phong phú và dồi dào lương thực và của cải. Các người dân Trung quốc sẽ có được thức ăn dư thừa mà họ sẽ không biết phải dùng cho việc gì và dân chúng sẽ sống một cuộc đời "nhàn hạ", mỗi ngày chỉ cần lao động vài giờ đồng hồ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Mao, Trung quốc sẽ đạt được cao độ của chủ nghĩa cộng sản, sẽ tiến bộ hơn tất cả các nước khác trên địa cầu. Nếu các người Sô Viết dự định là sẽ đạt được chủ nghĩa cộng sản trong vòng từ 10 đến 20 năm, thì các người Trung quốc có thể đạt được trong 1 hay 2 năm. Trên việc làm, Mao hứa là trong một năm việc sản xuất lương thực sẽ gia tăng gấp hai hoặc gấp ba lần. Chính nơi ông Lưu Thiếu Kỳ cũng để bị lây bởi tư tưởng của thời điểm và đưa ra khẩu hiệu: "Làm việc "cật lực" trong vài năm, sẽ hưởng hạnh phúc cả ngàn năm."

Một phong trào sùng bái cá nhân Mao đã tiên khởi trước khi phát động chiến dịch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước. Phong trào sùng bái Mao cũng ngang hàng với phong trào sùng bái Stalin. Bắt đầu từ cuối năm 1957, các hình ảnh lớn và nhỏ của Mao đã bắt đầu xuất hiện ở khắp mọi nơi. Mao được so sánh như một "mặt trời" và các người dân đã so sánh là thời đại của Mao, đã là thiên đường ở địa cầu. Nhật báo Trung quốc đã viết bài: "Các cha mẹ của chúng ta là các người thân hơn cả trên đời này, nhưng dù vậy cũng không thể so sánh được với chủ tịch Mao." Về các bài hát, Mao đã được đưa lên tột đỉnh vinh quang:

Chủ tịch Mao là người vô cùng tốt bụng,
Mười ngàn bài hát cũng không đủ để ca ngợi ông.
Chúng ta dùng các thân cây làm bút,
Dùng khuôn trời làm giấy để viết
Và dùng đại dương làm mực viết
Cũng còn có vô số điều để viết ra.

Vào năm 1958, các người cán bộ công chức đã đi khắp nơi để tuyên truyền và miêu tả hạnh phúc và đại phúc đã đang báo trước. Vị bộ trưởng canh nông là ông Tan Chenblin đã sử dụng thi ca để nói lên việc các người nông dân đang sinh sống trong các ngôi nhà tranh vách đất sẽ trong giây lát sẽ được sinh sống trong các tòa cao ốc, và không còn phải cởi trên các con lừa để di chuyển mà sẽ sử dụng phi cơ để đi đó đi đây.

  • Sau hết, chủ nghĩa cộng sản có ý nghĩa gì ?

Điều thứ nhất là được ăn no, không phải chỉ nhét đầy dạ dầy. Vào mỗi bữa cơm sẽ được thưởng thức thịt gà, cá hay là trứng gà trứng vịt…. các món ăn ngon như bộ óc của các con khỉ, các tổ chim yến, các nấm trắng sẽ dọn cho mọi người ăn tùy theo nhu cầu của mỗi người.

Điều thứ hai là về quần áo. Tất cả các nhu cầu về quần áo sẽ được cung cấp. Quần áo sẽ có được nhiều kiểu mẫu, sẽ không phải là chỉ có một màu xanh hay màu nâu. Sau những giờ làm việc, mọi người đều có quần áo bằng tơ lụa hay là bằng hàng len hay dạ. Sẽ nuôi thêm các con chồn để lấy lông. Khi mà tất cả các Công Xã Nhân Dân đã đồng đều chăn nuôi các con chồn, tất cả mọi người đều sẽ có các chiếc áo "măng tô" được lót bằng lông chồn.

Điều thứ ba là về nhà ở. Các nhà ở sẽ đạt được các tiêu chuẩn của các nhà ở nơi các thị trấn hiện đại. Vậy cần phải được hiện đại hóa cách nào ? Các cao ốc ở miền Bắc sẽ được trang bị với hệ thống "sưởi ấm trung tâm" và ở miền Nam sẽ được trang bị hệ thống điều hòa không khí. Tất cả mọi người đều sinh sống trong các tòa cao ốc to lớn. Không cần nói đến việc có điện để thắp đèn, có điện thoại, có nước để dùng hàng ngày, có máy radio và máy truyền hình.

Điều thứ tư là bàn về giao thông và di chuyển. Trừ ra các người chạy để luyện tập cho thân thể, tất cả các người đi làm việc đều sử dụng phương tiện di chuyển bằng xe chuyên chở công cộng. Các đường bay hàng không sẽ được thiết lập để đi về mọi "nơi hướng" và mỗi một tỉnh (xian) đều có một phi cảng. Và sẽ không lâu, mỗi người sẽ có một phi cơ riêng.

Điều thứ năm là việc Cao Học sẽ được dân chủ hóa. Đó là chế độ và chủ nghĩa cộng sản: lương thực, quần áo, nhà ở, việc vận chuyển chuyên chở, việc giải trí và văn hóa, các học viện về khoa học và thể dục. Đó là đáp số của các điều mà chúng ta gọi là chủ nghĩa cộng sản.

Các huyền tưởng của mức sống của nước Mỹ cũng đã được tuyên truyền cho các người nông dân đang sinh sống ở nước xa xôi là xứ Tây Tạng, ở một xứ mà người dân chưa hề trông thấy một chiếc phi cơ hay là nói đến một cao ốc: chúng ta có thể cùng chung sống như một đại gia đình. Chúng ta sẽ không phải cần lo nghĩ đến thức ăn hằng ngày, lo nghĩ về quần áo và nhà ở vì tất cả mọi người đều vận một loại quần áo, cùng đồng ăn một loại thức ăn và cùng chung sống trong một ngôi nhà, cùng lao động và hầu hết là các chiếc máy sẽ sản xuất ra các vật dụng. Và đến một thời điểm nào đó sẽ có các chiếc máy đưa đến tận miệng chúng ta các bữa cơm ăn.

Với các câu chuyện thần tiên về một việc thịnh vượng đã bất thình lình được đưa ra tuyên truyền vào năm 1956. Đã có một đối thoại với chúng tôi, người này là một cựu ký giả ở tỉnh Sơn An Tây, ông này đã trực nhớ lại trong một buổi hội họp (meeting) để tuyên truyền vào năm 1956, ông đã nghe Mao nói là trong vòng 3 năm làm việc cực nhọc, Trung quốc sẽ đạt được một sự thịnh vượng mà tất cả mọi người sẽ không còn phải làm việc cực nhọc nữa dù là ở nông thôn hay ở thành phố và tất cả mọi người đều sẽ sinh sống trong sự sung túc.

Các vị văn sĩ cũng phụ họa vào để nói lên những điều tô điểm thêm vào cuộc sống hạnh phúc này. Một nhân vật tên Qin Chao Yang trong tác phẩm: Các câu chuyện xảy ra trong làng, đã miêu tả lại các việc xảy đến:

Chủ nghĩa xã hội, đó là toàn hạt đầy núi non của chúng ta sẽ được trồng cây ở khắp nơi, các chiếc nụ của các trái Đào và của các trái Lê sẽ phủ đầy các ngọn đồi. Các trại cưa gỗ sẽ được thiết đặt ở trong hạt chúng ta và sẽ có một đường sắt được thiết đặt. Các cây ăn trái sẽ được tưới với các thuốc do phi cơ rải xuống và chúng ta sẽ có một chiếc hồ lớn để chứa trữ nước để tưới cây.

Chúng ta có thể trồng cây phủ lên đầy các triền núi ở trong hạt của chúng ta và sẽ có toàn các cây xanh và làn nước của các dòng sông sẽ trở nên trong sạch hơn. Chúng ta có thể làm cho đất dùng để trồng tỉa trở nên phì nhiêu hơn và làm cho các gương mặt của các dân làng được hân hoan và mạnh khỏe hơn ! Chúng ta sẽ làm tiến bộ xã hội chủ nghĩa ở hạt có nhiều núi non này. Nếu quý vị có đặt câu hỏi với tôi thì tôi sẽ trả lời là việc này có thể làm được ! Chúng tôi có quyết tâm, và có đôi cánh tay. Chúng tôi có thể làm được !

Một thiên tiểu thuyết khác: Các sự thay đổi lớn ở một ngôi làng ở miền núi, tác giả là ông Zhou Libo, đã miêu tả viên bí thư của một hội thanh niên của làng đã tiên liệu là dân làng sẽ được có tất cả các tiện nghi cho đời sống hiện tại.

Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ có được các tiện nghi hiện đại cho đời sống của chúng ta, không cần phải đợi đến 5 hay 10 năm nữa. Lúc ấy chúng ta sẽ dùng các số tiền tích lũy của các hợp tác xã để mua một chiếc xe "camiông" và khi các người phụ nữ ở trong làng muốn đi lên tỉnh để xem hát tuồng, các vị phụ nữ này sẽ biết lái (điều khiển) chiếc xe này. Chúng ta sẽ có điện để sử dụng, có các máy điện thoại, các xe camiông và các chiếc máy cày đất. Chúng ta sẽ sinh sống với đầy đủ các tiện nghi, hơn cả các người dân sống ở thành phố bởi vì chúng ta có được các phong cảnh đẹp và khí hậu trong sạch và lành. Bông hoa sẽ nở quanh năm, các trái cây rừng sẽ có quá nhiều đến nỗi chúng ta ăn không hết như các loại: các hạt dẻ, các trái hồ đào, tất cả các loại cây này đều mọc trên các triền núi.

Lẽ dĩ nhiên, tất cả mọi nơi ở Trung quốc, các người nông dân đều hỏi han khi nào thì đạt đến chủ nghĩa cộng sản thì các người nông dân được trả lời là sắp đến, gần sắp đến rồi. Sự lạc quan cùng với sự cuồng tin là do sự "dốt nát" của Mao về các khoa học hiện đại. Vì Mao đã hiếm khi đi ra khỏi lãnh thổ của Trung quốc và cũng không có học tập các khoa học của phương Tây, Mao tin tưởng là khoa học cho phép ông thực hiện được các giấc mơ của ông. Trong những ngày ông sinh sống ở trong vùng núi hẻo lánh tại Diên An, Mao và các người đồng nghiệp của ông đã đồng nghiên cứu kỹ lưỡng các việc tuyên truyền của Moscou với các sự thành công của các nhà khoa học Sô Viết, của các ông Pavlov, Lyssenko và các người đồng nghiệp của các ông này, và Mao và các đồng nghiệp của ông đềutin tưởng vào các sự chính xác của các nhà khoa học Liên Sô.

Tiên khởi, chủ nghĩa Mát Xít tự cho là một "chủ nghĩa khoa học" là một học thuyết được áp dụng vào các nguyên tắc cho các khoa học chính trị và của xã hội. Về lý do này Mao tưởng là khoa học hiện đại có thể biến đổi đời sống của nhiều triệu người nông dân dốt nát đã từng trải qua nhiều thế kỷ sinh sống ở trong "bùn đen" của các sự mê tín phong kiến. Không cần phải mất thời gian để thuyết phục các người nông dân "dốt nát" này, phải cưỡng bách họ đi vào thế kỷ 20 này. Tất cả mọi việc liên quan đển sự tín ngưỡng truyền thống đều bị để qua một bên hay bị hủy bỏ khi thi hành kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước (đã có nhiều người quan sát viên đã có khuynh hướng nghĩ là việc hủy bỏ các tín ngưỡng truyền thống đã chỉ xảy ra khi phong trào Cách Mạng Văn Hóa được phát động), nhưng trớ trêu thay, chính Mao lại là người buộc phải thay thế các sự tín ngưỡng này bằng một "giấc mơ" mà giấc mơ này lại không có được một căn bản khoa học nào và hoàn toàn không hợp lý, không hơn không kém, đảng cộng sản lại cho là "lố bịch" các sự dị đoan và mê tín của các người nông dân.  

