a
 
0
0

Các hồn ma của Mao

Các hồn ma của Mao

Phần I : Trung quốc -
Đất nước của sự đói kém

  1. Trung quốc và nạn đói
  1. Những người khốn
    khổ vì nạn đói -
    Hãy vùng lên !
  1. Nạn đói Soviet
  1. Cuộc Tập thể hoá đầu tiên : 1949 - 1958
  1. Khoa học sai trái -
    Lời hứa giả tạo
  1. Mao không biết nạn
    đói đang xảy ra

Phần II : Nạn đói lớn

  1. Một cái nhìn tổng
    quát về nạn đói
  1. Tỉnh Henan : một sự
    nói dối đầy thảm họa
  1. Hãy bàn về Fengyang
  1. Ở các tỉnh khác
  1. Bức thơ của Đức
    Ban Thiền Lạt Ma
  1. Trong các trại cưỡng bách lao động
  1. Phân tích về sự đói
  1. Lịch sử của việc
    " Ăn thịt người "
  1. Đời sống ở các
    thành phố

Phần III : Một cuộc
dối trá qui mô

  1. Lưu Thiếu Kỳ : Người cứu nguy các nông dân
  1. Cuộc thất bại của
    Mao và các hậu quả
  1. Có bao nhiêu
    người đã chết ?
  1. Làm cách nào bình
    luận tại một nơi ?
  1. Một thất bại
 

a

Mật thư tội ác của
chủ nghiã cộng sản

Phần I : Tàn sát -
Khủng bố - Đàn áp

  1. Nghịch biện và sự
    hiểu lầm cuộc cách mạng tháng Mười
  1. Lực lượng võ trang của chuyên chính vô sản
  1. Khủng bố đỏ
  1. Cuộc chiến bẩn thiủ
  1. Các diễn biến từ Tambov đến nạn đói lớn
  1. Từ cuộc hưu chiến
    đến đoạn quanh lớn
  1. Giải tán quy chế điền chủ và cưỡng bách canh tác tập thể
  1. Nạn đói lớn
  1. Các phần tử xa lạ
    với xã hội và các
    chu kỳ đàn áp
  1. Cuộc khủng bố vĩ
    đại trong những
    năm 1936 - 1938
  1. Đế quốc ngục tù
  1. Mặt trái của cuộc
    chiến thắng
  1. Cao điểm của các khủng hoảng trong các hợp tác xã nông nghiệp
  1. Cuộc âm mưu
    cuối cùng
  1. Giã từ chủ
    nghiã Staline
  1. Kết thúc phần
    nhà Nước chống
    lại nhân dân

Phần II : Cách mạng Thế giới - Nội chiến và khủng bố

  1. Komintern được phát động và các hành
    động của cơ quan này
  1. Bóng đen của cơ
    quan NKVD trên
    lãnh thổ Espagne
  1. Cộng sản và khủng bố
 

a

a

Tết Mậu Thân 1968

a

Đại lộ "Kinh hoàng"
Quảng Trị 1972

a

Tội đồ Hồ Chí Minh

a

Thuyền nhân -
Boat People

a

Cộng sản Quốc Tế

a

Từ thực dân đến cộng sản - Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam

  1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm - Lời giới thiệu của giáo sư P. J. Honey - Lời tựa của tác giả - Sứ mạng lịch sử của dân tộc Việt Nam
  1. Việt Nam trong lịch sử hiện đại - “Bác Hồ”, vị cứu tinh của dân tộc
  1. Cộng sản xuất hiện - Có công mài sắt, có ngày nên kim
  1. Bần cùng hoá toàn dân - "Đấu chính trị" - Danh sách Việt gian
  1. Công tác tư tưởng - Kiểm thảo - Chỉnh huấn
  1. Năm bài học
  1. Đại cương về cải cách ruộng đất - Chiến dịch giảm tô
  1. Cải cách ruộng đất đích thực
  1. Sửa sai - Chống đối chế độ
  1. Con đường thẳng tới cộng sản chủ nghĩa
 

a

a

 

Sáng tác của ký giả Jasper Becker - Dịch giả: Ngọc Nhân

Phần I : Trung quốc - Đất nước của sự đói kém

Chương 4: Cuộc tập thể hoá đầu tiên 1949-1958

 

*Dân chúng đang Đói. Bởi vì các người cầm quyền, ngồi ở trên cao quá tham lam, đã lấy thuế quá nhiều.

- Lão Tử -

Sau ngày chính thức tuyên cáo chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc vào tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông muốn mau chóng thực hành chế độ nông trại tập thể. Đã có vài người đồng chí thân cận với ông đã khuyến cáo ông nên từ từ và tuần tự thi hành việc tập thể hóa này, và đã có một cuộc tranh luận sôi nổi đã diễn ra ở nội bộ Đảng về việc tập thể hóa này để tìm hiểu cùng với nhịp độ nào để tập thể hóa giới nông dân. Đã có nhiều vị đảng viên đã nói lên là đất nước này đang cần có các việc ưu tiên khác, đó là hàn gắn các vết thương do cuộc nội chiến đã gây ra, thiết lập một chế độ hành chính cho thích nghi với chế độ mới và chấm dứt việc thiếu hụt lương thực ở nhiều tỉnh vùng. Ở tại các vùng nông thôn, các người cán bộ đang bối rối về các công tác cải cách điền địa cùng với các việc "đánh địa chủ." Ở các vùng tiếp cận biên giới, các cán bộ đang bận rộn về việc kiểm soát xứ Tây Tạng (Xizang), xứ Tân Cuơng (Xinkiang), xứ Mãn Châu và đảo Hải Nam. Thêm vào nữa, các người lãnh đạo Đảng vẫn lo âu về sự đe dọa của các thành phần của Quốc Dân Đảng vì các người này đang còn chiếm đóng đảo Đài Loan, và ít lâu sau đã đưa một đạo quân sang chiến đấu tại bán đảo Cao Ly, trong lực lượng của đạo quân Liên Hiệp Quốc Tế dưới sự chỉ huy của người Mỹ.

