a
 
0
0

Các hồn ma của Mao

Các hồn ma của Mao

Phần I : Trung quốc -
Đất nước của sự đói kém

  1. Trung quốc và nạn đói
  1. Những người khốn
    khổ vì nạn đói -
    Hãy vùng lên !
  1. Nạn đói Soviet
  1. Cuộc Tập thể hoá đầu tiên : 1949 - 1958
  1. Khoa học sai trái -
    Lời hứa giả tạo
  1. Mao không biết nạn
    đói đang xảy ra

Phần II : Nạn đói lớn

  1. Một cái nhìn tổng
    quát về nạn đói
  1. Tỉnh Henan : một sự
    nói dối đầy thảm họa
  1. Hãy bàn về Fengyang
  1. Ở các tỉnh khác
  1. Bức thơ của Đức
    Ban Thiền Lạt Ma
  1. Trong các trại cưỡng bách lao động
  1. Phân tích về sự đói
  1. Lịch sử của việc
    " Ăn thịt người "
  1. Đời sống ở các
    thành phố

Phần III : Một cuộc
dối trá qui mô

  1. Lưu Thiếu Kỳ : Người cứu nguy các nông dân
  1. Cuộc thất bại của
    Mao và các hậu quả
  1. Có bao nhiêu
    người đã chết ?
  1. Làm cách nào bình
    luận tại một nơi ?
  1. Một thất bại
 

a

Mật thư tội ác của
chủ nghiã cộng sản

Phần I : Tàn sát -
Khủng bố - Đàn áp

  1. Nghịch biện và sự
    hiểu lầm cuộc cách mạng tháng Mười
  1. Lực lượng võ trang của chuyên chính vô sản
  1. Khủng bố đỏ
  1. Cuộc chiến bẩn thiủ
  1. Các diễn biến từ Tambov đến nạn đói lớn
  1. Từ cuộc hưu chiến
    đến đoạn quanh lớn
  1. Giải tán quy chế điền chủ và cưỡng bách canh tác tập thể
  1. Nạn đói lớn
  1. Các phần tử xa lạ
    với xã hội và các
    chu kỳ đàn áp
  1. Cuộc khủng bố vĩ
    đại trong những
    năm 1936 - 1938
  1. Đế quốc ngục tù
  1. Mặt trái của cuộc
    chiến thắng
  1. Cao điểm của các khủng hoảng trong các hợp tác xã nông nghiệp
  1. Cuộc âm mưu
    cuối cùng
  1. Giã từ chủ
    nghiã Staline
  1. Kết thúc phần
    nhà Nước chống
    lại nhân dân

Phần II : Cách mạng Thế giới - Nội chiến và khủng bố

  1. Komintern được phát động và các hành
    động của cơ quan này
  1. Bóng đen của cơ
    quan NKVD trên
    lãnh thổ Espagne
  1. Cộng sản và khủng bố
 

a

a

Tết Mậu Thân 1968

a

Đại lộ "Kinh hoàng"
Quảng Trị 1972

a

Tội đồ Hồ Chí Minh

a

Thuyền nhân -
Boat People

a

Cộng sản Quốc Tế

a

Từ thực dân đến cộng sản - Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam

  1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm - Lời giới thiệu của giáo sư P. J. Honey - Lời tựa của tác giả - Sứ mạng lịch sử của dân tộc Việt Nam
  1. Việt Nam trong lịch sử hiện đại - “Bác Hồ”, vị cứu tinh của dân tộc
  1. Cộng sản xuất hiện - Có công mài sắt, có ngày nên kim
  1. Bần cùng hoá toàn dân - "Đấu chính trị" - Danh sách Việt gian
  1. Công tác tư tưởng - Kiểm thảo - Chỉnh huấn
  1. Năm bài học
  1. Đại cương về cải cách ruộng đất - Chiến dịch giảm tô
  1. Cải cách ruộng đất đích thực
  1. Sửa sai - Chống đối chế độ
  1. Con đường thẳng tới cộng sản chủ nghĩa
 

a

a

 

Sáng tác của ký giả Jasper Becker - Dịch giả: Ngọc Nhân

Phần II : Nạn đói lớn

Chương 12: Trong các Trại cưỡng bách Lao động

 

"Kinh điển của Phật giáo luận về sự thác sinh - hóa thân với sáu đường lối khác nhau: địa ngục, các con ma đói, các con súc vật, các Asura, con người và thiên đường, nhưng tồi tệ hơn cả là trở thành một con ma đói."

- Zhang Xianling viết trong "Cháo nấu với cỏ."-

Đó là hàng triệu người đã bị giam vào trong một hệ thống rộng lớn của các trại lao động và khám đường của nước Trung Hoa, trong thời gian thực hành kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước, chắc chắn là nhiều hơn số người đã bị cầm tù vào khoảng thời gian trước năm 1949. Với việc đột nhập của nạn đói, các khám đường và các trại lao động, tất cả đều đã biến thành các trại của tử thần.

Trong sách tựa "Laogai: các trại Goulag của Trung Hoa", ông Harry Wu là người đã trải qua 19 năm bị giam cầm trong trại lao động đã ước lượng là trong thời gian này, số người đã bị coi là tù nhân về chính trị đã lên đến con số là 10 triệu người. Để có được một ý niệm về thời gian từ năm 1949 đế, 1989, ông Harry Wu đã đưa ra con số từ 30 đến 40 triệu người đã bị bắt giam và đã bị kết án vì các lý do về chính trị.

Trong thời phát động chế độ Ba Lá Cờ Đỏ: Bước Nhảy Vọt lớn - Công Xã Nhân Dân và Phát Triển Chính Sách Tổng quát; khởi đầu từ năm 1958, bất cứ người nào đã than phiền về các sự hà khắc do Mao ra lệnh thi hành và của Đảng, hay là phản đối lại chính sách phân phối lương thực gây ra do 3 năm xảy ra nạn đói, các người này liền bị tố cáo là đe dọa trực tiếp cho sự lâu dài của sự chuyên chế cộng sản. Các nhà chức trách đã thực thi các biện pháp hà khắc bằng cách đưa đi lưu đày hàng chục triệu người và coi những người này là Phản Động về ý thức hệ, đưa các người này vào các trại Lao Gai Dui.

Đa số các người bị bắt giam, 70% đã bị kết án đi "cải tạo lao động" và đã bị đưa đi làm việc tại các trại lao động do bộ An Ninh Công Cộng quản lý. Người ta đã pha trộn và không phân biệt các tù nhân hình sự với các người tù nhân về chính trị. Và cũng giống như các trại goulag của Sô Viết, các người trí thức và các người tù về chính trị đã bị đối đãi khắc khổ hơn các người tù về hình sự, vì các người tù về hình sự được coi là dễ cải tạo và dễ thuyết phục hơn.

Ông Harry Wu đã xác nhận là các người tù thuộc thành phần chính trị thường hay bị kết án nặng hơn, họ cũng thường hay bị đánh đập và trừng phạt, thường chỉ được cấp phát các khẫu phần lương thực ít hơn. Những người tù chính trị này cũng khó thích nghi vào đời sống của "các con chó sói này" chúng ăn thịt lẫn nhau, không nói đến việc thiếu khả năng về thể lực để làm các công việc nặng nhọc mà người ta đòi hỏi ở nơi các người này, và khi các người tù chính trị không thể thực hành được thì họ sẽ phải chịu các sự trừng phạt vì đã không đạt được các mục tiêu và sẽ được phân phối các phần ăn càng ít hơn.