Ông Khang Sinh là một người a tòng của Mao, là một con người hiện thân gần như hoàn hảo việc đến gần sự thực tế đặc biệt này: "Cũng như Karl Marx đã nói, chúng ta phải tự cho phép nói bất cứ gì" đây là lời ông Khang Sinh đã nói với tất cả mọi người, và ông đã đi khắp nơi trong nước để diễn thuyết về đề tài cần phải chứng tỏ ra có khả năng sáng tạo về khoa học. Năm 1958, ông Khang Sinh đã đặt các câu hỏi với các vị giáo sư ở thành phố Zhengzhou thuộc tỉnh Hồ Nam: "Khoa học là cái gì ? Và ông tiếp tục nói với đề tài này: "Không có khó khăn gì để làm ra các chiếc máy phản lực nguyên tử, các chiếc máy "gia tốc cộng hưởng từ tính" (cyclotron) hay là các hỏa tiển (fusée). Khoa học là gồm có sự đơn giản là hành động táo bạo, chả có gì là bí mật cả. Tại tỉnh Hefei, ông Khang Sinh cũng vẫn nói lại như vậy: các ông đừng có sợ gì cả về các việc này: khi mà các ông dám hành động một cách táo bạo, các ông có thể mau chóng thành công. Các ông phải tự tin là hơn cả mọi người, cũng giống như chả có người nào ở sau lưng của các ông… Các ông không cần lo nghĩ đến các Bộ, Sở của Động Cơ thứ nhất, của Động Cơ thứ hai, và cũng không cần đến Viện Đại Học Qinghua, mà cần phải hành động táo bạo, không cần đặt ra các câu hỏi rồi mọi việc sẽ được giải quyết tốt đẹp.

Cũng trong năm 1958, tại Thượng Hải (Shanghai), ông Khang Sinh đã tuyên bố với các người cán bộ là vào năm 1950, các trường học ở Shanghai có thể phóng lên không gian một hỏa tiển vào loại thứ ba, bay trên độ cao 300 kilômét, thì các trường học sẽ được thưởng 3 điểm. Nếu phóng lên không gian một hỏa tiển loại thứ ba có chở theo một vệ tinh thì sẽ được thưởng 5 điểm. Việc là đơn giản như vậy. Vào Tết đầu năm, dân chúng đã đốt các chiếc pháo thăng thiên, thì chắc chắn là các học sinh cũng có thể phóng lên các hỏa tiển thực sự.

Ông Qian Xusen, là một giáo sư về Vật Lý Nguyên Tử được đào tạo ở Mỹ quốc, ông đã trở về nước phục vụ cho Mao, hầu để chế tạo ra quả bom nguyên tử đầu tiên của Trung quốc, ông Qian Xusen cũng đã hưởng ứng sự lạc quan này. Ông Qian đã viết các bài báo và đã diễn thuyết trước các nhà chuyên khoa giỏi về canh nông, ông này đã nói theo ý kiến của ông về việc có thể có được nhiều mùa gặt hái trong một năm là việc làm có thể là thực tế và có thể làm tăng số thu hoạch nông sản lên gấp 10 lần và cũng có thể đến 100 lần nhiều hơn. Ông Qian đã tự phụ nói là một diện tích đất nhỏ có thể sản xuất được 12 tấn thóc nếu các năng lượng của ánh sáng mặt trời được sử dụng có "ý thức."

Một sự mù quáng về sự thật đã làm các nhà bác học Sô Viết, đang viếng thăm thân hữu Trung quốc, phải lấy làm chướng tai, ví dụ như ông Mikhail Klochko. Ông này đã viếng tỉnh Vân Nam, nơi có nhiều mỏ đồng, ông đã viếng một trường dạy chuyên nghiệp và nhận thấy là các người học sinh đã biên chép các bài học về hóa học hữu cơ theo từng bài giảng và các học sinh này chỉ chuyên học về đồng là môn vô cơ và cũng không học về các kim loại khác cùng với các nguyên tố khác nhau. Đường lối học tập này cũng đã từng diễn ra tại Liên Sô vào thời điểm Stalin đã phát động kế hoạch Ngũ Niên đầu tiên. Cũng vào thời điểm này, các thông báo trên nhiều sách học và các bài viết từng tương tự như ở Trung quốc: việc không có được các lời khuyến cáo của các người chuyên khoa vì các người này đang "nhút nhát" vì bị coi là những "người chuyên khoa trưởng giả" họ đang ẩn náu trong "tháp ngà" và họ chỉ tiến từng bước nhỏ "rởm." Các người nông dân được đề cao là các nhà bác học thật sự, các người giàu của là nhờ vào sự hiểu biết trực giác, tất cả đều do sự lãnh đạo của các đảng viên đầy nhiệt tình cách mạng - và nhờ vậy sẽ đạt được các việc phi thường. Quyển tiểu thuyết vô sản Izbrannoe (Kẻ ưu tú) của tác giả Isaac Babel, đây là một ví dụ, thuật lại việc một vị chuyên gia về dầu hỏa đã bị một đảng viên trẻ tuổi quở trách: Chúng tôi không nghi ngờ về sự hiểu biết về ngành dầu hỏa cùng với thiện chí của giáo sư. Nhưng chúng tôi bác bỏ các sự tôn sùng về các con số vì các con số này đã bó tay và nô lệ chúng ta. Chúng tôi từ chối việc sử dụng bảng toán nhân để làm căn bản cho chính sách của chúng tôi."

Trong lúc thi hành kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước như là đã gần như ít có việc đã xảy ra tại Trung quốc, nhưng lần này là trong thực trạng. Tờ Nhật Báo Nhân Dân đã thuật lại việc các người sinh viên của các phân khoa khoa học của Viện Đại Học đã không chuyên cần học các lý thuyết căn bản và đã không viết đúng vị trí của các "dấu phẩy" ở hàng các con số "thập phân" và các sinh viên khác đã làm sai trật việc tính các con số của "căn bậc hai của con số A." Còn tệ hại hơn, đã có một thông tư đã phát biểu ý kiến là về khoa học đã trở thành đơn giản dù là một đứa trẻ em cũng có thể hiểu được. Một quyển sách chuyên về tuyên truyền với tựa đề: "Chúng nó đã đạt được các sự phi thường" miêu tả việc các trẻ em của một trường tiểu học, đã từ một khoảnh đất với diện tích nhỏ bé, đã trồng được 10 loại cây trồng loại mới, và đây là một việc làm được coi là đã được xác nhận là một việc đã lấy ra ra từ một quyển sách về khoa học "tưởng tượng" không đúng vậy hởi các bạn trẻ, không đúng vậy ! Đây là một việc có thật xảy ra. Không hề là truyện phù thủy hay là một việc thần tiên và cũng không có việc một vị phù thủy với bộ râu dài và màu trắng đến từ đâu không ai được biết. Các vị anh hùng của truyện của chúng tôi là một nhóm các thiếu niên trẻ tuổi Tiên Phong, họ đang theo học tại một trường tiểu học giống như các thiếu niên khác.

Vào năm 1958, Đảng đã cho tổ chức tại Trung quốc nhiều ngàn trường trung học tân lập, các viện đại học và các viện nghiên cứu tân lập, trong khi đó thì lại giam cầm các vị bác học hay là kết án lao động khổ sai các vị bác học này. Để thay thế cho các vị bác học này, Đảng đã đưa nhiều ngàn nông dân "không có kiến thức" vào làm các việc "nghiên cứu về khoa học." Và các việc phi thường đã được công bố ra, nhưng Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước đã nặng ý nghĩa là gia tăng việc sản xuất thóc lúa và gang thép. Đây là "Hai Việc Chính" mà Mao đã nói là sẽ hiện đại Trung quốc.

Cũng giống như Stalin đã nhận định là việc sản xuất "to lớn" đang làm gia tăng số lượng sản xuất "sắt thép" là căn bản cho chương trình "kỹ nghệ hóa thái quá", Mao đã dự kiến sẽ trong vòng một năm, gia tăng sản xuất số "sắt thép" lên gấp hai hay gấp ba lần, khắp mọi nơi ở Trung quốc, từ các ngôi làng hẻo lánh cho đến vùng cao nguyên ở Tây Tạng, luôn cả các vị đảng viên cao cấp của Đảng đang sinh sống trong khuôn viên Zhongnanhai, tất cả đều xây dựng các lò nấu thép cở nhỏ, thực hiện trong các năm 1958 và 1959 để sản xuất ra thép tại các "sân hậu" nơi họ đang cư trú. Mỗi cá nhân phải cung cấp ra một số "sắt thép" đã được chỉ định trước để làm gia tăng tổng số sản lượng thép của Trung quốc. Mọi người đều cung cấp các chiếc xe đạp hư hỏng, các song sắt của các cửa sổ, các soong chảo của nhà bếp. Và để có củi để nung đốt cho các chiếc lò nấu sắt này, người ta đã chặt vô số hạn các cây cối. Tất cả các người dân, người nào có thể tham gia vào các công tác này thì mới có quyền đến ăn cơm ở các căng tin công cộng của nhân dân, và được ăn tùy thích. Các thỏi sắt được đúc ra từ các thỏi sắt này được nói là để sử dụng để biến chế ra thành các chiếc máy cày đất hầu để cơ giới hóa ngành canh nông. Nếu Trung quốc có thể thực sự sản xuất ra số nhiều "sắt thép", đương nhiên là Trung quốc có thể sản xuất số "sắt và thép" này để làm ra các chiếc máy cày đất, các chiếc máy gặt lúa, các chiếc xe vận tải, các động cơ Diesel và các máy bơm nước cần dùng cho canh nông.

Thay vì vậy, các nông dân lại thiên về môn TuFa, nói đúng từng chữ là "phương pháp sản xuất đất đai - để thực hiện việc cơ giới hóa các công tác canh nông của họ bằng cách sáng chế ra hàng trăm cách để thay thế cho các trục bánh xe, các bánh xe có răng, các sợi "giây cáp" (cable), tất cả các vật dụng này đều làm bằng gỗ thay vì làm bằng thép. Các bức hình chụp được sử dụng cho việc tuyên truyền đã cho thấy các chiếc thảm giây chuyền được thiết tạo bằng cây gỗ,các chiếc máy đập lúa, các chiếc máy rải phân bón, tất cả đều làm bằng gỗ, gồm có một cái hộp được đặt trên một "chiếc guồng" hình tròn, các đường rày (rail) bằng gỗ để cho các chiếc goong xe bằng gỗ chạy trên các đường rày này. Các người nông dân cũng sáng chế ra các chiếc máy để cấy mạ lúa và các chiếc máy để gặt lúa, các chiếc máy để cắt Đay, tất cả đều làm bằng gỗ. Tại Thượng Hải cũng có một chiếc xe camion được sáng chế ra toàn là bằng gỗ - trừ ra động cơ và các bộ phận vận chuyển. Tất cả  các thành tựu và thực hiện này đều do sáng kiến của các người nông dân, nhưng kết quả là không có ích lợi gì cả. Tất cả các chiếc máy này khi được đem ra sản xuất thì liền hư hỏng hoặc gãy bể. Mặc dù vậy, tất cả các sự hoang phí này cùng với sự điên rồ của chiến dịch các lò nấu sắt thép loại nhỏ, tất cả chỉ là sự đóng một phần nhỏ bé cho nạn đói, là kết quả của kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước.