Vấn đề tập thể hóa đã chia rẽ các thành viên của đảng cộng sản ra làm 2 phe phái. Phe phái các người ôn hòa thì coi việc tập thể hóa là một công việc phải thực thi trong dài hạn và phải thực thi trước việc kỹ nghệ hóa đất nước cần thiết để sản xuất ra các chiếc máy cày đất cùng với các chiếc máy nông cụ khác cần thiết cho ngành canh nông để hiện đại hóa cho ngành này đang chậm phát triển. Các người ôn hòa đã lấy lý thuyết của Lénin: "nếu chúng ta có 100.000 chiếc máy cày đất, các người nông dân sẽ nói ra: chúng ta có thể khởi đầu thực thi chủ nghĩa cộng sản." Vào thời điểm này, Trung quốc chưa hề có một nhà máy sản xuất dây chuyền các chiếc máy cày đất và cũng chả có người nào biết được là chiếc máy cày đất hình thù ra sao ? Cũng có người đảng viên đã ước tính là với diện tích đất đai của Trung quốc thì cần phải có 1.500.000 chiếc máy cày đất thì mới đạt được sự cơ giới hóa nền canh nông và đạt được hiệu năng sản xuất của các chiếc máy cày đất. Các diện tích đất nhỏ mà các người nông dân đang canh tác, các diện tích này cần được tái tổ chức lại để biến thành các cánh đồng rộng lớn. Chiếc máy cày đất đầu tiên do Trung quốc chế tạo đã được đưa ra sử dụng vào năm 1958. Ngoài các việc liên quan đến các máy cày, cần phải giải quyết nhiều vấn đề liên hệ đến chiếc máy cày đất như tiếp tế các đồ phụ tùng máy móc để chữa máy cày khi chiếc máy cày bị hư hỏng, xăng và dầu. Khi mà các người nông dân không tận mắt trông thấy các lợi ích của cơ giới và các cải cách để có được một canh tác hiện đại, khó mà có thể khuyến dụ được họ để họ từ bỏ canh tác trên các khoảnh diện tích nhỏ. Các người cán bộ ôn hòa đã ước tính là cần phải có một thời gian từ 15 đến 20 năm để đạt được các mục tiêu.

Một phe phái các cán bộ khác đã nghĩ rằng cách duy nhất để thực hiện việc kỹ nghệ hóa thì cần phải khai thác triệt để các người nông dân. Stalin đã thực thi chính sách này, và các nhà kinh tế Sô Viết đã đưa ra bằng chứng là vào khi nước Nhật Bản đã kỹ nghệ hóa đất nước của họ là nhờ vào 60% vốn đầu tư có được là do việc các người nông dân đã đóng thuế nông nghiệp. Để có thể có được các nguồn tài chính này, các nhà kinh tế đã suy tính là nền canh nông phải do Nhà Nước kiểm soát hoàn toàn, và do từ việc này đưa đến việc độc quyền về thương mãi cùng với việc phân phối nông sản. Các việc vừa kể trên đã cho phép Nhà Nước mua các nông sản với giá hạ và bán lại cho người tiêu thụ với giá cao hơn và với nguồn lợi thu được, Trung quốc sẽ dùng vào việc xây dựng các "lò nấu thép" để có thép hầu sản xuất ra các chiếc máy cày đất cho nông dân sử dụng. Và việc đã được mau chứng tỏ ra ở nơi người "anh lớn" là Liên Sô, hoặc là đã không muốn hay là không có khả năng cung cấp các khoản tín dụng để cho Trung quốc mua các chiếc máy cày đất và cũng không có ý định "biếu không." Và cũng có thể có việc là Mao muốn chạy thi với Liên Sô để đạt được các kết quả cao hơn cả Stalin. Vào thời điểm này, ông Khrouchtchev là người đang phụ trách về vấn đề công nhân đã là người trực tiếp thi hành các kế hoạch của Stalin để xây dựng các nông trại tập thể càng ngày càng lớn hơn, đó là các kolkhoze khổng lồ với diện tích tương đương với diện tích của một tỉnh, các nông trại này bao quanh một thành phố nông nghiệp.

Việc đương nhiên và rõ ràng là sự thiết lập một sự "độc quyền của Nhà Nước" về thu mua các lương thực và nông sản với giá hạ đã khiến xảy ra sự chống đối đáng kể của các người nông dân, vì vậy họ đã sản xuất ít đi. Không thể tránh được, các người nông dân khi càng sản xuất nhiều hơn thì lại mất mát nhiều hơn vì vậy họ càng chống đối lại nhiều hơn. đảng cộng sản chỉ có cách là buộc các người nông dân phải gia nhập vào các nông trại tập thể để có thể kiểm soát họ. Và dù có cách nào khác đi nữa, chỉ có cách này để kiểm soát việc phân chia sử dụng các nông cụ và giúp các người nông dân không có nông cụ để có được việc phân chia đồng đều việc sử dụng các nông cụ.

