a
 
0
0

Các hồn ma của Mao

Các hồn ma của Mao

Phần I : Trung quốc -
Đất nước của sự đói kém

  1. Trung quốc và nạn đói
  1. Những người khốn
    khổ vì nạn đói -
    Hãy vùng lên !
  1. Nạn đói Soviet
  1. Cuộc Tập thể hoá đầu tiên : 1949 - 1958
  1. Khoa học sai trái -
    Lời hứa giả tạo
  1. Mao không biết nạn
    đói đang xảy ra

Phần II : Nạn đói lớn

  1. Một cái nhìn tổng
    quát về nạn đói
  1. Tỉnh Henan : một sự
    nói dối đầy thảm họa
  1. Hãy bàn về Fengyang
  1. Ở các tỉnh khác
  1. Bức thơ của Đức
    Ban Thiền Lạt Ma
  1. Trong các trại cưỡng bách lao động
  1. Phân tích về sự đói
  1. Lịch sử của việc
    " Ăn thịt người "
  1. Đời sống ở các
    thành phố

Phần III : Một cuộc
dối trá qui mô

  1. Lưu Thiếu Kỳ : Người cứu nguy các nông dân
  1. Cuộc thất bại của
    Mao và các hậu quả
  1. Có bao nhiêu
    người đã chết ?
  1. Làm cách nào bình
    luận tại một nơi ?
  1. Một thất bại
 

a

Mật thư tội ác của
chủ nghiã cộng sản

Phần I : Tàn sát -
Khủng bố - Đàn áp

  1. Nghịch biện và sự
    hiểu lầm cuộc cách mạng tháng Mười
  1. Lực lượng võ trang của chuyên chính vô sản
  1. Khủng bố đỏ
  1. Cuộc chiến bẩn thiủ
  1. Các diễn biến từ Tambov đến nạn đói lớn
  1. Từ cuộc hưu chiến
    đến đoạn quanh lớn
  1. Giải tán quy chế điền chủ và cưỡng bách canh tác tập thể
  1. Nạn đói lớn
  1. Các phần tử xa lạ
    với xã hội và các
    chu kỳ đàn áp
  1. Cuộc khủng bố vĩ
    đại trong những
    năm 1936 - 1938
  1. Đế quốc ngục tù
  1. Mặt trái của cuộc
    chiến thắng
  1. Cao điểm của các khủng hoảng trong các hợp tác xã nông nghiệp
  1. Cuộc âm mưu
    cuối cùng
  1. Giã từ chủ
    nghiã Staline
  1. Kết thúc phần
    nhà Nước chống
    lại nhân dân

Phần II : Cách mạng Thế giới - Nội chiến và khủng bố

  1. Komintern được phát động và các hành
    động của cơ quan này
  1. Bóng đen của cơ
    quan NKVD trên
    lãnh thổ Espagne
  1. Cộng sản và khủng bố
 

a

a

Tết Mậu Thân 1968

a

Đại lộ "Kinh hoàng"
Quảng Trị 1972

a

Tội đồ Hồ Chí Minh

a

Thuyền nhân -
Boat People

a

Cộng sản Quốc Tế

a

Từ thực dân đến cộng sản - Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam

  1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm - Lời giới thiệu của giáo sư P. J. Honey - Lời tựa của tác giả - Sứ mạng lịch sử của dân tộc Việt Nam
  1. Việt Nam trong lịch sử hiện đại - “Bác Hồ”, vị cứu tinh của dân tộc
  1. Cộng sản xuất hiện - Có công mài sắt, có ngày nên kim
  1. Bần cùng hoá toàn dân - "Đấu chính trị" - Danh sách Việt gian
  1. Công tác tư tưởng - Kiểm thảo - Chỉnh huấn
  1. Năm bài học
  1. Đại cương về cải cách ruộng đất - Chiến dịch giảm tô
  1. Cải cách ruộng đất đích thực
  1. Sửa sai - Chống đối chế độ
  1. Con đường thẳng tới cộng sản chủ nghĩa
 

a

a

 

Sáng tác của ký giả Jasper Becker - Dịch giả: Ngọc Nhân

Phần II : Nạn đói lớn

Chương 11: Bức thơ của Đức Ban Thiền Lạt Ma

 

"Khi chúng tôi nghe đến việc xảy ra nạn Đói làm chết người, trên một bình diện lớn, việc này đã tỏ ra mới và lạ cho chúng tôi. Tại xứ Tây Tạng, từ nhiều thế kỷ đã qua không hề xảy ra việc khan hiếm lương thực. Xứ này, với nền canh nông  tuy là kém mở mang cũng đã cung cấp đủ lương thực cho dân chúng. Trong quá khứ cũng có thể xảy ra một hay hai người đã chết vì đói. Nếu không có, không bao giờ một người nào đã nghe nói đến các sự việc như vậy."