Chính xác hơn đó là các ý nghĩ tốt mà là sai trật về việc gia tăng việc sản xuất thóc lúa – đó là vị trí "Lớn và Chính" của Mao, mà toàn quốc phải đi theo. Đây là việc mà Mao nhấn mạnh. Việc này đã đưa đến việc "suy tàn" thình lình việc sản xuất ngũ cốc. Đã có nhiều người dân Trung quốc đã nghĩ rằng các tư tưởng của Mao đã có từ nguồn gốc lấy ra từ sự hiểu biết về truyền thống của các người nông dân và Mao là con của một người nông dân, đã được gợi hứng từ các nguồn gốc truyền thống này. Nhưng sự thực là Mao đã đơn giản vay mượn các tư tưởng này của Liên Sô.

Để hiểu biết những gì đã xảy ra tại Trung quốc, người ta chỉ cần quay trở lại các năm của Stalin và xét lại cái được gọi là lý thuyết của các nhân vật như Lyssenko, Mitchourine và Williams.

Trong 25 năm, ông Trofin Denisovitch Lyssenko đã được coi như là người chuyên chế về ngành Nông Học của Liên Sô. Tất cả những người nào chống đối lại ông Lyssenko thì sẽ bị xử bắn chết hay là bị đưa đi đày ở các trại tù lao động khổ sai. Vào năm 1986, các người nạn nhân của ông Lyssenko đã được phục hồi danh dự vào khi ông Gorbachev lên cầm quyền. Cho đến thời điểm này, bức chân dung của ông Lyssenko vẫn được treo ở trong các Viện Khoa Học. Vào thời cao điểm của việc sùng bái cá nhân, các hiệu buôn "quốc doanh" đã trưng bày các bức chân dung và các pho tượng kích thước nhỏ của vị vĩ nhân này và đã có các thành phố đã dựng các bức tượng to lớn để vinh danh ông Lyssenko. Mỗi khi ông Lyssenko đọc một bài thuyết trình tại một tỉnh thì có một dàn nhạc tấu khúc để chào mừng ông và dân chúng đồng hát vang ca tụng ông:

Đàn phong cầm hãy đàn êm dịu
Với người bạn gái cũa tôi, tôi muốn hát lên
Niềm vinh quang trường cửu cho viện sĩ Lyssenko của hàn lâm viện.

Ông Lyssenko đã bác bỏ lý thuyết về sự phát triển của nền khoa học "di truyền phát sinh học" và coi khoa học này là sự "diễn tả của sự suy đồi già nua cùng với việc hư hỏng của nền khoa học trưởng giả." Để thay thế vào các lời nói tối nghĩa của mình, ông Lyssenko đã pha trộn các lý thuyết của ông Darwin về sự tiến hóa, sự tranh đua của bản chất của các loại vật khác nhau cùng với các loại động vật cùng loại. trường phái của ông Lyssenko đã từ khước các lý thuyết mà ông gọi là "phát xít" tùy theo các động vật hay là các thảo mộc có được các đặt tính bẩm sinh nếu được cải thiện sẽ được phát triển nhờ vào sự lựa chọn. Các người theo trường phái Lyssenko đã suy nghĩ ngược lại yếu tố của mọi trường chung quanh sẽ quyết định cho các đặc tính của các thảo mộc và các súc vật. Cũng giống như các người cộng sản đã nghĩ rằng họ có thể thay đổi lối suy tư của dân chúng bằng cách sửa đổi tất cả những gì ở chung quanh. Ông Lys-senko lại nghĩ rằng và coi là việc đã đạt được khi các loại cây đã thay đổi các đặc tính của nó khi người ta đã thay đổi nơi cây này từng sinh sống và các sự thay đổi này sẽ đến với thế hệ sau. Ông Lyssenko đã gợi ý nhận xét cho một người quan sát, việc này đã làm trở lại, không hơn không kém là việc các con trừu khi sinh ra đã không có đuôi vì đơn giản là người ta đã cắt đứt cái đuôi của mẹ chúng. Ông Lyssenko đã xác nhận là có thể trồng được các cây cam và cây quít tại vùng đất lạnh của xứ Sibéria và có thể làm nở hoa của các cây này vào mùa Đông và đồng thời cũng có thể biến cải cây cam thành cây táo, không phải thay vì sử dụng các phương pháp chọn lựa các giống cây này mà là làm theo đúng đắn chỉ đạo của Stalin về sự tiến hóa. Trong tờ tuần báo kỹ thuật Agrobiologiya, các người theo trường phái của ông Lys-senko đã viết ra: Các sự chỉ đạo của Stalin về các sự thay đổi cấp tiến về phẩm lượng, việc này được che dấu khó phát giác ra, đã cho phép các nhà sinh vật học Sô Viết đã phát giác ra được ở nơi các cây trồng các sự thực hiện về các sự biến chuyển về phẩm lượng cũng như sự thay đổi từ một loại cây này biến thành một cây khác.

Ông Lyssenko gốc là một người nông dân ở vùng Azer-baïdjan, vừa được nhật báo Pravda khen ngợi vào năm 1927 là một nhà "bác học đi chân không có giày" sau ngày ông Lyssenko đã làm mọc được "hạt đậu" vào mùa Đông. Ông Lyssenko đã nói với giống của các "hạt đậu" này, ông có thể làm mọc lên và làm xanh um các vùng núi của xứ Caucase vào mùa Đông, nhờ vậy sẽ giải quyết được vấn đề thức ăn (fourrage) gia súc cho mùa này. Và lại tiếp theo một việc làm "có tiếng tăm" của ông, được coi tương đương với tầm to lớn của một sự lường gạt được biết dưới tên là "tái tạo mùa Xuân." Thông thường vào mùa Đông thì các người nông dân Nga gieo các "giống lúa mì" nhưng các hạt giống này thường hay hư hỏng vì khí hậu lạnh khắc nghiệt. Các năng xuất lúa của mùa Xuân sẽ quan trọng hơn, như theo sự suy luận của ông Lyssenko là thay vì gieo giống vào mùa Đông thì nay đổi sang gieo giống vào mùa Xuân, và ông hứa là sẽ làm gia tăng số lượng lúa ở nhiều nơi ở Liên Sô. Phương pháp của ông rất là đơn giản: hãy thay đổi môi trường nơi gieo các hạt giống bằng cách ngâm các hạt giống vào nước lạnh, việc này sẽ làm thay đổi các đặc tính của hạt giống.

Đoạn thứ của bài hát tôn vinh Lyssenko, như đã kể ở phần trên, đã truy niệm một vị anh hùng Sô Viết tên Michourine:

"Ông đã đi theo dấu chân của Michourine
Với một bước chân vững chắc
Nhờ vào ông, chúng tôi không phải bị mắc lừa
Là những người Mendeliste - Morganiste."

Nếu vị tu sĩ nước Áo tên là ông Mendel và nhà bác học người Mỹ là ông Morgan là các người sáng tạo ra học thuyết "phát sinh học" (génétique) thì ông I. V. Michourine, một quý tộc bị phá sản, ông này đã "ghép" các loại cây và cũng là người sáng lập ra trường phái Lyssenkiste. Vào các năm đầu của thập niên 20, ông Mishourine đã nổi danh nhờ vào việc ông đã ghép thành công một loại cạy "nửa dưa bở với nửa loại cam hay bưởi" và đã được một người lãnh đạo cao cấp Sô Viết đã chú ý đến trong một buổi Triển Lãm Canh Nông của tất cả nước Nga. Ông Michourine đã khẳng định là ông đã sáng tạo ra hàng trăm loại cây "lai giống" cây ăn trái, vì ông chỉ được học đến chương trình sơ học, vì vậy ông đã hội đủ các tiêu chuẩn để trở thành một vị anh hùng canh nông chính xác. Toàn nước Nga phải noi gương các phương pháp của Michourine tuy là ông này cũng nêu lên việc "trực giác" là một yếu tố căn bản để giải thích cho sự thành công của ông cùng với các lý thuyết. Ông Michourine đã gièm pha các nhà khoa học chân chính và nói các vị này là một "đẳng cấp của các vị tư tế với các ngôn ngữ khó hiểu" đặc riêng biệt cho các vị đã theo lý thuyết của ông Mendel.

Tuy là về sau, ông Michourine đã bị coi là con người gian lận, tuy vậy suốt trong thời gian thi hành kế hoạch ngũ niên đầu tiên, ông này đã được sùng bái và được Stalin ưu ái và coi đó là một gương mẫu cần phải được hướng theo cho những ai muốn có được một thái độ đứng đắn đối với nền khoa học. Stalin đã khích động nhân dân với bài viết trên tuần san Octobre (tháng mười): "Hãy xua đuổi đi các sự lờ đờ bằng các đòn giáng vào liên tục không ngừng. Hãy có sự táo bạo để biến đổi và làm đổi thay thể chất của đất đai, của thiên nhiên và của cây trái. Phải chăng có sự táo bạo trong các cây Nho ở các vùng đất lạnh mà cây mọc thưa thớt ? Hãy cứ trồng cây đi ! Hãy cứ làm đi ! Hãy có các luống cày ở trong các khu vườn, trong các khu vườn trồng cây ăn trái, trong các xí nghiệp chế tạo cơ khí, trong các xưởng chế biến ra các "Mứt." Hãy làm mau lên, càng mau lên, hởi các đồng chí chuyên về nông học."

Một vị anh hùng khác thuộc trường phái Lyssenko là ông Vassili Williams. Ông này là con của một người kỹ sư Mỹ và là giáo sư của một trường canh nông ở Moscou. Ông Williams đã nghĩ rằng việc sử dụng quá nhiều phân bón hóa học mà chế độ tư bản đã ép buộc cùng với chế độ thương mãi của nước Mỹ cho ngành canh nông sẽ đưa thế giới vào một tai họa lớn. Đó là vào các năm đầu của thập niên 1930 khi các người nông dân của tiểu bang Oklahoma đã trông thấy đất của các cánh đồng của họ biến thành "đất bụi." Ông Williams đã nghĩ đến việc luân chuyển việc trồng các loại cây như các người nông dân thời Trung Cổ đã thực hiện vì họ chỉ trồng lúa trong mỗi chu kỳ 3 năm một lần. Trong thời gian không canh tác thì để đất "nghỉ dưỡng" để cho chất "nitrát" tích tụ ở dưới rễ của các cây cỏ khác và các loại cỏ chĩa ba, việc này sẽ làm cho đất tốt lên. Các người chuyên viên lão luyện khác, có ông  Pryanishnikov đã chủ xướng ngược lại về việc dùng các phân bón "loại vô cơ" hay phải cày đất không sâu, nhưng ông Williams đã gán cho các vị này là "phá hoại nền canh nông xã hội chủ nghĩa." Về sau, ông Khrouchtchev đã giải thích: "Việc tranh luận được định đoạt về tầm mức của sự đầu tư về tiền vốn. Lý thuyết về các "phân bón vô cơ" của ông Prya-nishnikov đã đòi hỏi phải đầu tư nhiều tiền vốn vào các công xưởng để sản xuất ra các phân bón cùng với các máy cày đất loại mới. Vào thời điểm này, chúng ta có rất ít tiền vốn vì vậy lý thuyết của ông Williams được chú trọng hơn. Vì vậy lý thuyết các cánh đồng tạo ra phân bón của ông Williams đã được chấp thuận."