Cũng có xảy ra vài trường hợp, đời sống của các người trí thức ở trong khám đường hay ở trại Laogai cũng được dễ dãi đi một phần nào. Một người đối thoại với chúng tôi, người này ở Canton, đã nói với chúng tôi là người cha và người mẹ của ông đã bị đưa vào Laogai khi xảy ra nạn đói. Người cha đã chết ở trong trại Laogai vào năm 1975; nhưng người mẹ đã được đưa đi ở trại Yingde, ở trong tỉnh Guangdong. Bà này là một nhạc sĩ chuyên nghiệp sử dụng nhạc cụ Erhu và là thành viên của một ban nhạc do các tù nhân họp thành và chuyên đi biểu diễn ở các trại lao động khác. Bà này mỗi ngày ngày được ăn 4 bữa cơm, và được nuôi dưỡng tốt hơn các người con còn ở lại tại Canton. Ông Gao Etai là một họa sĩ, ông này đã sống sót ở trại lao động Laogai nhờ vào việc viên bí thư của Đảng ở tỉnh Gansu phái ông Gao Etai vẽ một bức tranh khổ lớn để kỷ niệm lần thứ 10 việc khánh thành khai thác giếng dầu lửa tại Daqing. Và đây là cũng đúng lúc vì đôi chân của người tù đã sưng phù đến quá độ vì suy thiếu dinh dưởng, người ta đã bắt buộc phải khiêng đặt người họa sĩ này lên một dàn gỗ để ông này có thể hoàn tất được bức tranh to lớn này.

Một phần lớn các người đã bị bắt giam, các người này không phải là người trí thức, nhưng theo sự nhận xét của ông Harry Wu thì các người này là các người nông dân đã bị lôi cuốn vào các hành động phiến loạn cực độ do nạn đói gây ra cùng với việc từ chối không chấp nhận một đời sống bất nhân và tàn ác. Sự khắc nghiệt về các việc trừng phạt đối với các người nông dân này đã được tính theo nguồn gốc của họ:

"Lấy trường hợp một cá nhân đã ăn cắp 20 "pecks" hạt lúa của một công xã. Nếu người này là con của một gia đình có của, người này có thể bị kết án 10 năm tù với tội trạng: "Hành động chống đối của giai cấp có của, thù nghịch và phản cách mạng, chống lại quyền sở hữu công cộng của xã hội chủ nghĩa." nếu cá nhân này xuất thân từ một gia đình nghèo khó hay là từ gia đình một cán bộ của Đảng, có thể là sẽ không thi hành một biện pháp nào cả đối với người này.

Phần lớn các người nông dân phạm tội, họ sẽ không được đưa đi ở các tại Laogai xa xôi. Trong thời thực thi kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn, Đảng đã sáng tạo ra một hình thức cầm tù: đó là việc "cải tạo bằng một hình thức lao động."

Và Bộ An Ninh Công Cộng cũng không lãnh trách nhiệm để thực thi sự cải tạo, việc này do các nhà chức trách của tỉnh bộ phụ trách.

Ông Harry Wu đã viết là vào năm 1958, các trại Laogai "làm đại đi" đã xuất hiện ở mọi nơi và mọi cấp, cho đến cấp làng. Các người bị bắt giam đã không được xét xử hay qua một thủ tục pháp lý nào, và cũng không hề bị kết án cố định nào, nhưng để ra ngoài một bên, đời sống của các người này cũng giống như các người đã bị kết án ở các Laogai. Việc bị bắt giam dưới chiêu bài "cải tạo bằng sự lao động" đã trở thành một khái niệm kể từ năm 1975, vào khi các trại này nhận được thêm 550.000 người bị kết án là "khuynh hữu phản cách mạng" với con số này phải thêm vào con số 400.000 người bị coi là có cảm tình với các người hữu khuynh. Thể chế này đạt được sự công hiệu tối đa vào năm sau, và như theo lời của ông Wu, đây là một sự việc không thể tranh cải được là một phương pháp được sử dụng hàng loạt của chế độ cộng sản để ngăn ngừa các sự thái quá. Lẽ dĩ nhiên đã không có một tài liệu chính thức nào về số phận của các người tù nhân ở các Laogai, nhưng đã có được một tài liệu của viên tỉnh ủy ở Fengyang thuộc tỉnh Anhui, cho biết về đời sống ở trong các trại Laogai:

"Các người nông dân đã bị bắt buộc phải làm thêm các giờ phụ trội ở các công trường xây dựng trung tâm thủy điện. Các người cán bộ, khởi đầu là viên bí thư Đảng của hạt này, cùng với người thẩm phán được ủy nhiệm đã đồng đối xử khắc nghiệt với các người nông dân. Nếu các người nông dân không chịu làm việc thì sẽ không đươc phân phát thức ăn. Người nông dân nào đau ốm thì sẽ được cho về nhà, đã có người đã chết trên đường đi về nhà. Tại công trường xây dựng đập thủy điện, người ta đã thiết lập tại đây một khám đường để giam 70 người nông dân và đã có 28 người nông dân đã chết tại đây. Có nhiều cách để tra tấn các người phạm tội như: bắt người phạm tội phải đứng suốt ngày, hoặc là trói người này hay là treo người này. Hình phạt đáng sợ nhất là xỏ qua lỗ tai với giây kẽm."

Rất hiếm có được các lời khai của các "nhân chứng" ở các nơi khác của Trung Hoa, nhưng cũng không thể xác nhận là gương mẫu vừa kể ở phần trên là tiêu biểu. Tuy vậy, người ta cũng đã được biết nhiều hơn về đời sống ở trong các trại Laogai lớn đã được thiết lập tại các vùng hẻo lánh và thưa dân số: tại Heilongjiang, tại Gansu và ở Qinghai: đã có một số phạm nhân còn sống sót được, về sau các người này đã đi nơi khác và họ đã viết bài mô tả về các sự ghê tởm về các kinh nghiệm mà họ đã trải qua. Con số các người đã chết ở trong các trại này đã quá cao, đến độ kinh khủng, đạt đến độ trung bình là 20%, cho nơi chỉ còn có 1 người sống sót trên số 10 người nạn nhân. Bị kết tội là hữu khuynh và bị bắt giam vào năm 1957, họa sĩ Gao Ertai đã bị giam vào một trại với 3.000 người tù nhân khác, tại nông trại Nhà Nước tên Ten Jiabiangou, gần hạt Jinquan thuộc tỉnh Gansu: tại đây số người đã chết đã lên quá 90%.

Họ đã bắt buộc phải đào một con sông để tưới nước cho vùng đất cằn cỗi này, họ đã làm một việc "không đi đến đâu" và không ích lợi gì. Mỗi ngày họ được cho ăn, mỗi người hai chén cháo loãng -  và một chiếc bánh hấp không có chất gì độn. Nhiều năm về sau, khi các người nông dân muốn thiết lập tại đây các khu vườn để ươn cây, họ đã phát hiện ra nhiều khu hầm chôn xác người, mỗi hần có nhiều trăm tử thi."

Số tử xuất cao nhất là các người dân thuộc sắc tộc Tây Tạng bị bắt giam sau cuộc nổi loạn vào năm 1959, cuộc nổi loạn này đã thất bại. Một người phụ nữ còn sống sót, bà Ama Adhe đã thuật lại trong quyển sách tựa: "Một cuộc giải phóng lạ thường": quyền sinh sát của người Trung Hoa đối với người dân Tây Tạng, các sự kiện đã xảy ra tại trại lao động Dartsedo ở vào vùng tận cùng của tỉnh Sichuan.