Các người lãnh đạo Đảng đã từng đi du học ở Liên Sô trong thời kỳ ở Liên Sô đã thi hành chính sách cộng sản thời chiến tranh, các người lãnh tụ này đã hiểu biết tường tận về nạn đói thảm khốc do Lénin gây ra do việc cưỡng bách áp đặt "thật mau" việc Nhà Nước độc quyền thu mua nông sản và lương thực. Các người lãnh đạo này không muốn thấy Trung quốc noi theo gương của Liên Sô và cũng không muốn sẽ có xảy ra một cuộc nội chiến mới do gây ra bởi việc trưng thu cưỡng bách các nông sản, vì các nông dân sẽ chống đối lại. Theo ý kiến của các người lãnh đạo này, sự điên cuồng của một dự án to lớn như vậy đối với Trung quốc sẽ không thành công được vì sự chống đối của giới nông dân, không giống như ở quá khứ đã nhờ vào sự ủng hộ rộng lớn của giới nông dân mà đảng cộng sản đã thắng trận nội chiến.

Ông Lưu Thiếu Kỳ đã đi theo nhóm người ôn hòa; và vào năm 1921, ông đã thuộc vào toán sinh viên đầu tiên được mời sang Moscou như là sinh viên của đại học đường Tôn Dật Tiên của các công nhân Trung quốc. Khi ông trở về nước, ông đã giữ một vai trò quan trọng ở trong đảng cộng sản và vào năm 1949, ông là một thành viên thường trực của Bộ Chính Trị. Vào năm 1959, ông đã trở thành Chủ Tịch Nhà Nước và là nhân vật thứ hai trong Đảng sau Mao. Nhưng về sau, vào cuối đời của ông, ông đã là nạn nhân của cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Dù không phải là một người tự do, các bài viết của ông trong thời xảy ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa đã nói lên từ năm 1950 là ông đã ủng hộ việc cần phải bảo vệ cho các người phú nông và chống lại việc trưng dụng các đất đai. Đây là một chính sách cần lâu ngày để thực hiện. Việc cần thiết là phải có được một nền kinh tế với các người phú nông và nền kinh tế này chỉ đổi thay khi các hoàn cảnh sẽ diễn ra để áp dụng một cách khuếch trương thuận lợi cho việc cơ giới hóa nền canh nông, để tổ chức các nông trại tập thể và việc cải cách xã hội ở các vùng nông thôn, tất cả các việc này rất cần một tgn dài.

Nhưng, mặc dù cho các người chống lại, Mao đã quyết định là: các hợp tác xã là việc phải thực hiện trước tiên và về sau chúng ta sẽ sử dụng các cơ giới nặng. Một năm về sau, ông Lưu Thiếu Kỳ đã trách Mao về dự án của ông đã muốn tổ chức các nông trại tập thể trong "sớm hôm" và việc này là việc "nguy hiểm" và là ảo tưởng. Trong trường cao học Marx-Lénin của Đảng, ông Lưu đã nói: "Các lực lượng bất giác này khó có thể giải tỏa được. Việc khai thác các nông trại cá thể này cùng việc thâu nhận các người công nhân nông nghiệp phải không được có một sự hạn chế nào. Việc sản xuất và tái kiến thiết là những ưu tiên chính. Không có việc tập thể hóa nông nghiệp nếu chưa có việc cơ giới hóa nền nông nghiệp. Việc sản xuất và việc tái tổ chức lại nền tài chính là những ưu tiên chính. Ông Lưu Thiếu Kỳ được sự hỗ trợ của các người lãnh đạo lão thành như vị lãnh tụ ở miền Bắc là ông Bo Yi Bo, và ông này coi như là "huyền tưởng" và "không tưởng" về ý muốn của người nông dân có đất để canh tác để ý muốn này bị loại đi để tổ chức các hợp tác xã.

Không có gì để khuyên can được Mao và các người đảng viên ôn hòa đã bị thất sủng. Và chính phủ đã bắt đầu thực hiện việc độc quyền để thu mua các nông sản với chiêu bài là việc này sẽ giúp được việc lạm phát tiền và đảm nhận được việc tiếp tế lương thực. Ông Chen Yu là người đã phát động kế hoạch 5 năm của Đảng 1953-1957 đã chống lại các luận chứng này và ông đã đề nghị thay vì cấm buôn bán ở các ngôi chợ ở nông thôn, người ta hãy tăng các giá cả. Nhưng các đề nghị của ông Chen Yu đã bị bác bỏ, các ngôi chợ nơi buôn bán các nông sản đã bị đóng cửa, các giá chính thức thì rất hạ và Nhà Nước đã bắt đầu thu mua một phần lớn các nông sản quan trọng được gặt hái sau mỗi vụ mùa. Các người nông dân đã phải đóng thuế về hiện vật, thuế còn cao hơn năm 1949 trong khi việc đầu tư của Nhà Nước về canh nông chỉ có được 7% suốt trong thời gian thi hành kế hoạch 5 năm. Vào thời điểm giữa các năm 50, Đảng đã kiểm soát việc phân phối lương thực ở các tỉnh thành bằng cách tổ chức việc phân phát các chiếc thẻ để mua thực phẩm. Các người cán bộ đã được phái đi về các ngôi làng ở nông thôn, để dùng sức mạnh, để trưng thu các nông sản theo các "hạn mức" (quota) do chính phủ định ra và cưỡng bức các nông dân phải ký giấy hứa trước sẽ chuyển giao nhiều hơn nông sản. Sức ép này đã khiến các người đảng viên lãnh đạo ở địa phương hay là các người nông dân, khi không thực hiện được các quota thì liền bị đánh đập trong các buổi hội họp tập thể kiểm thảo. Đã có nhiều người tự sát chết khi họ tự thấy là không đủ để nuôi sống gia đình của họ.