Ông Khrouchtchev là một trong số các người đã ủng hộ ông Williams, nhưng trong hồi ký của ông, ông đã chấp nhận trên thực tế là các lý thuyết của ông Williams là không thành tựu được. dù là ông Khrouchtchev đã thử nghiệm trên một quy mô rộng lớn ở xứ Ukraine, chúng ta đã nhận thấy là đã không có được một sự cải thiện nào về sản xuất nông sản.

Stalin cũng đã vinh danh cho các ý kiến của ông Terenty Maltsev, một người học trò của ông Williams, ông Maltsev đã khuyến cáo là cần phải cày các phần đất đang được cho "hưu canh" đến độ sâu một thước để đạt được năng xuất cao hơn. Vì vậy các "lưỡi cày đất kiểu mới" được chế tạo ra. Stalin đã ban giải thưởng Lénin cho Maltsev.

Các quan niệm này đã làm thay đổi một đất nước trù phú về nông nghiệp trở thành một nước thường xuyên thiếu hụt về lương thực. Ở trong các kolkhoze, các người nông dân không được phép sử dụng các phân bón vô cơ của họ cùng với các phân lai tạp. Các nông dân của Mỹ quốc đã dùng các loại phân bón này và đã đạt được gia tăng 30% năng xuất sản xuất ngũ cốc. Thêm vào việc các đồng ruộng đã được để "hưu canh" lâu ngày và đến khi người ta gieo các hạt giống xuống đất thì các hạt giống này đã bị "xuân hóa" vì vậy đã không thể nẩy mầm luôn cả các loại: lúa mì và lúa đại mạch là các loại lúa giống của Lyssenko có sức chống lại cái lạnh, luôn cả các loại khoai lang của mùa hè và các loại củ cải để làm ra "đường" được trồng ở các vùng đất nóng ở Trung Á. Tất cả đều hư thối ở ngay dưới đất.

Có một năm, ông Lyssenko đã thuyết phục được chính quyền đưa một đội nông dân đi ra đồng áng và mỗi người đều được trang bị với một "cái kéo" để thu nhặt từ mỗi hạt lúa vì ông Lyssenko đã quan niệm là các hạt lúa đã "lai tạp" của ông và việc làm "thụ hoa" của các hạt lúa lai tập cần phải dùng đến bàn tay của con người. Đã có nhiều tấm biểu ngữ đã trưng ra các câu: Không dùng nhiều phân bón vẫn thâu hoạch được nhiều lúa. Các người nông dân đã phải làm ra một loại phân bón nhân tạo bằng cách pha trộn các chất "Mùn" với phân hữu cơ và vô cơ và gom vào thành từng đống. Phương pháp này loại ra các loại "phốt phát" và "ni trát" và đến khi các phân bón này được rải ra trên cánh đồng ruộng thì không đạt được ích lợi gì cả. Không ngó ngàng gì đến các sự thất bại liên tiếp của Lyssenko, báo chí Sô Viết tiếp tục ca ngợi các sự thành công của nền canh nông Sô Viết như việc các con bò cái thay vì cho ra sữa đã cho ra chất kem, các cải bắp đã biến đổi ra "củ cải nghệ", lúa đại mạch đã biến đổi thành lúa yến mạch và các cây chanh đã nở hoa ở vùng đất lạnh Sibéria.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, các sự thành công của Lyssenko đã đến với giấc mơ của ông: Kế hoạch lớn của Stalin để biến đổi thiên nhiên. Để tạo ra một thời tiết mới về nóng ấm cho lãnh thổ rộng lớn của các vùng Sibéria, ông Lyssenko đã đề nghị phải trồng thêm nhiều triệu cây. Các người nông dân đã được lệnh ươm các hạt giống và trồng các cây con cho sát lại gần nhau, theo như sự nhận xét của ông Lyssenko thì theo các "quy luật cần thiết cho sự sống của các loài, các giống cây cùng một loại sẽ không chống lại nhau và sẽ giúp đỡ lẫn nhau để cùng sinh tồn." Rất dễ hiểu là các "cây con" này đều chết cả, nhưng chỉ chết khi nhà soạn nhạc Chostakovitch soạn ra một bản "hợp xướng": "Bài hát cho các cây" và các lời do ông Berthol Brecht soạn ra:

Với các nghệ thuật mới
Chúng ta hãy thay đổi hình thức
Và phong cảnh của đất đai của chúng ta
Hãy vui vẻ so sánh sự khôn ngoan từ ngàn xưa
Với sự khôn ngoan mới có từ một năm nay
Giấc mộng, giấc mộng vàng của mọi sự có thể có được
Và các hạt lúa xinh xắn hãy mọc lên cao hơn.

Tại Trung quốc, Mao đã say mê nhiều về các lý thuyết của các ông Williams, Lyssenko và Michourine. Mao đã đọc quyển sách của Williams nói về các trạng thái của đất đai khi ông còn ở Diên An, và về sau Mao thường nêu ra quyển sách này trong các cuộc đàm luận, luôn cả các lý thuyết của Lyssenko. Mao thường nói với các bạn đồng nghiệp là Mao muốn thấy các người nông dân Trung quốc gieo trồng các hạt giống sát lại gần nhau và kết luận khi các hạt giống này ở gần nhau, chúng sẽ giúp đỡ lẫn nhau, sẽ mọc lên dễ dàng hơn và sự gần sát với nhau là một điều an ủi cho nhau. Các lý thuyết của Lyssenko rất thích hợp với Mao để hỗ trợ cho việc đấu tranh giai cấp. Mao suy tưởng là các loại cây cùng một giống sẽ không đua tranh với nhau để có được nước và thức ăn. Khi các người cộng sản Trung quốc vẫn còn ở Diên An, ông Lua Tianyn là người lãnh đạo các người theo trường phái Lyssenko, ông này là người quảng bá các thuyết của Sô Viết; và trong chiến dịch sửa sai, một cuộc thanh trừng đã diễn ra ở trong Đảng, diễn ra vào tháng 6 năm 1942, ông Luo đã đả kích các người theo khuynh hướng về "phát sinh học."

Sau cuộc thắng trận của các người cộng sản vào năm 1949, ông Luo đã được ủy nhiệm làm khoa trưởng của tân đại học ở Bắc Kinh và chuyên nghiên cứu khoa canh nông của Liên Sô và ông Luo đã là người giáo sư mà không ai dám cãi lại. Mọi người đều phải cúi đầu tuân phục và tất cả các lý thuyết về canh nông của Liên Sô và tất cả các vị giáo sư giảng viên đã từng được thụ huấn ở các trường ở phương Tây, tất cả các vị này đều bị bắt giam, hay là đã bị cưỡng bách phải chối bỏ các lý thuyết bị coi là "ưu sinh học phát xít."  Tất cả các cuộc nghiên cứu về "phát sinh học" đều bị ngừng lại. Các môn đệ Sô Viết của Lyssenko đã đi khắp nơi ở Trung quốc để làm các cuộc hội thảo và các người nông dân Trung quốc đã học các lý thuyết tại các Hiệp Hội Lichourine. Một người nông dân tên Shi Yiqian đã trở thành giáo sư tại trường trung học Canh Nông tại Hồ Nam sau khi đã thành công trong việc ghép "trái hồng" với "trái nho" và ghép "trái táo" với "trái lê." Ở tất cả các trường tiểu học, các trẻ em đều có được một khoảnh đất riêng biệt được gọi là khoảnh đất Michourine và các trẻ em được huấn luyện để học tập tạo ra các loại trái cây "lai giống." Đã có ở một vài nơi, người ta đã mạo nhận là đã "ghép thành công" các loại cây khác giống mà còn có nơi còn nói dối là đã làm được việc làm các con lợn lai giống với con thỏ.

Các học thuyết của Liên Sô cũng đã được ưu thế ở các lãnh vực khác, như trong lãnh vực y khoa. Khái niệm vô lý của bà Olga Lepeshenskaya, về các cuộc nghiên cứu của bà đã được truyền bá cho các trường y khoa, khái niệm này đã được chứng tỏ là có thể tạo ra được các "tế bào linh hoạt" lấy ra từ các "vật liệu hữu cơ" bất động. Một vị y sĩ ở Bắc Kinh đã nói là các khái niệm Sô Viết phải được chấp nhận, không nghi ngờ được:

"Người ta đã thuyết giảng cho chúng tôi là các người Sô Viết đã từng sáng chế ra tất cả mọi thứ, luôn cả các chiếc phi cơ. Chúng tôi cần thay đổi các sách giáo khoa của chúng tôi và đi theo đường hướng và vinh danh Lyssenko. Cũng như hội chứng tên Cushing, một chứng bệnh của hạch tuyến tiết ra chất "Adrénalin" bà Lepeshen- skaya đã nói là chính bà đã tìm ra chứng bệnh này. Vì lý luận là môn "phát sinh học" đã không được phép nói đến, chúng tôi đã bị cấm không được nói đến các chứng bệnh di truyền cũng như chứng bệnh hoại huyết của các tế bào, dù là nói với các người sinh viên. Việc này đã kéo dài cho đến ngày Mao chết đi, vì đã không có được một biện pháp nào để ngăn cản các cuộc hôn nhân của các người cùng họ hàng bên nội và làm giảm đi các tiềm năng phát sinh của họ. Kết quả của việc này đã làm sinh ra nhiều đứa con "ngu đần."

Việc hấp thụ học thuyết của Lyssenko đã giải thích việc khi các "mầm độc" về củ khoai đã tàn phá rộng lớn nhiều vùng ở Trung quốc trong các năm thuộc thập niên 1950, đã không hề có được một biện pháp nào để ngăn chận, bởi vì cũng giống như ở Liên Sô đã khẳng định là các sự thay đổi là do các yếu tố của môi trường đã gây ra. Các vị bác học người Trung quốc đã mất nhiều năm để nghiên cứu chống lại "chứng gỉ" của các thực vật cao cấp, họ đã không để ý gì đến các lời khuyến cáo của các vị bác học này. Các tài liệu nghiên cứu của các vị bác vật này chỉ được phổ biến sau năm 1979. Có  nhiều người đã nghĩ rằng là dưới thời Mao ngự trị, sản lượng các củ khoai chỉ có là một nửa của sản lượng có thể có được, tức là có thể gấp đôi nếu thi hành các biện pháp thích nghi để ngăn chặn chứng "bệnh gỉ" của khoai lang.

Học thuyết của Lyssenko đã đạt được "cao đỉnh" khi chiến dịch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước được phát động, khi chính tự tay Mao đã viết ra kế hoạch 8 điểm, nương theo học thuyết Lyssenko, để áp dụng cho nền canh nông của Trung quốc. Mỗi người nông dân của các ngôi làng phải làm theo 8 điểm của "Luật Tiến Bộ" như sau:

1. Lựa chọn các hạt giống (zhong)
2. Gieo các hạt giống sát với nhau (mi)
3. Cải thiện tốt đất gieo trồng (tu)
4. Làm tốt phân bón (fei)
5. Canh tân và cải thiện nông cụ (gong)
6. Cải tốt việc quản trị (guan)
7. Kiểm soát các sinh vật phá hoại (hai)
8. Làm tốt việc thủy lợi (shui)

  • Lựa chọn các hạt giống.