Các người chức trách đã ra lệnh đào một chiếc hầm, sát ngay bên đường lộ giao thông, và đã đổ các tử thi xuống đầy chiếc hòm này; mùi hôi thối của các xác người chết này đã bay lên nồng nặc "kinh khủng." Bà Ama Adle đã trực nhớ lại là vào mỗi ngày người ta đã đưa đến đây 9 hay 10 chiếc xe camion chở đầy xác người chết. Cũng có ngày số các chiếc này ít đi, và cũng có ngày nhiều hơn, trung bình là 9 hay 10 xe vào mỗi ngày. Trong số 300 người phụ nữ đã đồng thời bị bắt giam cùng với bà, chỉ còn lại 100 người còn sống sót. Người ta đã bắt buộc các người này phải di chuyển bằng chân đến một khám đường khác, đó là một hầm mỏ to lớn để sản xuất ra "chất chì," tại đây cuộc sống còn tồi tệ hơn. Khám đường này tên Gothang Gyalpo được dùng để giam cầm các người thuộc sắc tộc Tây Tạng và các người cựu đảng viên Quốc Dân Đảng. Số người tù nhân ở tại mỏ chì, đã quá đông và có thể coi số người này là các con sâu bọ, các con kiến đang di chuyển đi khắp mọi hướng. Nhiều ngàn người đã "lúc nhúc" trên toàn diện tích của hầm mỏ này.

Bà Ama Adler đã quan sát ở chung quanh bà, tất cả các người tù nhân đều là người Tây Tạng. Thân thể suy yếu của các người này cũng giống như các người tù ở Dartsedo, đó là các người sửa soạn để chết vì đói. Đã có nhiều người đã phải chống gậy để đi cho vững: nếu không hành động này khó có thể giữ cho cái đầu được thăng bằng. Trong số 100 người phụ nữ đã cùng một lượt đi với bà Ama Adhe, chỉ còn có 3 người còn sống sót ở trại thứ hai này. Vào năm 1962, một người phụ nữ, đồng bị giam với và Ama Adhe, đã bất chợt nghe được ở nơi một người vệ binh đối thoại với một người đồng đội là trong 3 năm sau cùng đã có 12.019 người dân Tây Tạng đã chết vì đói tại hầm mỏ này.

Trong quyển sách thiên về người dân Tây Tạng:" Xa cách xứ Tuyết phủ", ông John Avedon đã thuật lại lời của các cựu tù nhân về số tử xuất tương tợ đã xảy ra ở tỉnh Gansa. Một người cựu tù nhân đã xác nhận là số 70.000 tù nhân Tây Tạng được đưa đến các trại lao động lớn tại phía Bắc của thủ phủ của tỉnh Lanzhou, chỉ còn có một nửa số người này là còn sống sót. Tại nhà giam của trại lao động Jiuzhen, cũng cùng trong tỉnh này, trong số 76 người Tây Tạng là tù nhân thì một nửa số người này đã chết vì Đói, và cũng cùng vào thời điểm này và tại đây cũng xảy ra việc 500 tù nhân người Trung Hoa cũng đã chết vì Đói.

Tại Vebou, nơi này có tổ chức tổ hợp nhiều trại lao động, phải đi 10 giờ xe từ thủ phủ Xining thuộc tỉnh Qinghai, trên số 30.000 tù nhân thì đã có 14.000 tù nhân đã chết. Tại một trại lao động khác, tên Shen Mu, trên số 12.000 người tù nhân thì một nửa số người này đã chết.

Tại Shanghai, một người đối thoại với chúng tôi đã nói lại là tại hầm mỏ than đá ở Mazong Shan, tọa trong tỉnh Gansu, người ta đã đưa đến nơi này 5.000 người dân Shanghai đến đây để lao động, thì chỉ có 2.000 người còn sống sót cùng với người đối thoại với chúng tôi. Đã có 50.000 người Tây Tạng là tù nhân được đưa đến đây, thì đã có 20% đã chết vì Đói. Một người đối thoại khác đã cho chúng tôi biết là tại Nông Trại Quốc Doanh Qi Ling, thuộc tỉnh Qinghai, có 4.000 người đã cùng lao động với người đối thoại với chúng tôi, thì cứ trên 5 người thì có một người chết. Anh Han Weitian đã bị bắt giam ở tại Shanghai vì anh là đảng viên của Quốc Dân Đảng và nhà văn Đài Loan tên PuNing đã thuật lại đời sống cùa anh Han Weitian trong quyển sách: "Móng và Mỏ Đỏ". Anh Han Weitian đã được đưa đi tại Delingha, một tổ hợp các trại lao động ở cùng một tỉnh này. Anh Han Weitian đã nhận thấy là trong số 100.000 tù nhân thì đã có 20.000 người đã chết, và toàn tỉnh Qinghai, ở các trại lao động của tỉnh này cũng đã có 200.000 tù nhân đã chết.

Chúng tôi không có được con số chính xác về các tù nhân được đưa đi lao động ở các trại ở vùng Cực Bắc, hay là ở các trại lao động gần nơi này, như ở Qinghe thuộc tỉnh Hebei. Các lời khai của các người "nhân chứng" cũng khủng khiếp không kém. Tác giả quyển sách: "Người tù của Mao" là ông Jean Pasqualini, ông này là người lai Pháp-Trung Hoa, ông này đã thuật lại là số người tù đã chết quá nhiều nên các người vệ binh đã cho di chuyển các người tù đã trở nên quá yếu, di chuyển các người này đến một trại đặc biệt tên "Ban 585" (nơi để "dưỡng sức") hầu để nâng cao tinh thần cho các người khác. Ông Harry Wu là một người hiếm có đã từ ban 585 được trở về với đời sống. Trong sách Tự Truyện:"Các ngọn gió đắng cay", ông tự coi là đã sống sót được từ ngày một và hàng ngày ông đã thấy nhập vào trại các thân thể còn sống sót và xuất trại các thi thể đã chết. Ông Chi Chung Huang, ngày hôm nay là một giáo sư Anh Văn tại Mỹ quốc, cũng đã từng sống ở đây:

"Khi đã có nhiều trăm người đã chết, các thi thể ở toàn nông trại của Nhà Nước đã được gom về một trại tù duy nhất. Người ta đã "chồng đống" các tử thi vào trong 3 gian phòng, cao cho đến trần nhà. Về sau, trong đêm tối, người ta đã ra lệnh cho các tù nhân đưa ra ngoài các xác chết này và đem đi chôn."

Các người nông dân đang sinh sống ở các vùng phụ cận với các trại tù này, sau cùng người ta không hiểu là tại vì sao các người nông dân này đã tin là những người đang bị giam cầm này đã được nuôi ăn tốt hơn họ.

Một người cựu ký giả ở Shaanxi, được phái đến một nông trại của Nhà Nước tọa tại vùng núi Qilian, giáp ranh với hai tỉnh Gansu và Qinghai, người ký giả này đã hồi nhớ lại việc các người nông dân đã đến van xin ông để được thâu nhận vào làm việc trong trại tù. Các người nông dân này đã lẫn trốn ở các hang ở trên núi và tìm cách để ăn cắp lương thực của các người tội phạm.