- Đức Ban Thiền Lạt Ma đã nói vào năm 1995 -

Vì chức sắc thứ hai của ngôi phẩm của giáo hội xứ Tây Tạng là Đức Ban Thiền Lạt Ma, đứng sau Đức Đạt Lai Lạt Ma, vào năm 1962 đã viết một bản phúc trình với việc tỏ ý, tuy nói xa xôi, tố cáo đảng cộng sản Trung quốc đã có mưu đồ diệt chủng.Tại Trung Hoa, sắc tộc Tây Tạng là sắc tộc đã chịu đựng quá nhiều đau khổ, chết người hơn tất cả các sắc tộc khác, và có thể trên toàn sắc tộc này đã có năm người dân thì đã có một người chết vì Đói. Trong vùng nơi sinh quán của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tại hạt Ping'an trong tỉnh Qinghai, ít ra là đã có một nửa dân số đã chết vì nạn đói.

Theo truyền thống, dân số của sắc tộc Tây Tạng đã sinh sống rải rác trên một diện tích rộng lớn lan ra khỏi các biên giới của Trung Hoa hiện tại: họ đã canh tác tại các thung lũng tọa tại các vùng núi cao của thế giới, hay là đưa các đoàn mục súc đi qua các vùng cao nguyên mênh mông nhưng hẻo lánh. Vào thế kỷ thứ 11, toàn thể sắc tộc Tây Tạng đã quy y theo Phật giáo, thuộc trường phái Mật Tông (Tantra) du nhập từ Ấn Độ, tôn giáo này đã làm thay đổi sắc tộc Tây Tạng từ hiếu chiến trở thành một xã hội cực kỳ sùng đạo. Đã có nhiều tu việc quan trọng do các vị lạt ma lãnh đạo, người ta tin là các vị lạt ma này đã "hóa thân-đầu thai", các tu viện này là các trung tâm tôn giáo và đời sống đã tổ chức rất là dân chủ. Các thần quyền này chỉ thay đổi rất ít sau các cuộc chiếm đóng của đế quốc Mông Cổ vào thế kỷ 12 và 13, sau đến là của triều đại Mãn Thanh của Trung Hoa. Vào năm 1905, khi quân đội Anh quốc xâm lăng xứ Tây Tạng, quân đội này đã phát giác ra một xã hội của thời Trung Cổ sống biệt lập với thế giới bên ngoài. Các người quốc gia Trung Hoa cũng đã không cưỡng đặt được các luật lệ của họ lên xã hội của người Tây Tạng, ở tại thủ đô Lhassa, vì vậy người Tây Tạng đã sống trở lại với sự biệt lập của họ, do họ đã tự bắt buộc. Quân đội nhân dân giải phóng đã vào năm 1950-1951 đã phá vỡ sự biệt lập này.

Các người cộng sản Trung Hoa đã thiết lập vùng này thành một vùng tự trị tại đất Tây Tạng (Tibet) trung tâm và chia các người dân Tây Tạng ra cho các tỉnh khác. Một phần lớn dân số Tây Tạng từ nay trở đi sinh sống ở các tỉnh Sichuan, Qinghai, Gansu và Yunnan. Tại các nơi này, các người dân Tây Tạng đã đều phải chịu sống dưới các sự cải cách dân chủ, giống như các người dân của toàn nước Trung Hoa. Các tu viện lạt ma đều bị giải tán, các toán trâu Yak và cừu đều bị phân chia cho các người nông dân nghèo; các người dân Tây Tạng đều bị "sắp xếp" lại thành các thành phần xã hội và, tùy theo thành tích đạt được của toán người tương trợ và các hợp tác xã, các Công Xã Nhân Dân đã được thiết lập ra.