Vào năm 1958, ở tất cả mọi nơi trong nước điều tuyên bố là đã đạt được các sự thành công đáng ngạc nhiên tương đương với sự thành công của Michourine người Trung quốc là ông Shi Yiqin. Tại Guangzhou, các vị giáo sư cùng với các người học trò đã ghép lại với nhau hai loại cây: cây đu đủ với trái bí rợ, loại đậu nành với loại đâu giây. Tại tỉnh Henan, người ta đã sản xuất ra cây atisô (artichaut) ghép với hoa hướng dương. Tại Bắc Kinh, các vị bác học đã thành công trong việc ghép cây cà chua với cây cà tím, ghép được lúa mì với lúa gạo, và ghép lúa gạo với lúa miến (bobo). Một trong các việc "yêu sách" (tự nhận ra) được coi là vinh hạnh hơn cả là việc đã ghép được cây bông vải màu trắng với cây cà chua để làm ra được một loại bông vải màu đỏ.

Ngoài các việc quái dị về thảo mộc, hãng Thông Tấn Tân Trung quốc đã khoa trương tin các người nông dân đã làm mọc được các loại cây trái khổng lồ: đã làm mọc lên một quả bí rợ, không phải là 6 kilô như thông thường mà là 60 kilô, các loại lúa với các cọng rơm to lớn và các hạt lúa với cân lượng cao đặc biệt. Người được coi là anh hùng lao động tên Yang Guangbo đã lên tiếng đã đạt được 150 hạt lúa cho mỗi cọng cây thay vì như thường lệ chỉ đạt được có 100 hạt lúa. Đến lượt các người khác cũng lên tiếng trong việc ganh đua, trong số các người này có tên Jiang Shaodong, thuộc Trường Sư Phạm về thực vật ở Yuli, thuộc tỉnh Guangxi, với các kết quả được đăng trên Tạp Chí Thanh Niên Trung quốc:

"Các hạt lúa miến (bobo) cũng to bằng các hột bắp, một cọng lúa cho các hạt lúa nặng đến một lạng (500 gờ ram) và mội một thân cọng lúa có thể có được nhiều nhánh, vì vậy có thể sản xuất nhiều hạt hơn là trái bắp loại thường. Ông Jiao Shaofang bây giờ dự định làm "lai giống" và ghép cây bắp với cây lúa miến (bobo) với cây mía đường để đạt được một loại cây với 3 đặc điểm lúa miến, bắp hột và mía đường. Ông này sửa soạn đến năm tới sẽ trồng trên các ruộng đất một loại lúa gạo có năng xuất cao từ 300 đến 500 kilô lúa cho mỗi "Mu" "650 thước vuông). Phương pháp mà ông này sẽ sử dụng gồm có: a) trồng loại lúa có năng xuất cao, b) sử dụng các kỹ thuật nông nghiệp loại tiên tiến.

Các loại mẫu của các loại cây "kỳ lạ" này được trình bày ở các cuộc triển lãm, hay được in hình ra trên các tấm bích chương "to rộng" và được treo ở nơi các thành phố. Các người Trung quốc cũng đã khoe là đã tạo ra các con vật "khác thường." Vào năm 1960, vị Bộ Trưởng Canh Nông đã thuật lại việc các người nông dân của công xã "Rồng Vàng" thuộc tỉnh Trùng Khánh (Chonging) đã làm được việc cho lai giống một con heo giống "Yorshire" với một con bò cái giống "Frisonne-Holstein" bằng cách cho thụ thai nhân tạo. Hãng Thông Tin Tân Trung quốc đã, một năm sau, tường thuật về sự lớn lên của các con vật này, có vài con có da màu trắng và vài con khác có da loang vài màu khác như các con vật giống Holstein, và thông thường các "chiếc mõm" thì ngắn hơn với các cái chân khỏe mạnh hơn các con heo loại thường.

Các việc "huyền tưởng" này không phải là không có ảnh hưởng đến đời sống hiện thực. Đã có một người đối thoại với chúng tôi, từng bị kết án là thuộc giới "hữu khuynh" đã bị đưa đi lao động tại một nông trại ở gần Thượng Hải (Shanghai) và bị buộc phải lo việc săn sóc một chồng nuôi heo. Các người lãnh đạo nông trại này đã buộc ông này phải bắt đầu làm việc "thụ tinh" thiên nhiên sớm ngày. Thông thường thì các con heo chỉ "chịu đực" khi đã có được trên một tuổi và vào lúc này nặng được 80 kilô. Từ các cấp bậc lãnh đạo cao đã gởi xuống các chỉ thị là khi con heo cân nặng được 30 kilô thì phải bắt đầu việc làm "thụ tinh" và về sau các chỉ thị này lại sụt xuống 15 kilô khi con heo chỉ mới được có 4 tháng. Và đồng thời cũng có dự án là cho "lai giống" các con heo của Trung quốc mỗi lần đẻ chỉ có 2 hay 3 con heo con, cho lai giống với các con heo giống cái, gốc từ nước Nga và to lớn hơn, vì mỗi lần đẻ được 14 con heo con. Kết quả thực tế là "mỗi lứa"  được nhiều heo con hơn nhưng heo cái không đủ sữa để nuôi các con heo con nên các con heo con đều lần lượt chết đi. Người đối thoại với chúng tôi cũng đã nói là ông đã cố gắng cứu sống các con heo con này bằng cách cho chúng bú bằng các bình sữa nhưng không cứu sống được. Tại khu Nội Mông Cổ và ở Tây Tạng, đã xảy ra việc cho lai giống các con cừu (trừu) cùng với các con dê giống ở địa phương, với các con cùng loại của xứ Ukraine, và cũng không thành công được vì các con vật được sinh ra đã không chịu đựng được với khí hậu quá lạnh của các nơi này và vào mùa Đông đầu tiên đều chết hết.

  •     Việc gieo hạt giống cho sát với nhau.

Sự tin tưởng của Mao vào các nơi trồng cây có năng xuất cao đã đưa đến việc ra lệnh cho các công xã hãy thực hiện các "khu thử nghiệm." Các cánh đồng "thử nghiệm" này bắt đầu xuất hiện vào năm 1958, và đã có nhiều nơi đã kéo dài cuộc thử nghiệm cho đến năm 1980. Đã có ở một vài tỉnh lỵ, như ở tỉnh Quảng Đông (Kouang Dong) việc trồng cây sát với nhau đã được bắt buộc phải thực hiện ở khắp nơi trong tỉnh này. Thông thường thì chỉ cấy 1 triệu 500 ngàn gốc lúa trên một mẫu ruộng ở tỉnh thuộc miền Nam này. Năm 1958 đã có lệnh phải cấy 6 đến 7,5 triệu gốc cho mỗi mẫu ruộng và đến năm sau thì tăng số gốc lúa phải cấy lên đến từ 12 đến 15 triệu gốc cho mỗi mẫu đất. Phương pháp trồng cây thực vật sát lại với nhau đã được áp dụng cho toàn nước Trung quốc, như các loại lúa mì, bông vải, lúa miến (bobo), lúa kê. Ở tất cả mọi nơi việc trồng cây sát lại với nhau đều thất bại, và các hạt giống đều coi là mất đi tất cả. Việc này đã không ngăn chặn việc các báo chí đã phổ biến các hình ảnh của các cách đồng với lúa mọc dày đặc và các trẻ em có thể nằm trên các cây lúa như nằm trên các "thảm cỏ." Một nhiếp ảnh gia của hãng thông tin Tân Trung Hoa Xã, về sau đã thú nhận là người ta đã "dùng mẹo lường gạt" bằng cách đã để một chiếc ghế dài để trẻ em ngồi và nằm trên các cây lúa.

May thay, ở phần nhiều vùng nông thôn, các người nông dân đã biết trước về việc cấy lúa sát vào nhau là một việc nguy hiểm và vô ý thức và các người nông dân đã tránh thực hiện không làm việc này trên một bình diện lớn, nếu không thì toàn Trung quốc đã không có lương thực để ăn. Các người cán bộ của Đảng cũng hiểu rõ về việc này, và trước ngày Mao đến "tham quan" cánh đồng thử nghiệm ở Xili, ngoại ô của tỉnh Thiên Tân (Tianjin), các người cán bộ đã lấy các gốc lúa của các cánh đồng khác đem trồng lại tại nơi mà Mao đến tham quan. Các người cán bộ đã nhớ lại là các gốc lúa đã "dày đặc" mà người ta có thể đi lên trên mặt. Ngay khi Mao đi ra về, các người cán bộ Đảng đã cho nhổ các gốc lúa và đem cấy trả lại nơi cánh đồng cũ. Vị y sĩ riêng của Mao, ông Li Zhisui cũng đã nhớ lại việc tương tự như vậy cũng đã xảy ra tại tỉnh Hồ Bắc (Hubei): "Viên bí thư Đảng tên Wang Renzhong đã ra lệnh cho các người nông dân hãy nhổ các cây lúa ở các vùng xa và đem cấy xuống dài theo các con đường mà Mao sẽ đi qua, hầu để tạo ra ý nghĩ là sẽ đạt được thây hoạch lúa cao quá sức tưởng tượng. Tất cả Trung quốc đã trở thành một tuồng hát, ai ai cũng tạo ra một sự lạ lùng để làm cho Mao vui lòng.

  • Việc tạo cho Đất khá hơn.

Mao đã có ý tưởng là phải cày đất cho đến độ cực sâu, việc mà Stalin đã không dám nghĩ đến, Mao đã đưa ra lý do là cày đất cho sâu là tốt mà càng sâu hơn càng tốt hơn.Đã có vài nơi đã có các "luống cày" sâu đến 3 thước, với trung bình ở mọi nơi là sâu ở mức 1 thước. Việc làm nhọc nhằn này là do các toán lao công "đặc nhiệm" đảm nhận, các toán người này làm việc 24 giờ trên 24.

Vào năm 1958, tại tỉnh Liêu Nonh (Liao Ning) viên bí thư tỉnh tên Huang Ou Dong đã ra lệnh cho 5 triệu người nông dân cùng với sức của nhiều ngàn trâu bò làm việc không ngừng trong 45 ngày để cày sâu 3 triệu mẫu đất. Tại vùng này, lớp đất "có thực vật mọc được" quá mỏng, ông Huang đã ra lệnh phải đi qua các vùng khác lấy loại đất này đem về hầu để gia tăng gấp 3 lần năng xuất lúa của tỉnh Liêu Ninh. Tại tỉnh Hắc Long Giang (Heilonggiang) ở vùng cực Bắc, tại vùng này "đất lạnh" một phần lớn thời gian trong năm, các người nông dân đã dùng thuốc nổ để tạo các luống đất cày.

Tại các trại lao động cải tạo ở các vùng Cao Nguyên và ở các vùng núi ở tỉnh Thanh Hải (Qinghai) các người phạm nhân đã làm đất cứng như đá, làm cho cho mềm đi bằng cách đào các chiếc lỗ nhỏ và họ đã đổ đầy các chiếc lỗ này với cỏ khô và rơm rạ, và sau đó họ đã đốt cháy các loại này. Ở tại các vùng ruộng miền Nam, các người nông dân đã phải lặn xuống nước sâu của các đường rãnh ngập nước, vì vậy đã có nhiều người đã mắc phải chứng bệnh "sinh độc do ký sinh trùng" gây ra. Tại tỉnh An Huy, lớp đất mà các loại cây có thể mọc được rất là mỏng, việc cày đất với chiều sâu đã khiến cho đất trở nên "cằn cỗi" trong nhiều năm. Có vài vùng đã có các cánh đồng mà người ta đã đào sâu xuống đến 4 mét. Toàn tỉnh Guizhou, các "luống cày" đã quá sâu và đã bắt buộc các người nông dân pgải dùng "giây thừng" buộc dính vào với nhau để tránh khỏi chết đuối. Về sau, các cán bộ của tỉnh này đã khẳng định là đã đạt được mức sản xuất lương thực cao hơn tất cả mọi nơi ở trong nước, đạt được con số 130.000 Jin tức 65 tấn mà chỉ canh tác trên một diện tích là 350 thước vuông ruộng.