Mao vẫn quyết định thực hành cấp bách việc tập thể hóa. Vào năm 1955, Mao đã đả kích các người nào đã ngờ vực đường lối của ông và đã gọi các người này là các "người đàn bà bị bó chân" và Mao cho phát động chính sách "Bước Nhỏ Nhảy Vọt về phía trước" trong chiến dịch này, các người nông dân bị bắt buộc phải gia nhập vào các hợp tác xã rộng lớn hay là gia nhập vào một chế độ còn hơn chế độ cộng đồng. Sau năm 1949, người ta đã khuyến khích các người nông dân gia nhập vào các "tổ chức giúp đỡ tương trợ" mỗi tổ gồm có từ 5 đến 15 gia đình. Rồi đến năm 1953, người ta đã bước thêm một bước nữa và đã tái tổ chức lại thành các "hợp tác xã canh nông" gồm có từ 20 cho đến 40 gia đình. Vào tháng 10 năm 1955, Mao đã ra lệnh là các người nông dân được tổ chức thành các "hợp tác xã to lớn hơn các kolkhoze của các người Sô Viết, và trung bình các hợp tác xã tiên tiến này có được 245 gia đình. Mao đã sử dụng lại các câu chuyện của Stalin để lên án các người nông dân nhỏ là "tư bản từ cốt yếu." Đã thành lập được 752.000 hợp tác xã loại này và quy tụ 400 triệu nông dân gia nhập vào.

Nói đúng ra, người ta đã không tịch thu đất của các người nông dân nhưng người ta đã cưỡng bách họ phải đưa vào làm của chung các con trâu và bò, các dụng cụ dùng cho nông nghiệp, các lúa giống và làm việc trong các toán người. Vị bí thư Đảng là người chỉ huy. Các phương pháp được sử dụng là bắt chước các phương pháp đã được thực hành tại Liên Sô. Các người nông dân được triệu tập đến dự các đại hội và phải ở đây vài ngày, có khi cả tuần lễ cho đến khi nào họ chịu gia nhập vào các đội tình nguyện gia nhập vào các công xã. Mao cũng xác nhận là Trung quốc đã không thoát được nạn đói kém kinh niên và chỉ có cách tránh được nạn này bằng các hủy bỏ các mảnh đất nhỏ của các người tiểu nông: "Từ nhiều năm qua, một phương cách cá nhân sản xuất nhỏ đã được đại khối nông dân sử dụng tùy theo đó là gia đình là một đơn vị sản xuất: hình thức cá thể này là cơ bản của nền kinh tế "phong kiến" và việc này đã khiến cho người nông dân phải lâm vào cảnh nghèo khó triền miên.
Các kế hoạch đầy tham vọng của Mao đã liên hệ đến giới nông dân và đã xa vời với khu vực kinh tế. Vào các năm đầu năm 50 dưới chiêu bài "cải cách" về dân chủ đã khiến cho toàn giới nông dân bị rã rời tơi bời. Mao đã đánh cuộc "là sẽ sáng tạo một xã hội mới, Đảng đã tấn công có phương pháp, vào tất cả các việc liên hệ của đời sống ở nông thôn. Việc được coi là tích cực là việc xóa bỏ nạn mù chữ, đặt lại giá trị của phụ nữ, cải thiện việc săn sóc về y tế và các biện pháp về vệ sinh công cộng và sau hết là việc không bó chân các trẻ em cùng với việc hút thuốc phiện và gả cưới các thiếu nhi. Cũng đã có được các việc đổi thay về đời sống cơ cực của các người nông dân nghèo.

Trong 8 năm liên tiếp sau năm 1949, đời sống tâm linh đã bị xóa bỏ sau khi Đảng đã đóng cửa các ngôi chùa và các tòa giáo đường và các tu viện. Tất cả các người phù thủy, phong thủy, bói toán và các vị giáo sĩ của các tôn giáo được tổ chức: đạo Lão, Phật giáo, Thiên Chúa giáo và cải cách, từ trước đến nay từng là các người hướng dẫn về tâm linh và giúp đỡ về tinh thần cho dân chúng, tất cả các người này đều bị đưa đi đày, hoặc phải bỏ đạo hay là bị bắt giam. Các buổi hành lễ cùng với các việc nghi lễ được thực hiện để cho các chu kỳ canh tác về canh nông, được coi là các giai đoạn về đời sống của người nông dân từ khi mới sinh ra cho đến ngày tạ thế tất cả đều phải hủy bỏ hay là bị cản trở. Để thay thế vào các buổi lễ truyền thống của dân tộc, Đảng đã tổ chức các buổi họp liên tục có tính cách chính trị cùng với các buổi họp lớn ở các ngôi chợ. Ở trong tỉnh Jiang Su (Kiang Su) các người nông dân có các bài hát riêng biệt của họ để được sử dụng vào các buổi lễ cưới vợ, vào lúc giặt quần áo hay là lúc giẫy cỏ, lúc họ cày bừa ruộng đất, các người nông dân này đã hát các bài hát dài này trong nhiều ngày. Từ đây, các bài hát về tình ái này và các ban hát của họ đã bị cấm đoán. Các ngôi chợ buôn bán đã phải đóng cửa. Chính quyền đã ra lệnh giảm thiểu các cuộc vui chơi của dân chúng và các đám cưới vợ cũng được làm giản dị đi để tránh các việc phung phí tiền bạc cùng với các sự ngông cuồng vì đất nước đang cần được tái xây dựng lại.