Theo tinh thần của bản thỏa ước 17 điều do Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ký vào năm 1951, thì vùng đất Tây Tạng trung tâm đã được hưởng do bản tu chính cho phép ngài tạm thời không phải chịu các sự cải cách dân chủ. Vùng đất Tây Tạng trung tâm sẽ ,đến năm 1965, trở thành Vùng Tự Trị. Đối với các người dân Tây Tạng còn lại thì sẽ không được hưởng một sự "nhân nhượng" nào cả. Vì vậy đến năm 1952, các người dân Tây Tạng đã bắt đầu nổi loạn. Khi các hợp tác xã được khởi đầu thiết lập vào các năm 1956, khởi đầu từ cấp thấp sau đến cấp cao thì sự chống đối lại biến thành các cuộc tàn sát dân trên một bình diện lớn và cao, và riêng cho dân Tây Tạng ở tỉnh Sichuan: đó là  các người thuộc bộ lạc Khampa. Đã có nhiều người thuộc bộ lạc này đã chạy trốn về thủ đô Lhassa. Đến năm 1959 đã xảy ra các trận chiến dữ dội chống lại quân đội cộng sản, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phải chạy trốn và sang tỵ nạn tại Ấn Độ. Đối với các người dân Tây Tạng còn ở lại, các sự thử thách và các hậu quả của kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước đã buộc họ phải chịu đựng các việc khổ đau mới. Quân đội cộng sản đã giết 100.000 người trong cuộc nổi loạn năm 1959.

Dù là cuộc tập thể hóa điền địa đã là ngòi lửa châm vào thùng thuốc nổ và cũng là chính sách của Nhà Nước. Đã có nhiều người dân Tây Tạng, đã còn đến ngày hôm nay, coi nạn đói đến kế tiếp cuộc tập thể hóa là mưu toan đã được dự định từ trước để trừng phạt thêm một phần vì họ đã nổi loạn chống lại. Phần đại đa số người Tây Tạng sống ở tỉnh Sichuan, Qinghai và Gansu, là họ đã không may mắn vì phải chịu sinh sống dưới uy quyền khắc nghiệt và tàn bạo của các viên tỉnh ủy lãnh đạo các tỉnh: Gansu, Qinghai và Sichuan. Các tỉnh này là nơi dân số đã do nạn đói tàn phá dữ dội, các sắc tộc Hán và Tạng đồng chịu đựng như nhau. Hạt Ping'an là nơi sinh quán Đức Đạt Lai Lạt Ma, số người thuộc sắc tộc Hán chết vì Đói tương đương với các người thuộc sắc tộc Tây Tạng. Luôn cả số dân Trung quốc được đưa sang định cư ở tỉnh Qinghai cũng phải chịu chết vì Đói, vào năm 1959, chính quyền đã đã di dân 5.000 người từ tỉnh Henan sang định cư tại hạt tên Tong Gren thuộc tỉnh Qinghai, thì chỉ còn sống sót 2.000 người, về sau, chính quyền đã phải đưa số người còn sống sót này trở về nơi làng cũ của họ. Đã có nhiều người dân Tây Tạng có ý thức khăng khăng là họ đã phải chịu đựng một số phận cực nhọc hơn các người thuộc sắc tộc Hán. Được coi vào hàng đầu họ là các người nạn nhân phải chịu đựng một chế độ do các người ngoại quốc ép đặt họ. Vào hàng thứ hai là các tu viện của họ là việc tàn phá trên một bình diện lớn về các tu viện này, cùng với việc bắt giam các vị lạt ma của họ, đã từng xảy ra vào các năm thuộc thập niên 50, không như người ta đã tin tưởng là các việc này đã xảy ra vào thời Cách Mạng Văn Hóa. Các người dân Tây Tạng đã nghĩ đây là một mưu toan để tiêu diệt nền văn minh Tây Tạng. Điểm sau cùng là riêng cho sắc tộc Tây Tạng là họ đặc biệt bị tổn thương vì chính sách nông nghiệp của Mao.

Các người dân Tây Tạng là các người dân "du mục" hay là các người sống bằng cách trồng các loại lúa "đại mạch." Trong thời gian thi hành chính sách Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước, đảng cộng sản Trung Hoa đã cho thi hành chính sách cưỡng bách buộc các người dân "du mục" ở yên tại một nơi, việc này đã tạo ra việc xảy ra tại xứ Kazakhstan, dưới thời của Stalin khiến một số lớn các gia súc đã phải chết. Đã xảy ra ở một vài nơi là các người nông dân đã quen với cách ăn để sống bằng "lúa đại mạch" bằng cách "xay nhỏ" loại lúa này, sau đem nấu thành một loại cháo được gọi tên là "tsampa." Họ đã bị bắt buộc phải gieo trồng các loại "lúa giống khác" mà họ đã không hề biết được và các loại này cũng không thích hợp với họ. Tình cảnh của họ cũng giống như tình cảnh của các người nông dân của xứ Irlande, các người này đã không biết cách "làm ra bánh mì" với lúa mì được nhập càng. Đến khi xảy ra nạn các con sâu phá hoại các cây khoai tây; họ đã phải chịu Đói. Các người dân Tây Tạng khi không còn có được các lúa đại mạch để ăn, họ đã không biết cách nấu chín các lúa mì và bắp hột. Thêm vào là việc các người dân của Trung Hoa đã từng thường gặp các cuộc khan hiếm lương thực và họ đã biết nhiều cách để đối phó lại hoàn cảnh, các người dân Tây Tạng chưa hề phải chịu đựng một sự thử thách nào như lần đầu tiên này. Ngày hôm nay cũng đã có nhiều người dân Tây Tạng đã nói là họ còn sống sót được là nhờ vào các người Trung Hoa đã dạy họ ăn các lá cây và các loại cỏ.