Lẽ dĩ nhiên, đã không có được một chứng cớ nào về sự hữu hiệu của các việc làm này, nhưng ở các phòng triển lãm đã trưng bày các cây lúa được trồng dưới đất sâu đã mọc lên cao hơn các cây lúa được trồng như thông thường. Vào tháng 2 năm 1959, tại hạt Anguo, các cán bộ chuyên về canh nông đã trình bày các cây lúa trồng ở dất sâu đã được đào lên để chứng minh cho việc: các luống cày sâu 15 phân, lúa sau 2 tháng được cấy xuống, các chiếc rễ chỉ mọc dài có 30 phân; các cây lúa được cấy xuống các luống cày sâu 1,50 mét, các cây lúa này đã có các chiếc rễ dài 1,50 mét, và còn hơn nữa nếu cây lúa được cấy xuống chiều sâu 2 mét thì sẽ có các chiếc rễ dài 2 mét. Tại các nơi việc cày đất sâu đã được thực hành cùng một lúc, về sau các người nông dân đã thực hành việc cày đất sâu trong 3 năm liên tiếp.

  • Việc bón phân cho ruộng.

Khoa Canh Nông Sinh Vật Học của ông Lyssenko đã lập "quy hoạch" cho việc sử dụng các loại phân bón nhân tạo, việc này đã khiến chính quyền Trung quốc nghiêm cấm đầu tư vào kỹ nghệ hóa chất và đã huấn luyện cho các người nông dân về việc này và để sử dụng một phương pháp mới để làm cho đất được trở lại tốt như trước. Các người Nga đã cho là đất được trộn với "phân chuồng" sẽ đạt được các đặc tính của "phân chuồng" và đã đưa ra bách phân là 10% phân chuồng trộn với 90% đất. Sử dụng phương pháp này toàn thể các người nông dân Trung quốc đã pha trộn các loại đất và các "chất rác rến thải ra" hầu để có được các chất phân hữu cơ, và sau đã chuyển vận các chất phân hữu cơ này ra các cánh đồng để rải ra. Để giúp cho việc chuyển vận được dễ dàng hơn, các người nông dân đã sáng chế ra các chiếc xe con và họ đã đẩy các chiếc xe con này trên các chiếc đường "rầy" (rail) bằng gỗ.
Các chất cặn bã và các chất rác lạ khác thường cũng được sử dụng để bón phân cho các đồng ruộng. Các người dân của thành phố Canton đã chuyên chở các "rác rến" phế thải từ gia dụng, chở đi đến địa giới của thành phố này và chôn các rác này trong vài tuần lễ trước khi rải lên trên các cánh đồng. Ở gần thành phố Thượng Hải, các người nông dân đã pha trộn quá nhiều các thủy tinh được đập vụn ra, việc này đã khiến cho các người nông dân phải dùng giày để đi trên các thửa ruộng. Đã có nhiều người nông dân đã đập vở các lớp "đất trét" ở phía ngoài của các bức tường của gian nhà mà họ đang cư ngụ để lấy lớp đất này làm phân bón. Ở nơi khác, người ta đã cố gắng biến chế các chất đất thường biến thành phân trộn với tro và vôi, sau đem đốt và xông khói trong nhiều ngày. Có các người nông dân khác đã nạo vét các ao hồ và các lòng của các "con sông" hầu để lấy được các chất bùn để bón phân cho đất ruộng. Một bài viết được đăng trên "Nhật Báo Nhân Dân" đã giải thích là nhờ vào các người cộng sản, từ đây Trung quốc sẽ không còn thiếu phân để bón ruộng:

"Trong quá khứ, các nhà bác học đã nói là các người nông dân đã coi việc các "phần tử vô cơ" là các chất dinh dưỡng cần thiết cho thảo mộc sinh trưởng, đó là các chất "phốt phát" "nitrát" và "bồ tát" được trộn chung trong phân bón với một số lượng tương quan. Các nhà bác học này đã xao lảng các kinh nghiệm của các người nông dân đã có được tứ ngàn năm khi các người nông dân chỉ dùng phân bón loại hữu cơ, và khi bón được nhiều phân thì số lúa thâu hoạch cũng gia tăng lên cao. Các nhà nông học cũng đã xác minh vào năm rồi là họ có thể cung cấp liên tục các "phần tử dinh dưỡng để làm cho khá hơn các đặc tính của đất.

Lịch sự của các việc khảo cứu về "thủy văn học" (hydrologie) đã tự nhận là đã sáng chế ra một loại "phân bón trường kỳ" được mô tả dưới dạng một loại "rong biển" màu xanh và loại rong này quy đọng lại chất nitrát. Nhật báo "Hình ảnh của Trung quốc" đã viết rất nhiều về việc trộn chung loại rong biển này với lúa là sẽ đạt được việc có được chất phân đạm (nitrate) trường kỳ. Ông He Wenyi là một người nông dân - thông thái, ông không đọc được các ký hiệu về hóa chất, không hiểu được các bản phúc trình của các phòng thí nghiệm và cũng không thể nhớ lại danh sách của các đơn vị hóa chất, tuy vậy ông này cũng được coi là người đã sáng chế ra một phương pháp để sản xuất ra phân bón lấy nguồn từ các vi khuẩn.

  • Việc cải tiến các dụng cụ nông nghiệp.

Chúng tôi đã mô tả vài việc thực hiện "vô tưởng" đã  đã được thực hành với phương pháp D (xoay sở - lo liệu) là việc sản xuất ra các dụng cụ bằng gỗ thay vì bằng thép. Trung quốc cũng gặp phải các vấn đề nghiêm trọng khi mưu toan sản xuất ra "hàng loạt" và đã sử dụng các cơ giới được kiến tạo ra từ các phương án không thể áp dụng được. Ví dụ như loại lúa không cần đến việc phải cấy lại, việc cấy múa là một việc rất nhọc nhằn, các cây mạ đã cho biết rõ là sẽ trở nên vô ích là chỉ có một loại duy nhất là không phải cấy lại. Thêm vào về chiếc cày của Sô Viết sáng chế ra để cày các luống cày sâu. Chiếc lưỡi cày của Trung quốc có công dụng vào 2 việc, giá của lưỡi này đắt gấp 10 lần so với lưỡi cày thông thường  nhưng khi sử dụng thì lại không thích ứng vào việc cày trên các ruộng lúa lập làm nhiều tầng ở trên các triền suôi của các ngọn đồi ở tại miền Nam. Kết quả là đã phải phế thải 700.000 lưỡi cày loại công dụng ở 2 chiều, và đưa đi nấu thành gang thép. Thêm vào việc Trung quốc đã khởi đầu việc sản xuất ra chiếc máy cày to lớn và nặng nề giống như các chiếc máy cày của Sô Viết và Trung quốc đã không noi gương của nước Nhật Bản là sản xuất các chiêc máy cày nhỏ hầu để đạt được năng xuất cao của các khu ruộng có diện tích nhỏ. Trong các năm thuộc thập niên 80, các chiếc máy cày nhỏ này đã được sản xuất ra rất nhiều và đã phải công nhận việc các chiếc máy cày nhỏ này đã làm thay đổi các phương pháp lao động của người nông dân.

  • Cải thiện phương pháp quản trị.

Về điểm này thì phải trở lại phương pháp luân canh của ông Williams đề xướng ra. Năm 1958, tại Wuhan có một cuộc hội thảo và đã đưa ra một bản thông cáo kết luận về các mục tiêu: "Chúng ta thử cố gắng làm giảm đi các diện tích hiện đang canh tác các loại cây lương thực khác nhau và thực thi việc giảm đi còn một phần ba (1/3) của diện tích hiện đang canh tác. Một phần diện tích đất được thu hồi sẽ được "hưu canh" hay dùng để làm đồng cỏ cho phân bón; một phần còn lại sẽ sử dụng làm ao hay hồ để chứa nước dùng để tưới cây để có thể biến đổi toàn quốc thành các cánh đồng trồng hoa "quang canh" (culture extensive) với các ngọn đồi, các con sông, các ao hồ và tất cả như là một công viên lớn.

Tuy vậy, phần lớn các tỉnh của Trung quốc đã không tuân theo các chỉ thị "đần độn" sẽ làm giảm đi 2/3 diện tích các cánh đồng sản xuất ra lương thực, theo như khẩu hiệu của Mao: "Nhiều hơn, mau hơn, tốt hơn và tiết kiệm nhiều hơn" và cũng phải chú ý không được để qua một bên các huấn thị của Mao. Tỉnh Hồ Nam đã báo cáo đã giảm đi 1/4 diện tích trồng lúa, tỉnh Nội Mông và tỉnh Thanh Hải (Qinghai) đã báo cáo đã giảm đi 21% diện tích và tỉnh Shaanxi đã tuyên bố đã để 1/3 diện tích "hưu canh." Cũng cùng vào thời điểm này, các sức lao động "cố gắng" trên các cánh đồng trồng các loại "ngũ cốc" đã có nhiều khi đưa đến các kết quả khốc hại. Trong các tỉnh, như tỉnh Hunan, mỗi năm sản xuất ra được hai mùa lúa gạo, các người nông dân đã nhận được lệnh là phải sản xuất ra 3 mùa lúa. Các trang trại mà có đất xấu, họ đã nhận được lệnh phải gieo các hạt giống có các hứa hẹn sẽ có năng xuất cao, nhưng các hạt giống này đã làm suy kiệt đất. Kết quả là tại phía Bắc tỉnh Anhuy, các người nông dân đã trồng bắp trái vào mùa Hè, và tại tỉnh Shaanxi, họ đã bị bắt buộc phải trồng lúa mì thay vì họ đã quen trồng "hột kê." Mao chỉ chú ý đến loại ngũ cốc chính và không thích loại phụ thuộc khác, vì vậy tại nhiều nơi các diện tích để trồng các phụ thu đã bị giảm đi. Tại tỉnh Fujian, nơi sản xuất các loại trà ngon hơn các nơi, Mao đã ra lệnh nhổ bỏ các cây trà để có chỗ trồng ngũ cốc.

  • Việc loại trừ các loại "làm hại."