Bắt đầu từ năm 1956, Mao đã cho thiết lập chế độ giấy thông hành trong quốc nội để cho dân chúng sử dụng để đi lại trong nước. Các người nông dân đã bị cấm đoán không được đi chợ nếu không xin phép hay là trong những tháng ngoài mùa không có việc làm ở thôn quê thì không có quyền đi tìm việc làm ở các thành phố. Các tin tức của thế giới bên ngoài, về trước được các người buôn bán, các người bán dạo, các kẻ ăn xin, các người ăn xin lang thang, các người ca hát dạo hay các vị tu sĩ đi khất thực, họ đưa các tin tức này, nay thì bị cấm đoán và còn có ai biết được các tin tức của thế giới bên ngoài cùng với các việc xảy ra trong nước. Việc tuyên truyền của chính quyền đều hướng về việc sản xuất ra nhiều số lương thực ở các công xã thêm vào với việc hạn chế di chuyển, làm nản lòng các ngành thủ công nghệ như khắc trên bản gỗ, thêu trên vải, dù là các nghề này là nghề phụ của các nông dân.

Tất cả các tiểu xí nghiệp của cá thể ở các ngôi làng đã yếu dần đi và lệ thuộc vào Nhà Nước, các xí nghiệp này đã dần dần biến mất và từ đây đời sống của dân làng đã hoàn toàn lệ thuộc vào sự sản xuất ra lương thực và ở nơi Nhà Nước. Các người nông dân là các người mấu chốt cuối cùng của giây chuỗi phân phối và đã đưa đến việc không thể còn tìm được các vật dụng cần thiết cho đời sống. Các người vô sản ở các thành phố được dành quyền ưu tiên và chính sách "Nhà Nước Ân Nhân" đã được thiết lập. Cũng như, thí dụ, khi mà Đảng đã đặt ra ngoài vòng pháp luật ngành y khoa cổ truyền cùng với các vị lương y thì các người nông dân đã khó mua được thuốc uống để trị bệnh hay là tìm đưọc một vị y sĩ để có được thuốc uống hiện đại và để vị y sĩ được chính quyền công nhận hầu săn sóc cho sức khỏe của họ. "Đảng đã coi các tiêu chuẩn và các phong tục của nông dân là các kẻ thù" đây là lời kết luận của một tác giả người Mỹ về một thiên nghiên cứu ở một ngôi làng ở Hồ Bắc (Hebei) với tựa: Một ngôi làng ở Trung quốc xã hội chủ nghĩa. Cho đến mồ mả tỏ tiên mà các người nông dân sùng kính, các ngô mồ mả này cũng bị cày lên với lý do là đã chiếm diện tích các phần đất tốt.

Mặc dù vậy, dù là đã có nhiều thay đổi và cũng vì các sự thay đổi này, số lượng nông sản được sản xuất ra đã bị xé lẻ ra và nạn đói kém đã lan tràn ra. Riêng về năm 1956, việc sản xuất ra nông sản đã sụt kém đi 40%. Các tác giả của thiên nghiên cứu Một ngôi làng ở Trung quốc xã hội chủ nghĩa đã ghi là một phần của tỉnh Hồ Bắc, đã có nhiều dân làng đã sực nhớ lại là năm 1956 là năm đầu tiên phát động cuộc tập thể hóa là năm của con số không (0) về tình thế kinh tế sinh sống. Các dữ kiện thu thập được chỉ là từng khúc hay từng đoạn, nhưng hình như tại ngôi làng tên Wu Gong, cũng giống như ở các nơi cộng đồng khác ở tỉnh Hồ Bắc, đã phải chịu đựng một nạn đói và tai ương này đã làm nhớ lại nạn đói lớn đã xảy ra vào năm 1943 đã gây ra các sự mất mát về nhân mạng. Các con số người đã chết rất khó biết được và có thể gọi là tin được, nhưng đã có vài người đối thoại với chúng tôi đã nói là đã trông thấy một số rất nhiều người đã chết vì đói ở các tỉnh Yunnan, Gansu, Guangxi (Kouang Si) và Tứ Xuyên (Sichuan). Trong tỉnh Fujian (Foukien) người ta nói là các người nông dân đã ăn các vỏ cây. Ở tại hạt Shun Yi, gần Bắc Kinh (Pékin) đã có nhiều nguồn tin nói là các người nông dân đã phải ăn các chiếc bánh làm bằng rơm rạ và vỏ cây. Ở nhiều nơi khác ở trong nước, các người nông dân đã bắt đầu lìa bỏ các ngôi nhà ở của họ để đi các nơi khác hầu để tìm cho có các miếng ăn hàng ngày; dân tộc xứ Tây Tạng đã nổi loạn ở các tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan) và Thanh Hải (Qinghai).

Việc tập thể hóa các gia súc (trâu bò ngựa lừa) đã khiến cho các người nông dân giết chết các gia súc này để bán thịt để tránh việc các công xã trưng thu. Trong hạt Fenyang ở tỉnh Anhui, các văn khố đã ghi chép rõ ràng lý do: Công xã chỉ mua một con bò với giá 5,5 đồng Nguyên Tệ (tiền chính thức), nếu giết con bò này và bán thịt thì thu được 30 hay 40 đồng nguyên tệ. Trong trường hợp các gia súc này đã sống sót lại sau cuộc tập thể hóa và trở thành tài sản công cộng thì không có ai là người chịu trách nhiệm về việc săn sóc và cho các con vật này ăn cỏ. Các người nông dân đã bắt buộc các con vật này phải làm việc đến kiệt lực cho đến chết, và đã lấy các thức ăn dành cho các con vật này đem cho các con lợn ăn. Vào mùa Thu năm 1956, tại hạt Fenyang đdã có 2.100 trâu bò đã chết: đến khi tuyết rơi lại có thêm 440 trâu bò đã chết vì không chịu được sức lạnh. Các người nông dân đã có bài hát: "Ngày xưa, nếu con bò cái chết đi, chúng tôi đã khóc than là vì con bò cái là của chúng tôi. Nhưng ngày hôm nay, con bò cái chết đi, chúng tôi lấy làm bằng lòng vì chúng tôi được thịt bò để ăn." Tại tỉnh Hồ Bắc, các trâu bò dùng vào việc cày đất đã giảm đi từ 4,3 triệu con còn lại 3,3 triệu triệu con vào năm 1956. Và đến năm sau, vị đệ nhất bí thư của tỉnh Hồ Nam, là ông Pan Fusheng đã than phiền là các người phụ nữ đang mang thai cũng phải ra kéo cày để cày đất vì lý do là việc khan hiếm rộng lớn các trâu vò dùng cho việc cày đất.