Vị y sĩ tên Tensing Choedak, là y sĩ của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thuật lại tại trại tù ở Gansu, nơi ông bị giam cầm, đã có một ngày nào đó ông đã cho thức ăn cho một đứa bé gái đang chết vì Đói, đứa bé gái này sinh sống ở một ngôi làng ở phụ cận với trại tù. Ngày hôm sau, người ta đã chứng kiến việc đã có nhiều chục người dân làng, nam và nữ, đã đồng tấn công quy mô vào các tường thành của khám đường ở Jinshen để đòi hỏi cho có được lương thực.

Việc này đã gây ta một cuộc hỗn loạn cho đến khi các người vệ binh canh gác khám đường đã dùng các "báng súng" đánh vào đầu các người nông dân, và đến lúc này thì các người nông dân mới chịu trở về canh tác trên các cánh đồng. Trái ngược lại, nhà văn Shang Xianlang đã thuật lại trong tự truyện: "Cháo nấu với cỏ" về việc ông đã trốn thoát khỏi trại giam trong tỉnh Ningxia và việc ông lấy làm ngạc nhiên là các người nông dân còn sinh sống ở bên ngoài các trại tù đã có quần áo và ăn kém hơn các người tù tội phạm.

Trước ngày xảy ra nạn đói, các khẩu phần lương thực ở các Laogai đã không được dự trữ để làm cho các người bị giam cầm phải chết vì đói. Vào mùa Thu năm 1958, ở một vài trại tù nào đó, các người tội phạm đã cùng với các người nông dân được ăn tùy thích những thức ăn mà họ muốn ăn. Chế độ nuôi ăn thông thường của các tù nhân là các wotou, là các chiếc bánh làm bằng bột mì và hấp chín bằng hơi nước sôi hay nướng trong lò.

Khi ông Jean Pasqualini được đưa đến trại tù, khẩu phần lương thực cho mỗi tù nhân là 15 kilô cho mỗi tháng, nhưng người nào làm việc hăng say sẽ được lãnh đến 20 kilô cho mỗi tháng. Ông Pasqualini làm việc suốt ngày trong phòng giam bằng cách xếp các trang giấy, và nếu năng xuất lao động của ông càng nhiều thì ông được thêm thức ăn, việc ghi chép năng xuất được xét lại vào mỗi 2 hay 3 tuần lễ. Các khẩu phần thức ăn không căn cứ duy nhất vào mức sản xuất nhưng đường lối và tư tưởng về chính trị của người tù cũng được xét đến. Các người tù về chính trị sẽ không bao giờ nhận được khẩu phần tối đa về thức ăn.

Vị y sĩ Benjamin Lee, ngày hôm nay sinh sống tại Mỹ quốc, đã từng bị giam cầm ở trong trại tù tọa tại vùng Cực Bắc ở gần hồ Xinkai; ông này đã xác nhận là các tù nhân ở vùng này đã được phân phối cho mỗi tháng 40 kilô ngũ cốc cộng với 30 gr dầu đậu nành. Khẩu phần ăn mỗi ngày là một kilô lương thực tương đương với 4.000 calori (vào lúc khởi đầu), về sau chất lượng đã giảm đi vì việc hao hớt cùng với việc bị mất cắp, chỉ còn tương đương với 3.500 calori cho mỗi ngày. Đây là số "calori" tối thiểu tuyệt đối để có thể sống còn ở một vùng mà khí hậu rất khắc nghiệt, vào mùa Đông, hàn thử biểu đã xuống đến âm 20° và nhiều khi còn thấp hơn. Dưới trời lạnh như vậy, các người tội phạm đã phải lao động từ 12 đến 16 giờ đồng hồ cho mỗi ngày để đào các con kinh. Mỗi hai người tù phải gánh trên vai các khối nặng từ 100 đến 150 kilô, họ phải vượt qua các dốc cao và trơn trợt, nhiều trăm lượt trong mỗi ngày. Việc làm này đã làm kiệt lực các người trí thức vì họ chưa hề lao động bằng sức của con người.

Về tổng quát, các tù nhân ở các Laogai đã bắt đầu có nhiều người chết vào cuối năm 1960, khi số lương thực đã giảm đi một nửa và được pha trộn với các "thức ăn thay thế" tên là Daishipin gồm là cỏ dại, các phó sản của các mùa gặt như: các cùi của trái bắp, các vỏ khoai và lá khoai, các bả của đậu ép dầu, thêm vào các rong biển hay các loại cỏ của biển. Để tăng thêm cân nặng của các phần ăn này, các chiếc bánh được hấp chín 2 lần để gia tăng số lượng nước ở trong chiếc bánh.

Một năm sau, ở tại một vài trại tù, số lượng thức ăn được phân phối mỗi ngày lại giảm thêm, ông Zhang Xianliang bị giam tại Ningxia đã thuật lại là trong mùa Đông năm 1959-1960, số lượng lương thực đã giảm từ 11 kilô còn lại 8 kilô cho mỗi tháng, mỗi ngày mỗi người chỉ còn được ăn có 2 chiếc bánh. Sau cùng, mỗi người tù chỉ còn nhận được 5 kilô lương thực cho mỗi tháng. Và có thể coi là không còn đúng nghĩa lương thực vì các hạt lúa hay gạo đã không được xay ra. Tại trại tù tại Jinzhen trong tỉnh Gansu, khẩu phần ăn hàng tháng lại còn xuống thấp hơn: trước là 8 kilô sau còn 4 kilô, tương đương 50 gram cho mỗi bữa ăn.

Việc cung cấp lương thực đã giảm đi rất nhiều trong mùa Đông 1959-1960, các người lãnh đạo các trại tù đã hành động giống như các người lãnh đạo các Công Xã Nhân Dân: họ đã ra chỉ thị là chỉ có các người lao động mới được có cái ăn, còn không lao động thì không được ăn. Tại nông trại Nhà Nước Qinghe ở trong tỉnh Hebei, các người tù được coi là không đủ khả năng để lao động (các người cao niên, các người tù đã kiệt lực và các người đau ốm) đã được phân phối vào một đơn vị đặc biệt, như ông Pasqualini đã tường thuật lại, và người ta để cho các người này chết đi.

Thời gian lao động của các người khác được "rút bớt đi" hầu để dự phòng sức khỏe của các người này cho đến thời điểm cần thiết cho sự sống: đó là vị gieo hạt cho mùa Xuân sắp đến. Vào mùa Xuân, các tù nhân được phân phối đi lao động trên các cánh đồng và với một số quá nhiều người, vì các sự cố gắng quá sức mà họ đã phải bị ép buộc.

Ông Han Wei Tian đã hồi nhớ lại, đã chứng kiến tận mắt các người tù với dạng "sức khỏe tốt" đã khuân vác các bao bì đựng 30 kilô hạt giống, và đã có người đã lăn ra chết vì đã cố gắng chạy theo cho kịp với các chiếc máy "gieo hạt giống." Tại tỉnh Hebei, trong mùa Xuân cũng đã nhiều người tù đã chết vì đã kiệt lực khi phải chạy theo cho kịp với chiếc máy gieo hột giống. Đã có nhiều trăm người trong số các người có khả năng đã đáp ứng lại lời kêu gọi của Mao để thực hiện một cố gắng tối đa trong vụ gieo hạt.

Khởi đầu từ năm 1961, các người lãnh đạo các Laogai đã sửa đổi các điều lệ để cho phép thân nhân và gia đình của các người bị giam cầm có thể đến thăm và tiếp tế các gói lương thực. Người ta cũng cho phép các tù nhân được viết thơ về cho gia đình để xin được tiếp tế lương thực; và người ta cũng cho phép các người phạm tội được đi ra ngoài để bới tìm trong các đống rác. Thường thì họ nhặt được các loại cỏ xấu cùng với các chiếc lá cây, với các loại này, người ta đã đem nấu cháo.