Trong viễn ảnh này, một phong trào được phát động để tiêu diệt bốn loại "phá hoại": các con chim, các con chuột, các con sâu bọ và các con ruồi, phong trào này đã được phát động vào năm 1958. Toàn quốc đã khởi đầy gây ra các tiếng động lớn và liên tục bằng cách đánh trống, gõ các tiếng chiêng, gõ vào các cái soong để cấm không cho các con chim se sẻ đậu xuống các cành cây hay ở dưới đất, buộc các con chim sẻ này bay đến chết vì quá kiệt sức. Như người ta đã gọi là trận chiến tranh chống các con chim se sẻ, chỉ chấm dứt vào tháng Tư năm 1960, và được thay thế bằng việc chống lại các "con rệp" của giường ngủ. Các con chim se sẻ không giữ vai trò "con vật sống bằng mồi" các con sâu bọ đã gia tăng sinh sản và phá hoại mùa màng. Các người nông dân đã cố gắng diệt trừ các con sâu bọ trong ban đêm, bằng cách thắp đèn sáng ở ngoài các cách đồng để cho các con sâu bọ đến bay quanh cho đến khi chúng chết đi. Và người ta đã ra lệnh cho tất cả mọi người phải đạt được một tiêu chuẩn "giết ruồi." Và cũng phải giết thêm các con chuột nhà và chuột đồng. Đối với tín ngưỡng của người Tây Tạng, việc giết một sinh vật là phạm một tội lớn, đã có các vị "tu sĩ Lạt Ma" đã bị bắt giam vì các vị này đã tự sát để tránh khỏi phải thi hành các "quota" hàng ngày về việc giết chết các con chuột. Cùng với việc phát động các chiến dịch bài trừ các "loại làm hại" thì đồng thời cũng phát động "giữ vệ sinh" cực mạnh. Vào thời cao điểm của nạn đói kém, người ta vẫn đi khám xét các ngôi nhà của dân để kiểm soát về sự sạch sẽ.

  • Các công tác về thủy lợi.

Đồng thời, tất cả các địa hạt trong nước đã nhận được lệnh: ở mỗi địa hạt phải tạo dựng một chiếc hồ chứa nước bằng cách xây một chiếc đập và đào các con kinh "dẫn thủy nhập điền." Các phương án lớn được thiết lập và công tác lớn  đã được khởi đầu như việc xây đập nước San Men Xia trên sông Hoàng Hà đã được xúc tiến mau chóng. Gần như một có một trường hợp nào ngoại lệ, tất cả các công tác của thời điểm này đều không thành công vì không vững chắc. Một vị cán bộ cao cấp của bộ Canh Nông, về sau, vào năm 1990, đã thuật lại việc các hồ chứa nước nhỏ đã là "không ích lợi gì." Một phần lớn các chiếc đập ngăn chặn nước đã biến mất sau 2 hay 3 năm. Chiếc đập nước xây trên sông Hoàng Hà, để tạo ra một hồ chứa nước, chiếc hồ này đã tràn ngập bùn và không còn sử dụng được. Ngày hôm nay, hồ chứa nước và chiếc đập chặn nước này chỉ còn được sử dụng một phần hạn chế. Có vài chiếc đập loại quan trọng trung bình còn được sử dụng một phần nào và sẽ sụp đổ và sẽ gây ra các kết quả khốc hại. Vào tháng 8 năm 1975 là năm xảy ra nạn lụt lớn nhất của lịch sử đã gây cho 250.000 người chết đuối, các chiếc đập ngăn nước ở Banqiao và ở Shimantan và ở Zhumadian thuộc tỉnh Hunan đã lần lượt sụp đổ.

Tất cả các sức lao động và tài chính, đầu tư vào việc xây dựng các chiếc đập ngăn chặn này, đều là hoang tưởng. Trên thực tế, họ đã sử dụng các dụng cụ thô sơ để xây dựng các đại công trình cũng như các tiểu công trình. Các người lao công đã thay phiên nhau làm việc suốt ngày đêm. Các người lao công này chỉ được nuôi ăn cơm nếu họ chịu làm việc, và chỗ ở và nghỉ ngơi thì thật là tồi tệ. Các người nông dân được tổ chức thành đội ngũ như trong quân đội, và được tập họp thành đội ngũ để đi đến vị trí lao động, khi đến vị trí thì có người cầm cờ đỏ đi đầu hướng dẫn, và cũng có kèm theo các bản nhạc quân sự do các máy khuếch âm phát ra. Trên các kế hoạch to lớn, nhiều trăm ngàn người lao công đã được trưng dụng và họ không được trả tiền lương.

Để có được các khoảng đất trống để thiết lập các chiếc hồ chứa nước, đã có một số người không thể đếm được, đã bị đuổi đi khỏi các ngôi làng và đã bị cưỡng bách đi cư ngụ ở các nơi khác. Vào năm 1958, đã có 300.000 người đã bị cưỡng bách dời nơi làng xóm của họ để có chỗ thiết lập một hồ chứa nước to lớn ở tại Xin'Anjiang, thuộc phía Bắc của tỉnh Zhejiang (Tchöking); riêng tại hạt Chun An đã có 137.000 người đã phải rời bỏ nơi họ đang cư ngụ
Dài trên các đường đi, đã có nhiều gia đình đã phải ăn và ngủ ngay cả trên các đường lộ, ở ngay ngoài trời và không có nơi nào để tạm trú ẩn. Mọi người đều phải chịu Đói và Lạnh, đã có người phải ăn gạo sống (không được nấu chín) để cho cơn đói bớt hành hạ. Đã có nhiều người đã ngất đi trên đường đi, cũng có người đã chết đi; cũng có các người phụ nữ đã sanh con ngay trên lề đường  trong lúc đi đến nơi cư ngụ mới. Một người cán bộ lớn tuổi phụ trách việc tái định cư, vị này đã xác nhận là việc di chuyển các số người này đã giống như các người chạy tỵ nạn chiến tranh.

Chịu ảnh hưởng của Liên Sô về việc xây dựng chiếc đập nước trên sông Dniepe và cùng các công trình như việc đào con sông đào từ Bạch Hải thông đến sông Volga, các người Trung quốc cũng muốn có các công trình được coi là "vĩ đại hơn cả mọi nơi trong thế kỷ 20." Đó là một dự án trù tính để sử dụng số lượng nước thặng dư của con sông Yang Tsé (Dương Tử) để đưa lượng nước này về con sông Hoàng Hà ở vào miền Bắc. Số lượng nước thặng dư sẽ được đưa qua một hệ thống rộng lớn các con sông đào sâu, các chiếc đập, các đường hầm, các thác và các hồ chứa nước. Khởi công thực hiện dự án này vào lúc bắt đầu phong trào Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước, người ta ước lượng là phải cần thời gian 7 năm để thực hiện dự án này và số lượng nhân công là 7 triệu người. Hãng Thông Tấn Tân Hoa Xã đã thông tin là trong một ngày làm việc, tất cả khối các người lao công đã đào đất và di chuyển khối đất tương đương với số khối và đá của sông đào Panama trong 10 năm: "Tổng số 6.550 triệu thước khối đất đã được đào lên trong một tuần lễ và đã hoàn thành vào ngày 12 tháng Chạp năm 1960. Con số này lớn gấp 12 lần số khối đất đã được đào để xây dựng hoàn tất con sông đào Panama. đảng cộng sản cũng có dự án sẽ đào sông để đem nước tưới cho các vùng đất là sa mạc ở phía Tây và làm tan các lớp tuyết của rặng núi Tianshan (Thiên Sơn) hầu để có nước để trồng hàng chục triệu ở vùng sa mạc này. Các bức hình được sử dụng để tuyên truyền đã phô bày các nhà khoa học đã từ trên các phi cơ rải các hóa chất để làm tan tuyết ở trên các rặng núi này.

Tại các vùng nông thôn, các chiếcc đập ngăn chặn nước đã sụp đổ vì đã được kiến tạo bằng đất thay vì bằng bê tông, và là do ý kiến của các người nông dân không kinh nghiệm và không là các người kỹ sư đã thiết kế. đảng cộng sản đã tỏ ra "khinh khi" các sự học tập qua sách vở và huấn luyện. Trong một bài viết đăng trên tuần san: "Hình ảnh của Trung quốc" bài viết này đã ca tụng ông Le Heyun, một người kỹ sư về thủy văn học, ông này gốc là một người nông dân, bài báo này đã gọi ông này là "người canh tân tuyệt đối" và là người công nhân tiên tiến: Vào năm 1958, khi khởi công xây dựng một hồ chứa nước ở hạt Huang tan, ông này đã đề nghị hãy thay thế cho chất bê tông bằng các nguyên liệu "hỗn hợp" để xây các "mương-rãnh" và các ông dẫn nước, và việc này sẽ tiết kiệm được 7.000 nguyên tệ. Một người đối thoại với chúng tôi đã nói là việc rất hiếm khi sử dụng chất bê tông, vì vậy không có một chiếc đập nào ngăn chặn nước đã tồn tại được hơn 1 hay 2 năm. Không có được một chiếc hồ chứa nước ở trong tình trạng tốt thì các "mương-rãnh" cũng trở thành vô dụng. Vào thời gian sau này, các chiếc đập ngăn chặn nước này đã được tái thiết bằng chất bê tông; vào ngày hôm nay, tại Sichuan, một chiếc hồ chứa nước chỉ còn dùng để làm nơi cho du thuyền.

Sau khi nạn đói đã hết, Mao vẫn còn tin tưởng vào các phương pháp về canh tác canh nông do ông đề nghị, và Mao cũng không tỏ ra bối rối vì các sự thất bại hiển nhiên. Ngược lại, vào năm 1964, Mao đã đi đến Dazhai, ở trong tỉnh Shanxi, một nơi đã được chọn làm kiểu mẫu để thi hành "kế hoạch 8 điểm" của Mao. Đã có nhiều triệu người, người Trung quốc và người nước ngoài, đã được đưa đi đến mọi nơi ở Dazhai, và tất cả mọi người đã được nghe "thuyết giảng"' về các việc thành công của các người "nông dân thông thái." Các người nông dân này đã thành công trong việc tạo các vi khuẩn cô đọng vào chất "nitrát", được coi triển lãm nhiều loại cây "mới và đẹp" và việc thiết lập các chiếc đập chặn nước do các bàn tay của các nông dân tạo nên. Có thể là vì tính khoe khoang đã ngăn chận Mao để ông tự hiểu là ông đã ngớ ngẩn đến cực độ.

Vào tất cả các trường hợp, trong các năm 1958 và 1959, việc chắc chắn là Mao đã không nhận định và tự ước lượng đã là chứng nhân của các phương pháp của ông đang thành công vượt hơn các sự ước mong của ông. Trong một bài hát của dân gian ở nông thôn: lúa đã mọc lên ngất trời và Thiên Đường đang ở trong tầm tay. Một thí dụ: vào năm 1958, Mao đã chính thức viếng thăm một công xã gương mẫu tại hạt Xushui, nơi này đã ngẫu nhiên có đường xe hỏa nối liền thủ đô tỉnh Hebei với Bắc Kinh. Khi Mao đang dùng ôtô để đi đến công xã này, đoàn xe của ông đã đi qua các con đường lộ, mà dài bên lề đường người ta đã chất hàng "đống to" củ cải, bắp cải, củ cà rốt và các rau đậu, trên một khoảng đường dài 500 mét. Các người cán bộ của tỉnh đã nói với Mao là các người nông dân đã "vứt bỏ" các loại thức ăn này vì họ đã sản xuất ra quá nhiều lương thực mà họ không biết phải làm cách nào để tiêu thụ các lương thực thặng dư này. Tại văn phòng của công xã, vị bí thư của Đảng đã nói với Mao là tại đây, mọi người mỗi ngày đã được ăn 5 bữa cơm, và đều miễn phí, và vào mùa Thu này, các mùa gặt lúa sẽ tăng lên gấp 4 lần và sẽ đạt được 500.000 tấn thóc. Người ta đã thuật lại là Mao đã quá kinh ngạc khi nghe được các lời báo cáo và ông đã lật chiếc mũ "cát két" ra phía sau và đặt câu hỏi: "Các anh làm cách gì để tiêu thụ cho hết các thức ăn này ? Vậy các anh sẽ làm gì với số lương thực thặng dư?"
Tờ Nhân Dân Nhật Báo đã đưa ra một cuộc tranh luận về đường lối để được biết là Trung quốc phải làm cách nào để giải quyết vấn đề thặng dư về lương thực. Tại tất cả mọi nơi mà Mao đến viếng thăm, các người cán bộ của Đảng đều báo cáo với Mao là đã đạt được các kết quả kỳ diệu về sản xuất lương thực: khi trước ngày phát động Bước Nhảy Vọt lớn, các cánh đồng chỉ sản xuất có 150 kilô thóc, thì ngày nay đã sản xuất từ 20 đến 25 tấn trên mỗi 200 thước vuông đất. Trên thực tế, không có cách nào để biết rõ được các con soó chính xác về việc thâu hoạch các mùa gặt, bởi vì Văn Phòng Thống Kê của Nhà Nước đã bị đóng cửa, và tất cả các văn phòng ở các địa phương đã được thay thế bởi các phòng "thông tin tốt." Bộ máy Tuyên Truyền đã lần lượt đưa ra các bài hát khải hoàn. Trung quốc đã sản xuất bằng Mỹ quốc về lúa mì và bông vải, và đã vượt qua nước Nhật Bản về sản xuất lúa gạo tính trên mỗi đầu người, và sẽ vượt qua Mỹ quốc về việc sản xuất ra bông vải.