Tuy vậy, bộ máy tuyên truyền của Đảng vẫn tiếp tục nêu ra các thành tích của việc sản xuất nông sản và nói đến các thành quả tốt và lớn lao về sản xuất nông nghiệp, nhất là việc sản xuất ra thóc lúa, ông John Lossing Buck là người đã quan sát nền nông nghiệp của Trung quốc trước năm 1949, ông này đã tỏ ra nghi ngờ về các lời tuyên truyền đã được đưa ra. Ông Buck đang cư ngụ tại Mỹ quốc, ông đã so sánh các con số và kết luận là các người cộng sản đã sửa đổi các con số của các bản thống kê về năng xuất của thóc lúa đã được sản xuất ra trước năm 1949. Các người cộng sản đã đưa ra các con số cao lên trong các bản thống kê mới không đúng với con số thật. Dù là họ đã làm như vậy cũng không che dấu được sự thật về con số trung bình của sự thu hoạch của các mùa lúa giữa các năm 1949 và năm 1958 đã thu hoạch dưới con số của năm 1931 đến năm 1937 vì các nông dân đã sống thoải mái và dễ chịu trong các năm 1923 cho đến năm 1933 (năm xảy ra nạn đói lớn ở miền Bắc Trung quốc) khi sự sản xuất thóc lúa tính theo từng đầu người dân sự sản xuất này được coi là quan trọng.

Các đảng viên ôn hòa trong ban lãnh đạo của Đảng, trong số người này có ông Chu Ân Lai muốn bãi bỏ việc tập thể hóa. Đã có người hiểu rõ là chiến dịch Bước Nhảy Vọt nhỏ về phía trước của Mao là một thất bại về kinh tế và cũng là một nguồn gốc gây ra sự "náo động" về chính trị. Trong các bản tường trình cho nội bộ Đảng đã báo cho biết là ở vài địa phương đã xảy ra việc các người nông dân đã tấn công vào các người cán bộ của Đảng, đã đánh đập các người cán bộ này và nông dân đã lìa bỏ các công xã lấy đi theo các thóc lúa và các con trâu bò. Năm 1956, ông Khrouchtchev đã đọc diễn văn tố cáo các tội ác của Stalin và phê bình chính sách canh nông của Stalin, việc này như đổ dầu vào lửa. Việc tập thể hóa xảy ra dưới thời Stalin đã không còn là một thành công lớn. Ông Khrouchtchev đã coi đó là một thảm họa cho các ngôi làng ở nông thôn mà đã không hề có kể từ khi có các cuộc xâm lăng của các người Thát Đát (Tartare) một sắc dân của vùng Trung Á. Nếu có một người nào đi qua một ngôi làng, người này sẽ có cảm tưởng là vị tướng lãnh người Thát Đát tên Mamai và bộ lạc của ông vừa đi qua ngôi làng này. Không hề có được một ngôi nhà tranh mới mà các ngôi nhà cũ cũng bị bỏ phế.

Dưới sự lãnh đạo của Khrouchtchev, Liên Sô đã lùi một bước so với thời chủ nghĩa Stalin ngự trị bằng cách cho tăng giá các hàng buôn sĩ, giảm bớt các sắc thuế trên các vườn cây ăn trái và các vườn trồng rau và đồng thời bãi bỏ các việc trưng thu cưỡng bách các sản phẩm của các khu đất tư. Tại Trung quốc đã có rất ít các lời phê bình của chính quyền về bài diễn văn "Mật" của ông Khrouchtchev, mặc dù Mao đã ngờ vực về việc bài Stalin đang lan tràn ra khắp Liên Sô và có thể liên lụy đến chính sách của Trung quốc.

Vào năm 1957, Mao đã phản ứng lại bằng cách phát động một cuộc thanh trừng về chính trị, đó là phong trào chống tả khuynh. Về đại cương, đó là chống lại các người trí thức vì các người này đã nói lên các lời phê bình trong thời điểm tự do phát biểu do Mao chủ trương (Phong trào Trăm Hoa Đua Nở) trong vài tuần lễ vào năm 1957 với tiêu đề: "Trăm nhà đua tiếng nói." Mao đã giương một cái bẫy cho các người trí thức và người nào đã lên tiếng nói thì chẳng bao lâu liền bị bắt giam và bị ghép vào tội "tả khuynh." Có người đã nghĩ là Mao đã ngạc nhiên vì các số lời chỉ trích và Mao cũng lo sợ sẽ xảy ra một cuộc nổi dậy như đã từng có xảy ra tại nước Hung Gia Lợi. Dù vậy, cũng đã có nửa triệu người đã bị bắt giam trong chiến dịch chống tả khuynh, và người tổ chức là tổng bí thư của đảng cộng sản là ông Đặng Tiểu Bình.