Và trong cuộc chiến đấu để được sống sót, các người tội phạm đã phải "ăn xen vào" nhiều loại "tồi xấu" hơn. Họ đã sắn bắt tất cả các sinh vật: chuột đồng nhỏ, rắn thằn lằn, chuột lớn, con cóc, nhái, các con rắn, các con sâu bọ và luôn cả trứng của sâu bọ. Khi nào họ bắt được một con vật gì, họ đưa về trại giam để nấu chín. Khi họ bắt được một con rắn, họ liền ăn sống ngay con rắn này. Đã có nhiều tội phạm khác, họ đã bới các đống phân ngựa hay bò cái để truy tìm các hạt lúa mà bộ máy tiêu hóa của các con vật này đã thải ra, họ đem rửa cho sạch các hạt lúa này, lột vỏ trấu và ăn.  

Đã có người tù đã ăn các con dòi của bãi phân của họ. Tại Delingha, họ đã tìm bới các bãi phân của các người tù khác hầu để mong tìm ra các hạt lúa chưa tiêu hóa được. Nếu các người tù đã làm việc này, bởi vì đã có các người tù là cựu đảng viên của Đảng cộng sản, nay đã được đưa đi làm ở một chỗ tốt hơn, việc này đã cho phép họ ăn trộm vặt ở các nhà kho chứa lương thực của trại giam: nhờ vậy các hạt lúa đã được vận chuyển thẳng mà không bị tiêu hóa.

Ở tại một vài trại giam, người ta đã bắt gặp nhiều người tù đã tự ăn cứt của mình thải ra. Các tù nhân cũng lục tìm trong các thùng rác của các người vệ binh hầu mong phát giác được các chiếc bắp cải đã hư thối, vỏ của các trái cây, các miếng thịt đã hư thối cùng với các chiếc xương lợn hay gà vịt. Bà Ama Adhe đã hồi nhớ lại cảnh người vệ binh đứng quan sát và cười to lên khi thấy các người tù tranh nhau các "xác trà" đã được pha nước rồi vứt xuống đất.

Việc đáng ghê sợ hơn cả là việc ăn thịt người. Vào thời điểm này, tất cả các người nhân chứng đã tận mắt nhìn thấy việc lên hệ đến đời sống và sự chết,các người này đều nói ra.

Tại một trại tù ở tỉnh Hansu, người ta đã gọi việc ăn thịt người với tên là "ăn mùa gặt Jiushen" . Anh Tenpa Soepa là người Tây Tạng bị giam cầm tại Jiushen, anh này đã thuật lại việc anh đã thử nghiệm việc "ăn thịt" một người bạn đồng cảnh ngộ:

"Tôi đã cố gắng nhưng đã không thể tách rời ra một miếng thịt từ thân thể của anh này. Sức lực tôi đã yếu đi nhiều và thì thể người bạn đã cứng đi vì trời lạnh. Chúng tôi cũng không có được một con dao. Tôi thử móc ra một con mắt nhưng tôi vẫn không làm được. Chỉ cần đặt miệng và dùng sức cắn của hàm răng để có thể xé ra một miếng thịt. Tôi đã thử xé ra một cái tai, nhưng tôi đã không làm được. Khi tôi cắn vào da thịt của xác chết, đầu óc tôi làm tôi khựng lại. Tôi nghĩ rằng tôi không thể ăn thịt người được. Tôi đã thử lại hai lần, cố ăn một miếng thịt người, nhưng sau cùng, tôi đành thôi".

Sự kiện ghê tởm hơn cả đã được thuật lại trong quyển sách: "Móng Vuốt và Mỏ Đỏ". Tại Delingha, các tù nhân được phái đi làm các công tác vận chuyển nước uống, họ đã đào các thi thể vừa được chôn dưới một lớp cát mỏng. Các người tù này đã xẻo cắt các lớp thịt ở bắp đùi, ở phần ngực, ở cánh tay, và họ đã bán các lớp thịt này và nói đó là thịt của các con ngựa hay là thịt của con lạc đà: người mua các miếng thịt này, dù là đã có nghi ngờ phần nào về sự thật nhưng cũng không cần chú ý đến.

Đồng thời cũng có một "chợ đen" hoạt động mạnh để mua bán thuốc hút, áo quần, lương thực được ăn cắp từ các nhà bếp công cộng hay là từ nơi các cánh đồng sản xuất. Đã có vài tù nhân ở trại giam đã không hề có được một cái quần hay một cái áo để che thân và luôn cả một cái chén để đựng cơm hay bất cứ một vật dụng gì để dùng vào lúc ăn cơm; ngược lại, các tù nhân khác là các người dân của các thành phố, họ còn giữ lại được đồng hồ đeo tay và có thể đổi để lấy lương thực. Đã có vài người tù đầu cơ đã chết gục mà còn giữ được một bó tiền được bó vào chung quanh thân thể.

Đối với đa số tù nhân, sự ám ảnh về lương thực đã khiến cho nhiều người đã ăn trong một lúc tất cả các thức ăn nào mà họ có được. Về tâm thần tốt hơn là nên để qua một bên phần lương thực còn hơn là phải chịu đựng sự hành hạ của tâm thần khi thấy người khác có được cái ăn hay là sống với cảm tưởng là không còn lại gì hết. Giáo sư Chi Chung Huang đã là nhân chứng về một trường hợp thương tâm đã xảy ra tại Qinghe. Ông Chi đã nằm tại bệnh xá, ở bên cạnh ông là một học sinh trung học gốc ở Sichuan, thân thể của người học sinh này đã sưng phù lên và người này đang hấp hối. Người mẹ của người học sinh này đã gởi một gói lương thực trong đó có một cái bánh ngọt, những người học sinh này đã không còn sức để ăn chiếc bánh ngọt này. Cậu học sinh này đã với tay để mở chiếc hộp đựng bánh dưới các con mắt đầy thèm muốn của các người ở chung quanh. Vài ngày sau, người học sinh này đã chết và chiếc bánh vẫn còn đó.

Giáo sư Chi đã bình luận như sau: "Phải hiểu rõ tâm lý của sự Đói. Vào mỗi buổi chiều, chúng tôi ngồi trên cái "kang" (một loại giường) để ăn bữa cơm tối. Không một người nào khởi ăn trước người khác vì làm như vậy sẽ sẽ ăn xong trước người khác và sẽ ngồi nhìn người ta đang ăn. Việc này làm chúng tôi rất khổ tâm. Khi anh đang đói thì anh rất sợ ăn mau chóng bởi vì tiếp đến là anh không còn có gì để ăn."

Ở tại một vài trại giam, các người tù đã tạo ra các chiếc túi nhỏ được dùng để dự trữ thức ăn. Họ đã đeo vào cổ các chiếc túi nhỏ này và với tác động này đã làm họ bớt lo sợ sẽ phải chịu đói. Việc phải chịu Đói thường xuyên đã gây ta một sự ám ảnh khác: đó là việc phân chia đồng đều các khẩu phần ăn hàng ngày. Việc này là một việc rất khó làm. Đầu tiên là các tù nhân đã không được các cái chén đựng thức ăn có đồng một kích thước, không giống nhau. Sau là các người đến trước, khi được phân phát thức ăn thì phần ở trên các chiếc nồi lại có nhiều chất loãng, các người đến sau được hưởng các phần ở phía dưới của chiếc nồi thì các chất loãng ít hơn và về phần dinh dưỡng được nhiều hơn; có nhiều loại thức ăn như các trái "dưa chuột" có quả lớn, quả nhỏ nên việc phân chia ra các phần đồng đều rất là khó làm được.