Mao không phải là người duy nhất đã tin vào các sự thành công phi lý này. Ông Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shao Ki) là người chủ trương tiến bộ dần dần, và người vợ của ông là bà Vương Quang Mai (Wang Guang Mei), cả hai ông bà đã tự nguyện xin đi gia nhập lao động ở công xã Xushui. Mùa lúa năm 1958 đã đạt được gấp đôi mùa lúa năm 1957, ông Liu đã xác định như vậy, và ông Liu đã hối thúc toàn quốc hãy tiến lên thêm và thực hiện Chủ Nghĩa Cộng Sản. Ông nói là chúng ta đừng nghĩ đến việc chủ nghĩa cộng sản cần phải dần dần thực hiện. "Khi mà chúng ta làm các việc cần phải làm, chủ nghĩa cộng sản sã đến gần chúng ta."

Ông Đặng Tiểu Bình (Deng Xiao Ping) cũng đồng lạc quan. Vào năm 1958, ông này ước định và mong mỏi là các người nông dân sẽ sản xuất ra được 700 kilô thóc cho mỗi đầu dân, bằng cách sử dụng các phương pháp canh nông của Mao, thì trên thực hành chỉ sản xuất ra 40 tấn thóc trên mỗi cánh đồng thí nghiệm với một diện tích một "Mu." Ông Đặng đã làm bài tính là vào năm 1959 trên diện tích của một "Mu" sẽ sản xuất ra được 100 tấn thóc, và đến năm 1962 sẽ sản xuất được 2500 tấn thóc. Ông này đã kết luận: "Chúng ta có thể có tất cả những gì mà chúng ta muốn có được." Tại Ya'an (Diên An) là tỉnh sinh quán của ông Deng, tại Sichuan, các người dân đã trưng bài dài trên các đường lộ các chiếc nồi đựng đầy thức ăn đã được nấu chín, để chứng tỏ là họ đã có dư giả thức ăn, và kẻ đi qua đường có thể lấy để ăn miễn phí. Ông Chen Boda, người bạn thân cận của Mao, đã tuyên bố: "Đã đến lúc chúng ta có thể bãi bỏ không phải dùng đến Đồng Tiền" từ nay trở đi không chỉ có lương thực là miễn phí, mà luôn cả đến quần áo, người thợ cắt tóc và tất cả mọi cái còn lại.

Mao đã có cảm tưởng là tất cả các sự thành công này vẫn còn là thua kém các sự thành công của Liên Sô, vì vào năm 1957, Liên Sô đã phóng lên không trung chiếc "vệ tinh" đầu tiên của địa cầu. Việc đạt được các "kỷ lục về sản xuất" được đổi tên là "kỷ lục phóng vệ tinh" hay là "kỷ lục spoutnik." Mao đã tuyên bố là Trung quốc sẽ đạt được các kết quả tương đương với Liên Sô và sẽ dẫn đầu trong việc đi đến chủ nghĩa cộng sản, vượt qua cả Liên Sô. Không có một ai có thể nghi ngờ được tất cả các con số "bịa ra" này, và về sau, các cán bộ cao cấp cũng đã giải thích giống như ông Deng, là tất cả mọi người đều bị các người nông dân lừa dối.

Do hệ quả trực tiếp ở nơi sự tin tưởng là Trung quốc đã tràn đầy lương thực vào mùa Thu năm 1958, mọi người đều được khuyến khích hãy ăn càng nhiều càng tốt mà giá phải mua không đáng là bao nhiêu. Trong tỉnh Jiangsu, khẩu hiệu được đưa ra "Các anh hãy ăn nhiều như ý muốn và hãy dành cho việc sản xuất tất cả người gì tốt hơn cả ở anh." Ở tại tỉnh Quang Dong, vị bí thư của Đảng là ông Tao Zhu, đã khuyến khích mọi người hãy ăn 3 bữa cơm mỗi ngày. Tại làng Zengu, về sau các người nông dân đã thuật lại cho các người Mỹ chuyên về khoa "ăn thịt người" về những gì đã xảy ra: "Tất cả mọi người đều đã trở thành các người vô trách nhiệm và mọi người đều ăn uống dù là không đói, và trong 20 ngày đã ăn hết số gạo được dự trữ để ăn trong 6 tháng." Tại tỉnh ShaanXi, một người Mỹ tên Williams Hinton đã nghe nói các điều giống như vậy: "Nếu có được một mặt nhỏ" của Bước Nhảy Vọt lớn mà tất cả mọi người đều hồi nhớ, đó là lương thực. Ông WeiDe đã nói: "Chúng tôi sinh sống tốt" chúng tôi được ăn rất nhiều thịt. Được ăn thịt được coi là một người cách mạng. Nếu anh không chịu ăn thịt, mọi việc sẽ không được coi là tốt. Mọi người đều đánh cuộc với nhau để coi ai là người có thể ăn thịt nhiều hơn các người khác."

Những việc gì đã xảy ra ở Trung quốc đều giống như các việc đã từng xảy ra ở Liên Sô trong thời gian xảy ra việc "tập thể hóa" ruộng đất của Stalin. Ông Cholokov đã viết trong quyển tiểu thuyết về khoa học viễn tưởng với tựa đề: "Quả đất được lật lại" ông Cholokov đã mô tả một cảnh đã diễn ra: "Chúng nó đã ăn đến độ chúng không còn ăn thêm được nữa. Người già cũng như người trẻ đều mắc phải chứng đau dạ dày. Vào bữa cơm tối, trên  các chiếc bàn ăn đều tràn đầy các món thịt nấu hay thịt nướng. Mọi người đều có cái mồm dính đầy mỡ và tất cả mọi người đều mắc phải chứng "nất cụt." Mọi người đều nháy mắt như các con chim cú, giống như đã say vì thức ăn.
Ở Trung quốc không bao giờ có đủ lương thực cho các người dân, các người dân đã ăn quá nhiều nên từ mùa Đông năm 1958-1959, các kho chứa lương thực đã "trống không." Ở tại các Công Xã Nông Thôn đã có vài vị bí thư của Đảng ở các vùng xa đã ra lệnh trồng khoai lang để cứu đói cho các người dân, nhưng ở tất cả mọi nơi, mọi người đều tin là chính quyền sẽ phân phát lương thực được chứa trong các nhà kho của Nhà Nước. Mao từ chối không muốn biết là đang có tình trạng thiếu hụt lương thực, và Mao cũng tin chắc là các người nông dân đã cất giấu lúa gạo, và ông đã ra lệnh không được lấy lương thực dự trữ trong các nhà kho của Nhà Nước. Việc còn tệ hơn, trong 3 năm liên tiếp sau năm 1958, Trung quốc đã tăng gấp đôi số lượng xuất cảng ngũ cốc và đã giảm đi việc nhập cảng lương thực. Số lượng xuất cảng sang Liên Sô đã gia tăng lên 50% và Trung quốc đã viện trợ ngũ cốc cho các nước bạn ở gần như Việt Nam và Bắc Triều Tiên và nước bạn ở xa là nước Albanie.

Cho đến ngày hôm nay, các người dân Trung quốc vẫn còn phải chịu các chứng di hại xa xôi do các ảo tưởng lớn của Mao đã gây ra. Tin tưởng là Trung quốc đã bước vào một kỷ nguyên thặng dư dồi dào mà từ trước cho đến ngày hôm nay chưa hề có được, Mao đã bác bỏ các kế hoạch để kiểm soát khoa dân số học. Ông Ma Yinchu là viện trưởng của trường Đại Học Bắc Kinh là người bênh vực cho việc kiểm soát dân số.Vào năm 1958, ông này đã mất chức và bị kết án là theo chủ nghĩa của Malthus, ông này đã chủ trương việc kiểm soát dân số vì nếu dân số gia tăng quá nhiều sẽ làm nguy hại cho đất nước. Vào năm 1957, ông Ma Yinchu đã lên tiếng trước và đã nói về các hậu quả xấu nếu không có được một sự hạn chế việc sinh đẻ và dân số gia tăng. Cũng giống như ở các lãnh vực khác, Mao đã đi theo chủ nghĩa chính thống của Lénin. Vào lúc khởi đầu, các người cộng sản đã tin tưởng là khoa học hiện đại sẽ là chiếc chìa khóa để phát triển không giới hạn việc sản xuất ra lương thực. Vào năm 1943, Lénin đã tuyên bố: "Chúng tôi là những người chống lại không nguôi về các lý thuyết Tân Malthus" và Lénin đã gọi là phản động và đê hèn. Mao đã không ngừng từ khước không nghe các lời cảnh cáo, không chỉ là lời cảnh cáo của ông Ma, mà luôn của các người cố vấn người nước ngoài là ông Lossing Buck, hay là của ngoại trưởng Dean Acheson của Mỹ quốc, các ông này lo sợ việc dân số gia tăng sẽ làm mất đi hiệu quả của các sự cố gắng để gia tăng sản xuất lương thực. Vào các năm đầu của thập niên 60, Mao đã viết một bài để chỉ trích ông Acheson: "Đối với mọi vật ở trên quả đất này, vật quý hơn tất cả là con người. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sẽ có được các sự mầu nhiệm sẽ được diễn ra khi còn có con người. Chúng tôi chống lại các lý thuyết phản cách mạng của ông Acheson. Chúng tôi tin tưởng là cách mạng có thể làm thay đổi mọi việc. Dân số đông người của Trung quốc là một việc tốt."

Mao lo sợ sẽ thiếu nhân công. Vào tháng Chạp năm 1958, vào lúc kết thúc một buổi họp các người lãnh đạo Đảng ở Wuchang, một bản thông cáo được đưa ra và tuyên bố: "Chẳng bao lâu sẽ chứng minh là diện tích của quả đất sẽ trở nên chật hẹp nhưng lại quá quan trọng và không phải là vấn đề dân số quá đông.

Đọc tiếp Phần I - Chương 6 : Mao không biết nạn đói đang xảy ra

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Truyện Lịch sử

Tủ sách "Vàng"

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 2 February, 2011 22:31