Nhưng mà, các lý do chính của cuộc thanh trừng này là không còn ngờ được là sự thất bại của lúc đầu việc tập thể hóa. Thực vậy, các mục tiêu chống tả khuynh ở nông thôn không phải là các người trí thức mà là số đông các người công chức lớn hay nhỏ vì các người này đã có lời than phiền về chính sách canh nông của Mao đưa ra. Trong số các người đầu tiên bị thanh trừng, có ông Deng Zi Hui là người chịu trách nhiệm về lao động ở nông thôn của Đảng và ông này đã bị tố cáo là tả khuynh vì ông này đã chống lại việc tập thể hóa. Ông này được một cán bộ có khuynh hướng theo Stalin, là ông Chen Boda. Ở tại các tỉnh, đã có nhiều vị phó bí thư và luôn cả các vị tỉnh ủy đã mất chức vụ. Tại tỉnh Hồ Nam, vị đệ nhất bí thư là ông Pan Fusheng đã bị bắt giam vì ông đã nói là các hợp tác xã là một sự lãng phí và quá không cân đối để đạt được sự công hiệu. Ông Pan đã quyết định phân chia nhỏ ra các công xã và cho phép các người nông dân được ra đi nếu họ mong muốn. Vì vậy ông Pan đã bị tố cáo là muốn đi theo chủ nghĩa của ông Boukharine và là người che chở cho giới nông dân nhỏ bé. Mao đã cho ông Wu Zhifu thay thế ông Pan, vì ông Wu là người nhiệt tình thiết lập công xã và Mao đã đưa ông Wu ra làm gương mẫu và Mao đã đề tặng cho ông Wu một quyển sách của ông đã viết ra với tựa đề: "Làn sóng lớn của chủ nghĩa xã hội ở nông thôn." Tại tỉnh Anhui, vị đệ nhất bí thư là ông Zeng Xisheng đã cho bắt giam một số lớn các người công chức và người trí thức, mà luôn cả vị phụ tá cho ông là ông Li Shinong cùng với tất cả các người công chức đã tỏ ra là phê bình hay là đã bị nghi kỵ đã chống lại chế độ công xã. Riêng ở hạt Fenyang đã có 4632 người cán bộ của Đảng đã bị dính líu, 22 người đã chết trong các cuộc hỏi cung và 160 người đã bị đưa đi các trại lao động khổ sai.

Ở trong Đảng, chiến dịch chống "tả khuynh" đã làm các đảng viên có tinh thần chống đối trở nên thụ động và kể luôn các người có chuyên môn về canh nông cũng không phát biểu ra các sự nhận xét mới. Các sự kiện này đã mở đường khiến Mao đã đưa ra kế hoạch "Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước." Vào năm 1957, Mao đã phác họa ra chính sách. Rồi đến một năm sau, Mao đã sẵn sàng bắt chước và thực hành chính sách của Stalin và phát động khẩn trương kế hoạch kỹ nghệ hóa. Từ đây, Mao không còn là người đồng đều với các người đồng chí chiến hữu mà đã trở thành một người "bán thần linh" và Mao cũng không còn muốn nghe các lời khuyến cáo của các vị cố vấn của ông và luôn cả các lời khuyến cáo của người "Anh Lớn" ở Moscou. Các người Liên Sô đã khuyên can Mao đừng vướng phải các sai lầm của Stalin và nói là Trung quốc còn nghèo hơn Liên Sô vào thời 1928. Tại Trung quốc số sản xuất thóc lúa chỉ bằng một nửa số sản xuất ở Liên Sô, tính theo đầu người dân trong các năm 20: vì vậy đã hạn chế giảm các hành động chỉ là giảm đi so với Liên Sô.

Chính Khrouchtchev đã nói với Mao là trong thập niên 20, những người nào đã thành lập các kolkhoze là các người chỉ có các sự hiểu biết "tồi dở" về những gì liên quan đến chủ nghĩa cộng sản cùng với cách phải làm cách nào để xây dựng chủ nghĩa này. Nhưng vì ông Khrouchtchev đã dùng các lời nói mỉa mai cay độc để nói ra các lời nói và ông đã nhận định: "Mao tự coi là một vị "bán thần linh" và tự coi là con người đã được Thượng Đế lựa chọn để thực hiện các Thiên Mệnh. Thực trạng Mao nghĩ rằng có thể là Thượng Đế đã là người đã thi hành các ý muốn của Mao." Ông Khrouchtchev có cảm tưởng là Mao muốn chứng tỏ là người dân Trung quốc có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội và "làm ngạc nhiên thế giới" - nhờ vào thiên tài của Mao, xây dựng một thế giới xã hội chủ nghĩa.

Lòng tham vọng của Mao, là người thứ nhất trong thế giới cộng sản không đơn giản là thực hiện cho "ngang bằng" với Liên Sô và thử xem ai là người đạt được việc tiến trước lên chủ nghĩa cộng sản. Các công xã và các thành phố nông nghiệp ở Liên Sô, và lại cộng sản hơn vì đã hủy bỏ các khoảng đất nhỏ dành cho cá thể canh tác riêng, cùng với các vật dụng thuộc về tư hữu - một việc mà Stalin đã phải lùi bước nhượng bộ.