Tại trại giam của viên y sĩ Choedak, có nhiều người tù đã không có được một cái chén và họ đã phải lấy các miếng gỗ để làm ra một cái "chén thô sơ." Có các người tù khác, họ đã dùng các cái hộp đã từng được dùng vào việc "thức ăn đóng hộp" hay là họ đã dùng các chiếc đĩa đựng tàn thuốc bằng kim khí mà họ đã xin được từ nơi các người cán bộ. Ông Zhang Xianliang đã thuật lại trong tác phẩm: Cháo cỏ: "Toán người chúng tôi gồm có 18 người với 18 cách khác nhau để đo lường. Phân chia cho nhau một đống lương thực còn khó hơn là làm một bài thơ. Một con người còn có thể sống còn được hay không, người này còn có thể sống thêm được một hay hai ngày, việc này tuy nhiên tùy thuộc vào việc có thêm được vài hạt gạo hay  không. Việc sống sót được không tùy thuộc ít hay nhiều vào số chất "vi ta min" hay là số "prô tê in" được chứa ở trong vài hạt gạo này cùng với sự ủng hộ về tinh thần với sự khuyến khích đến từ các hạt gạo này cho con người này. Vào khi mà mỗi người tù đã nhận được khẩu phần của mình, người này đã "khuấy trộn" rất lâu trong cái chén của mình và nhìn sang phía tả và phía hữu của các người bạn đồng tù để biết là các người này đã được bao nhiêu !"

Sự nghi ngờ và sự ghen ghét đã tạo ra các cuộc đánh nhau và tất cả mọi người đều ăn cắp lẫn nhau. Các tù nhân đã tự ăn cắp của nhau để trao đổi các vật ăn cắp được để đổi lấy các thức ăn. Các người khỏe mạnh đã "nã tiền" (làm tiền) các người yếu đuối để có được các khẩu phần ăn nhiều hơn. Vào khi các khẩu phần ăn giảm đi ít hơn, tình hình ở các trại giam đã trở thành kém kiểm soát. Đã có nhiều nhóm tù nhân tấn công vào các chiếc xe chở thực phẩm để phân phát cho các phòng giam khác, hay là họ đã giật lấy từ tay của các người tù khác khẩu phần ăn của người tù này khi người này chưa kịp ăn. Ông Harry Wu đã thuật lại cách tổ chức toán người tù để bảo vệ việc tiếp tế lương thực cho toán của ông.

"Từ nay trở đi, ông Wu đã giải thích cho toán người của ông, chúng ta sẽ họp thành toán, sau khi đã lãnh được lương thực, đi từ nhà bếp về phòng giam để chúng ta tự bảo vệ cho nhau. Dù vậy cũng vẫn còn các sự hiểm nguy".


Sáng ngày hôm sau, ba tù nhân đã thình lình tấn công vào một người của toán ông Wu, hai người đã khóa tay người này và người thứ ba đã giật lấy khẩu phần bánh Woutou. Các toán người khác, gồm luôn toán của ông Wu, đã đồng hợp lực lại để truy nã ba người bạo hành này, và sau cũng đã chi phối được ba người này. Ba người này đã bị một trận đòn đích đáng.

Tại trại giam Delinghe, ở tỉnh Qinghai, các điều kiện sinh sống còn tồi tệ hơn. Ông Han Weilian đã tường thuật lại trong tác phẩm "Móng Vuốt và Mỏ Đỏ":

"Trong nông trại của chúng tôi, các người lực lưỡng hơn các người khác, họ đã đồng họp lại để tấn công các người có nhiệm vụ phân phối lương thực. Rất là khó tưởng tượng được về các người sắp sửa phải chết vì kiệt lực mà lại tìm ra đủ sinh lực để "bò lết" từ nơi cái giường mà họ đang nằm, để đi đến ngưỡng cửa của nhà bếp, hay là mai phục tại một nơi để chờ đợi người mang một cái rổ đựng các chiếc bánh hấp khi các người này vừa đi ra khỏi nhà bếp. Tất cả các người này chỉ mong làm được một việc: đó là cướp được thức ăn.

Vào một hôm, các người đang đói cướp thức ăn này đã bị bắt tại trận, các người này và các người bị tình nghi đều bị bắt giam vào các phòng đặc biệt và người ta đã để các người này phải bị Đói cho đến chết. Sự tranh chấp giữa các người cướp thức ăn là một việc không thể tránh được; vào mỗi ngày đã xảy ra giữa các người này các cuộc đánh nhau và đã có từ 3 đến 5 người đã chết vì đánh nhau để dành các thức ăn ở ngưỡng cửa của các nhà bếp hay ở các sân của nông trại. Họ đã sử dụng các gậy hay là đấm đá nhau mà họ chỉ vì xô đẩy nhau và đã sử dụng tất cả sinh lực còn lại của họ. Chỉ cần đẩy mạnh một người đối thủ thì người này đã gục ngã xuống đất và không còn đủ sức để đứng dậy."

Đến khi các phạm nhân này biết được là sẽ không có được một may mắn nào cho mỗi người sẽ được sống sót để ra khỏi các trại giam này, họ đã tìm lại được sự bạo dạn của mối tuyệt vọng. Trật tự đã xuống cấp ở các trại tù và các đội bảo vệ đã bắt đầu ghê sợ các cuộc dấy loạn.

Vào tháng 8 năm 1961, bộ trưởng An Ninh Công Cộng tên Luo Ruiqing đã cho phép các cán bộ ở các Laogai hãy thi hành các biện pháp Mạnh để phòng ngừa các biến cố phũ phàng và tàn bạo do các tù nhân nổi dậy gây ra.

Các sự trừng phạt các tù nhân càng trở nên nặng nề hơn. Tại Ningxia, người ta đã treo các người tù đầu ngược xuống đất, hay là treo các người này để cho các con muỗi bay đến hút máu họ. Một hình phạt khác được thực thi: đó là cột hai tay người tù và buộc các người người tù khác "kéo lết" trên mặt đất người tù đáng thương này.
Tại Jingzhen, trong tỉnh Gansu, việc xử tử là việc thường xuyên xảy ra. Vị y sĩ Choedak đã hồi nhớ lại là mặc dù đã có nhiều trăm người đã chết, các vụ hành quyết lại gia tăng lên. Các việc "định tội" đã không bao giờ chính xác. Các bản ghi tên các người sẽ bị hành quyết, thường được dán trên các bức tường của khám đường, được ghi theo loại "cứng đầu" hay "mang chứng bảo thủ xưa cũ."

Dù vậy, vào khi nạn đói đã trở nên trầm trọng tại Ningxia, các người cảnh vệ đã không hề làm thêm một sư cố gắng nào để ngăn chận các người tù đào thoát khỏi khám đường. Các bức tường của khám đường chỉ cao hơn 1 mét. Nhưng việc đào thoát đã không có một ích lợi gì vì ở ngoài khám đường các lương thực còn khan hiếm hơn. Trong quyển sách: Gió Đắng của ông Harry Wu đã thuật lại: một tù nhân của trại Qinghe thuộc tỉnh Hebei đã đào thoát được và đã đến được Pékin, và tại đây người này biết được là không thể tìm ra được thức ăn, vì vậy người này đã tự đến trình diện tại đồn công an và đã được trả về tại khám đường gốc.