Về phần ông Khrouchtchev thay vì tỏ ra khiêm nhượng khi đề cập đến các mục tiêu, vào năm 1958, ông đã tuyên bố là trong vòng 3 hay 4 năm, Liên Sô sẽ sản xuất ra thịt, sữa và trứng cho mỗi người dân bằng như nước Mỹ. Cũng vào thời điểm này, ông Khrouchtchev đã cho phát động kế hoạch khai thác các vùng "đất còn hoang vu" với mục tiêu khẩn hoang 15 triệu mẫu đất tại xứ Kazakstan và tại vùng Sibéria, để đưa vào trồng tỉa. Mao đã phản ứng lại và nói là sẽ sản xuất "gang thép" và số lượng sản xuất ra sẽ vượt qua số lượng "gang thép" do Anh quốc sản xuất ra. Vào lúc đầu thì Mao nói là cần 15 năm, về sau lại hạ thấp con số này xuống còn 3 năm, rồi còn 2 năm. Đã có một sự đua tranh giữa hai chế độ về các vấn để dù là khiêm nhượng.

Vào năm 1958, các người Sô Viết đã có ý định là sẽ giao các chiếc máy cày đất cho các kolkhoze thay vì giao các chiếc máy cày này cho đơn vị cơ giới và máy cày, cơ quan hành chính quản trị tự quản ở Bắc Kinh đã hoãn lại việc thông báo tin này cho đến ngày Trung quốc thông báo tin này, với tư cách là độc lập và Trung quốc sẽ tự làm lấy. Vào năm 1958, các người cộng sản Trung quốc đã tuyên bố là chế độ cộng sản sẽ "tức vị" đưa đến việc không còn có Nhà Nước và đây sẽ là một biến cố sẽ xảy ra gần đây, không còn lâu nữa. Các người lãnh đạo Trung quốc đã nói ra giống như người ta sẽ đạt đến việc này trong vòng 3 hay 4 năm. Vị y sĩ riêng của Mao đã nhận xét: Lúc cùng với giới thân cận của Mao, ông này đã khoe khoang là từ nhiều thập niên qua, Liên Sô đã thử nghiệm thiết lập một hình thức tiên tiến về phát triển xã hội nhưng luôn luôn đã thất bại. Mao nói là chúng ta đã thành công dưới 10 năm. Vào năm 1961, ông Khrouchtchev đã chấp nhận sự thách đố này và tuyên bố là Liên Sô sẽ đi vào giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản trong vòng 15 năm sắp đến.

Hai nước Liên Sô và Trung quốc lại ngang sát nhau về nhiều vấn đề khác, như việc Moscou hòa hoãn với Tây phương, thêm vào Moscou đã từ chối không giúp đỡ Trung quốc trong việc chế tạo ra bom nguyên tử. Vào tháng 7 năm 1960, sự rạn nứt nghiêm trọng giữa Moscou và Trung quốc đã xảy ra trong vài tuần lễ. Moscou đã ra lệnh rút về nước tất cả các ngàn người chuyên viên kỹ thuật đang làm việc giúp đỡ Trung quốc sau năm 1949, và việc rạn nứt này lại càng nặng hơn vì cả 2 bên đều đã bêu xấu và chửi nhau thậm tệ. Tuy vậy, Mao vẫn tin tưởng với lòng nhiệt tình vào chính sách của Stalin, luôn cả chính sách về canh nông cùng với các phép lạ của nền canh nông Sô Viết. Mao muốn Trung quốc noi gương Liên Sô và sau sẽ vượt qua Liên Sô, sử dụng các phương pháp của các nhà bác học Liên Sô như ông Trofin Lyssenko, các nhà bác học Liên Sô đã tự phụ là đạt được các năng xuất cao về sản xuất trong việc canh tác các khu ruộng đất.

Khởi đầu, ông Khrouchtchev đã coi ông Lyssenko là một kẻ lừa dối, nhưng về sau đã thay đổi ý kiến khi ông phát động kế hoạch khai thác lớn các khu đất còn hoang vu. Ông Lyssenko đã thuyết phục được ông Khrouchtchev là ông vừa phát minh ra một phương pháp để làm các cánh đồng cỏ trở nên phì nhiêu, sẽ làm tiết kiệm được việc chế tạo và sử dụng phân bón và các loại thuốc trừ cỏ mọc. Lòng tin tưởng không được đặt đúng chỗ trong các sự kỳ diệu của nền khoa học Sô Viết đã làm Mao và Khrouchtchev đều phạm phải sai lầm, khiến cho hai ông này tưởng là đã có được chiếc chìa khóa để đạt được sự dồi dào về lương thực. Các kế hoạch cao xa về phát triển canh nông của Khrouchtchev, các kế hoạch này đều thất bại, các vùng đất hoang vu đã biến thành "cát bụi" và số lượng sản xuất thịt ăn của Liên Sô đã bị giả mạo, như chúng ta đã được biết vào ngày hôm nay.

Vào năm 1964, Khrouchtchev đã bị hạ bệ và đã rời bỏ chính quyền, một phần vì do sự thất bại về canh nông. Mao đã không chịu chung một số phận như vậy, dù là vào năm 1958, Mao đã tưởng là đã có được một công thức có thể làm tăng trưởng cho sự sản xuất nông sản, việc này sẽ đảm bảo cho sự thành công cho việc ảo tưởng của ông. Sẽ có được rất nhiều lương thực cho nhân dân có được "cái ăn" giống như các lời tiên tri của Karl Marx và thời gian đã đến để có thể cung cấp cho một người tùy theo sự cần dùng của họ. Không còn có sự chờ đợi lần lượt cũng như Hegel đã nói, sự tiến bộ sẽ nhảy từng bước một cùng với các bước nhảy thình lình cũng như việc tiến bộ. Cũng vì vậy Mao đã đặt tên cho chương trình của ông là "Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước."

Đọc tiếp Phần I - Chương 5 : Khoa học sai trái - Lời hứa giả tạo

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Truyện Lịch sử

Tủ sách "Vàng"

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 2 February, 2011 22:29