Sự cục súc liên quan với chế độ lao tù đã tạo ra cho việc các tù nhân hay đánh với nhau, xảy ra vào các buổi "phê bình công khai" nhưng cũng không ngăn chận được các tù nhân đã tỏ ra nhân từ đối với nhau. Các người Tây Tạng, nói riêng, đã thuật lại việc các người cao niên đã nhường các phần ăn của mình cho các người trẻ tuổi, vì các người cao niên đã nghĩ rằng sẽ không còn được cơ may để thoát ra được. Cô Ama Adhe đã ăn trộm được một số lương thực và đã ném số lương thực này vào nơi giam cầm các tu sĩ lạt ma đang hấp hối, và khi các người thân của cô này đến thăm cô và tiếp tế thức ăn cho cô thì cô đã chia các thức ăn này cho các người bạn đồng tù.

Nói về tổng quát và mặc dù đối với tất cả các tù nhân, các hành động giống như cô Ama Adhe rất là hiếm có. Sự đấu tranh để được sống còn đã vượt thắng các tình cảm thông thường. Các tù nhân đã đều nhận thức được tác động làm mất nhân tính cho sự Đói gây ra, gồm luôn cả các người phụ nữ và các trẻ em mà các tù nhân nam đã không còn chăm sóc nữa. Đã có các người vợ của các tù nhân đã phải đi từ xa để đến thăm người chồng đang bị giam cầm, đem tiếp tế lương thực mà các người phụ nữ này đã cố sức nhịn ăn trên các khẩu phần ít oi mà họ đã nhận được, các người vợ này chỉ nhận được từ nơi các người chồng một sự biết ơn yếu kém. Đã có vài tù nhân đã tự tử khi họ biết được là họ đã mất nhân tính của mình.

Rất ít có được việc tường thuật về các thái độ và hành động của các người vệ binh canh gác các Laogai, về các hành động tội ác. Các người vệ binh này không hề lo nghĩ đến việc các tù nhân sống hay chết. Cô Ama Adhe đã thuật lại một việc hiếm có: tại các hầm mỏ sản xuất ra chất Chì tên Gyalpo, các người vệ binh được nuôi ăn đầy đủ, họ lấy làm thích thú để chế nhạo các tù nhân:

Khi các người vệ binh trông thấy các người nấu ăn đem các thùng đựng cháo là thức ăn của các tù nhân, các người vệ binh liền đi theo bước của người nấu ăn để được trông thấy một cảnh sẽ diễn ra làm họ vui thích. Khi chiếc nồi đựng cháo được phân phối hết cho các tù nhân và chiếc nồi này được bày ra giữa các tù nhân, và các tù nhân đều hướng mắt trông vào chiếc nồi này, trong khi ấy các người vệ binh và các người công chức đều đứng bao vây ở chung quanh để quan sát cảnh sẽ diễn ra, với một sự hoan hỉ. Và khi đã có một tín hiệu phát ra, các tù nhân đã xô đẩy nhau để đến bên chiếc nồi cháo đã cạn, họ lấy bàn tay quệt vào nồi, mong có được thêm một ít cháo là liếm các ngón tay một cách cuồng nhiệt. Vì toàn thể các tù nhân đã quá suy yếu về thể xác, họ đã xô đẩy nhau, mất thăng bằng và ngã đè lên nhau, làm nồi cháo lăn ra đất, trong lúc đó thì các tù nhân đã đánh nhau để đạt được may mắn để liếm vào các thành nồi. Các người công chức là Hán tộc đã cười lăn ra; đối với họ, đây là một trò cười độc đáo và tuyệt đối và họ lại còn khuyến khích các tù nhân hãy đánh nhau ở chung quanh nồi cháo đã cạn."

Khi mà Mao còn phủ nhận là không có xảy ra nạn đói thì các người vệ binh không có sự lựa chọn nào khác là bắt buộc các tù nhân phải lao động cho đến kiệt lực và chết. Sau hết, là không có nạn đói, các tù nhân sẽ không thể chết vì Đói.

Và khởi từ lúc này, khi các tù nhân không thực thi được số việc làm đã định cho họ, người ta sẽ bớt khẩu phần ăn và nhiều khi còn không cho ăn. Và khi phải ăn ít đi thì rất khó tiếp tục lao động và dĩ nhiên là cái chết sẽ đến tiếp theo. Vị y sĩ Choedak đã tận mắt trông thấy một vệ binh đã liên tục đá vào các người tù đang hấp hối và sĩ nhục các người tù này bởi vì các người này là "lười biếng không muốn lao động."

Anh Tempa Soepa đã hồi nhớ lại: "Khi có một tù nhân muốn bịnh hay quá kiệt lực, người này đắp mền và nằm lại tại giường không ra trình diện vào lúc điểm danh vào buổi sáng. Các người vệ binh liền tìm đến nơi và lôi người này đì đến nơi lao động hay đi ra cánh đồng để lao động. Những tù nhân này không thể thực hiện được một công tác nào vì họ đã không còn đứng vững được. Những người này liển ngã quỵ và nằm trên mặt đất và đã chết tại nơi này. Đã có nhiều tù nhân đã chết như vậy, ở ngoài cánh đồng, không thể làm được một tác động nào."

Anh Hen Weitian cũng đã thuật lại các trường hợp tương tự như vậy cũng đã xảy ra tại Delingha: "Đã xảy ra vài lần, khi một thân thể tiều tụy đã đột ngột ngã quỵ xuống và chết ngay, các người trưởng toán vệ binh đã đến tận nơi để được xác nhận là người tù này đã thực sự chết và không còn có hơi thở, việc này được kiểm chứng cẩn thận để không có xảy ra việc người tù này "giả vờ chết."

Việc tuyệt đối xác nhận là nạn đói không hề có xảy ra vào khi ở khắp nơi đã có nhiều người đã chết vì thiếu cái ăn, việc này không những là rùng rợn và cũng là việc không thực tế.

Anh Zhang Xianliang đã hồi nhớ lại việc đơn giản là đếm con số các người chết, việc này được xem xét và coi là tội ác chính trị:

"Các người tù thuộc toán người của tôi đã lần lượt chết, người  này sau người nọ. Vào buổi sáng khi anh thức dậy và nhận thấy là người nằm bên cạnh anh đã chết, anh phải làm một việc duy nhất là tìm đến người trưởng toán vệ binh và báo cáo: Một tên là... đã chết. Bất cứ ở vào trường hợp nào, tránh không bao giờ báo cáo: "Thưa trưởng toán, lại còn thêm một người đã chết."

Sự tinh tế về phân biệt "ngữ nghĩa" mà các người tù đã không được hiểu biết ở trong các trại giam, vào thời điểm của các năm thuộc thập niên 60... Đó là bắt buộc phải quên ngay tất cả các người vừa gục chết, ở ngay bên cạnh anh:

"Vào lần sau, khi có một người khác vừa gục chết, anh phải tự xác nhận trong đầu óc của anh đó là người chết thứ nhất (đầu tiên). Rất cần thiết tập cho quen về tính cách của việc đếm này, vì không có gì là quan trọng về số người đã chết ở các trại giam này, vì tất cả các người đã chết này được gồm lại và được coi như chỉ có 1 người chết."

Các người lãnh đạo các trại giam này, họ đã làm tất cả những gì mà họ có thể làm được để tiếp tục được xác nhận là không hề có việc gì đã xảy ra. Tại Qinghe, các ban truyền thanh vẫn tiếp tục phát thanh các bản nhạc "van nhịp ba": cây thúc cúc đã nở hoa, vào lúc đó thì các tù nhân đang lảo đảo đi qua các cánh đồng "sầu nảo" để tìm kiếm thức ăn. Các buổi hội thảo, các buổi học tập giữa các tổ, liên tục các buổi tự kiểm thảo vô tận đã diễn ra với mục đích tuyên truyền về chính trị: Một người đối thoại với chúng tôi, người này đã có một kỷ niệm của trại giam của anh khi xảy ra nạn đói, về hình ảnh của các "bộ xương người còn sống" đã bị tập họp lại vào mỗi ngày, đứng ngay và cúi đầu xuống, để được nghe các lời thuyết giảng về ý thức hệ: "đó là cải tạo về tư tưởng, việc tái thụ huấn được thực thi ở các trại giam với mục tiêu là biến đổi thành các Con Người Mới hầu có thể hội nhập và một Xã Hội Mới."

Vào tháng 5 năm 1961, chính phủ Trung Hoa đã cho ra đời một Tân Chính Sách chính trị, lập một thang bực về các hình phạt đối với với các người phản cách mạng hữu khuynh đang bị giam tại các Laogai.

Trong các buổi học tập này, ông Harry Wu và các người hữu khuynh khác đã phải bắt buộc phải tự thú về các tội ác đã vi phạm và tự định lấy về các hình phạt mà tự cho là phải chịu lấy. Trong một buổi học tập, vị y sĩ Choedak đã bị bắt buộc phải đọc nhiều lần:

"Các người cộng sản Trung Hoa là các người tiên phong của chủ nghĩa cộng sản, bởi vì chính trị Mao là người lãnh đạo vĩ đại của thế giới. Vào ngày hôm nay chỉ có chủ tịch Mao là người duy nhất được xứng danh là người lãnh đạo."

Vào năm 1960, ông Jean Pasqualini đã được nghe người giám đốc của trại giam nói với ông:

"Tình thế của đất nước được coi là "cực tốt" ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Ở trong nước, việc sản xuất đã đạt được một mức cao, chưa bao giờ đạt được, và tất cả các sự cố gắng đã được thực thi để vượt qua các sự khó khăn về kinh tế vẫn kéo dài. Vào năm 1961 tình hình được coi là tối ưu. Với những điều gì mà tôi đến đây để nói với anh, đó là vào ngày hôm nay các anh phải có nhiều lý lẽ hơn bao giờ để biết ơn đối với chính phủ. Chính phủ đã nhìn nhận là chúng ta đã trải qua nhiều thời gian khó khăn, nhưng đó chỉ là tạm thời vì các nguyên nhân là các các yếu tố bất thường ngoài ý chí của chúng ta."

Các tù nhân đã được cảnh cáo là không được nói đến nạn đói khi được các thân nhân đến thăm viếng hay là nói đến việc có các tù nhân đã chết vì Đói. Vào khi người em của cô Ama Adher đến thăm viếng cô này, người ta đã cảnh cáo cô này phải tỏ ra tươi tỉnh. Nếu cô này nói ra một điều gì về nạn đói, hay là về sác sự đau khổ của các tù nhân, việc này sẽ đem lại cho cô "các việc nghiêm trọng."

Cũng giống như tất cả các người công chức Trung Hoa khác, các người lãnh đạo các khám đường đã không dám nói ra việc gì vì sợ hãi sẽ tự bội phản. Trong một khoảng thời gian, các người vệ binh muốn tránh được nạn đói đã ăn vào các khẩu phần của các tù nhân hay là đã ăn vào những rau cải mà các tù nhân đã gieo trồng.

Tuy vậy, các người vợ và các người con của các người vệ binh này, đang sinh sống riêng biệt ở các thành phố lớn, đã chết vì Đói bởi vì chỉ lãnh được các khẩu phần lương thực ít oi, cũng giống như toàn dân. Và sau cùng, việc khan hiếm lương thực cũng đã đến với các người vệ binh canh gác các khám đường.

Tại Qinghe, các tù nhân đã được đưa đến để quan sát các nhà bếp nấu ăn cho các người vệ binh để họ tận mắt trông thấy là các người vệ binh cũng chịu cảnh thiếu ăn, giống như các tù nhân: các người vệ binh cũng chỉ được ăn chất bột lấy từ khoai lang trộn với thức ăn thay thế là các cùi của trái bắp.

Tại hầm mỏ than đá Mazong Shan, tọa tại vùng các bãi sa mạc Gobi, một người gốc từ thành phố Shanghai, đã hồi nhớ lại là các người vệ binh đang chịu đói đã gởi nhiều bức thông điệp cho tổng hành dinh của tỉnh ủy yêu cầu khẩn cấp được tiếp tế lương thực.

Họ đã không nhận được một bức thơ hồi âm nào, một phần các người vệ binh này đã quyết định hành quân tiến đến đường xe hỏa. Tại đây, họ đã sử dụng một xe con dùng để kiểm soát các đường sắt (rail) để đi đến Lanzhou, thủ phủ của tỉnh, cách xa vài trăm kilô mét. Để đáp ứng các sự đòi hỏi của các người vệ binh, các người chức trách của thủ phủ Lanzhou đã gởi một xe camion chở 5 tấn lương thực tiếp tế cho các người vệ binh. Các người vệ binh đã giữ lại cho họ một nửa số lương thực này và đã chi một nửa cho các tù nhân để cho mỗi người tù được phân chia khoảng một nửa của chiếc tách.

Nếu chính sách Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước không được bãi bỏ, tại trại giam này cùng với các trại giam khác, nhiều tù nhân khác sẽ chết. Nhờ vào các biện pháp khẩn cấp do ông Liu Shao Qi đã ban hành (sẽ lượt ở chương sau) các điều kiện về lương thực đã được khá hơn đôi chút, vào cuối năm 1961, và trở nên tốt hơn vào năm 1962.

Vào năm 1961, khi các vị tỉnh ủy của tỉnh Gansu và Qinghai được thay thế, người ta đã trả lại sự tự do cho vài tù nhân. Và các người Tây Tạng là tù nhân ở các tỉnh Sichuan, Gansu và Qinghai cũng được đưa trả về các khám đường ở Tibet. Ở các nơi khác, việc đổi thay này đã có ít hơn. Tại Qinghe ở gần thủ đô Pékin, vào cuối năm 1961, các khẩu phần lương thực đã được gia tăng thêm một ít và phần lương thực thay thế cũng được bãi bỏ.

Vào năm 1962, ông Liu Shao Qi đã khởi đầu việc phục hồi cho các tù nhân đã bị kết tội là hữu khuynh và cho phép các người này lao động trở lại ở các nghề cũ mà trước kia họ đã làm. Mặc dù Mao đã hành động để ngăn trở việc phong trào này, các người chỉ huy của nhiều trại giam đã được thay thế và một chế độ lao tù đã được cải tạo cho đỡ cơ cực hơn. Và cũng đã có vài tù nhân đã được trả tiền lương cho việc làm của họ.

Đọc tiếp Phần II - Chương 13 : Phân tích về sự đói

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Truyện Lịch sử

Tủ sách "Vàng"

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 2 February, 2011 22:24