Bộ lạc Khampa, thuộc sắc tộc Tây Tạng, thường sinh sống ở vùng phía Tây của tỉnh Sichuan, các người này trồng lúa đại mạch và chăn nuôi gia súc tại các cánh đồng cỏ vào mùa Hè ở các vùng núi cao. Vào các năm 1950, các người Khampa đã bị bắt buộc làm giống như các người nông dân ở Sichuan, tập hợp lại thành các toán người "giúp đỡ tương trợ" rồi thành các hợp tác xã ở cấp cao hơn và sau biến thành các công xã. Các tu viện lớn của họ đã biến thành các nơi "chống đối" lại và sau khi chính quyền đã ra lệnh cho phi cơ và pháo binh oanh tạc vào các tu viện này, các người Khampa đã chạy trốn lên các vùng núi cao và tổ chức đánh du kích. Các người Khampa còn ở lại đã bị cưỡng bách phải gia nhập vào các công xã cỡ nhỏ với khoảng 1.000 đoàn viên. Đời sống tại đây cũng rất cơ cực. Mỗi người đoàn viên phải giao cho công xã tất cả của cải của họ, luôn cả quần áo để thay đổi cùng các chiếc chăn đắp để ngủ. Các đồ vật thuộc kim loại, gồm luôn các loại nữ trang truyền thống của các người thuộc phái nữ đã thường xuyên đeo để làm trang sức cũng bị tịch thu để "nấu ra thép." Dù là ở các vùng núi rất xa cũng đã từng có các "loại lò cao nhỏ" để nấu ra thép và lần đầu tiên đã xảy ra trong lịch sử của họ, các người phụ nữ Khampa đã phải tham gia vào việc cày bừa và các việc canh nông.

Chính sách mới về canh nông đã không hề chú trọng đến các tục lệ ở địa phương cùng với các thái độ của người dân. Chính quyền đã buộc các người dân phải gieo trồng "lúa mì" thay vì "lúa mạch" để mỗi năm thu hoạch được hai hay ba mùa, việc này mau làm đất mất đi các "chất màu." Giữa mùa Đông, tất cả mọi người dân, dù là thời tiết đóng băng, đều bị "huy động" để đi đào các con kinh dẫn nước, dù là vô ích cũng là đào các chiếc "giếng dư thừa." Các người Khampa cũng bị bắt buộc đến ăn cơm ở các nhà ăn tập thể của các công xã, cho đến năm 1964, còn lâu hơn ở tất cả mọi nơi ở Trung Hoa. Một người đối thoại với chúng tôi đã thuật lại về đời sống trong thời gian này tại công xã Hua Shi Tang, tọa tại chân của các vùng núi Gongga, các núi này cao đến 6.700 mét:

"Đời sống trong các năm 1961 và 1963 là tệ xấu hơn cả. Vào mỗi buổi sáng người ta đã gặp 5 hay 6 người đã "co quắp" nằm chết. Thi thể của các trẻ em và các ông già đã "sưng phù" lên vì Đói. Vì số các người nam đã bị bắt giam, các người nữ đã là 60% của dân số người lớn. Chúng tôi đã ra ở các cách đồng, thu lượm các loại cỏ và đem nấu các loại cỏ này và cố gắng ăn nuốt các nồi cỏ nấu này. Những người nào không ăn được loại cỏ nấu chín này, đều chết hết. Mặc dù phải chịu các sự "chóng mặt" và làm choáng váng cùng với sự yếu đuổi của thân thể, người ta vẫn bắt buộc chúng tôi phải tiếp tục làm việc và chúng tôi đã thử tìm kiếm ra một ít hạt lúa và cỏ để có cái ăn, nhưng chúng tôi vẫn phải đề phòng các người vệ binh canh phòng chúng tôi. Mỗi khi chúng tôi đi canh tác ở các cánh đồng và trở về nhà, các người vệ binh này đã lục soát chúng tôi từ người một, các người vệ binh này đã bóp cổ chúng tôi và bắt buộc phải nhả ra những gì còn ở trong miệng. Cũng có các toán người đặc biệt đi vào các nhà riêng của chúng tôi để khám xét coi chúng tôi có chôn giấu lương thực, họ đã đào các nền nhà và phá các vách tường, bới các cây rơm để dành nuôi các trâu bò. Các cuộc lùng kiếm thực phẩm đã diễn ra vào suốt thời gian mà nạn đói hoành hành. Khi các toán người này phát giác ra dù một ít hạt lúa, họ liền ra lệnh tập họp một cuộc mít tinh có từ 500 đến 600 người đến tham dự. Người thủ phạm chôn giấu các hạt lúa này liền bị bắt phải đeo một tấm bảng lớn ở trước ngực, đưa người này đi diễn qua các đường làng và đánh đập cùng với việc khạc nhổ vào người này. Trong các cuộc phê bình và kiểm thảo về chính trị, đã có nhiều người đã bị đánh chết. Các người nào đã bị tố cáo đã làm hư hỏng các dụng cụ nông nghiệp và làm hư hỏng các việc đồng áng cũng bị đánh đập. Các người cựu địa chủ là những người đã bị đánh đập nhiều hơn các người khác và người ta đã ép buộc các người cựu địa chủ này phải làm việc nhiều hơn các người khác, dù là họ đã hấp hối vẫn phải đi làm việc.

Một người ở một công xã khác, nhưng cũng một vùng, đã tận mắt trông thấy và cũng đã thuật lại một trường hợp như vậy: "Nạn đói làm chết người đã xảy ra từ năm 1962 đến năm 1965. Các đứa em của tôi đã đi khắp mọi nơi để lượm lặt tất cả những thứ gì có thể ăn được. Vào khi các em của tôi đã tìm được các khúc xương, có thể là của con người, các em của tôi đã đập vụn các khúc xương này và xay nhỏ để biến thành một loại bột đem trộn chung với các vỏ của các hạt lúa đại mạch để nấu thành một loại cháo; chúng tôi ăn loại cháo này để thay thế cho món Tsampa truyền thống của chúng tôi. Chúng tôi đã phải bắt buộc làm việc rất cực khổ và tất cả mọi người đều bị cơn đói hành hạ. Trong thời điểm này đã có rất nhiều người chết".

Cũng như đã từng xảy ra ở khắp mọi nơi ở nước Trung Hoa, chính quyền đã bắt đầu từ đầu năm 21959, tịch thu các thóc lúa của các người dân Khampa. Người dân Khampa nào có tính lại các thóc lúa mà bị chính quyền phát giác thì sẽ bị khép vào tội "hữu khuynh" và sẽ bị kết án tù giam rất nặng. Ở trong các khám đường, phần lớn các tù nhân đã chết vì Đói, vì các người tù nhân chỉ được phân phối có 5 kg để ăn cho mỗi tháng. Trong số 300 người tù nhân thì đã có 160 đã chết. Tại một khám đường ở một nơi khác, tại Barkham, trong số 1.000 tù nhân thì đã có 500 người đã chết vì Đói.

Tại tỉnh Sichuan có một quận tên Aba, sau năm 1949, quận này đã được tách rời ra khỏi tỉnh Qinghai. Các sự "cải cách dân chủ" chỉ được thi hành rất trễ tại đây, và mãi đến năm 1958, người ta mới đóng cửa các tu viện. Năm 1961 là năm mà nạn đói đã rất thê thảm. Một vị tăng lữ đã tường thuật lại với tôi, và trong một cuộc đối thoại, về tất cả việc gì đã xảy ra tại đây vào thời điểm này:

"Không một người nào sinh sống ở vùng này đã đồng ý về các việc làm của các người cán bộ thuộc sắc tộc Hán, vào khi xảy ra một cuộc nổi loạn. Hai phần ba các người dân thuộc nam giới đều đã bị bắt giam và đưa đi các trại lao động khổ sai. Phần lớn các trại lao động này đều tọa tại Guanxian, gần thành phố Chengdu. Đã có đến 70% các tù nhân đã chết vì Đói tại các trại lao động này, vì họ chỉ được cấp có 100 gờ ram lương thực cho mỗi ngày. Trong năm 1964 và năm 1977, thỉnh thoảng có được vài người tù đã trở về. Những người không bị bắt giam, đã bị bắt buộc phải làm việc từ mờ sáng cho đến đêm tối. Mọi người đều rất lo sợ, không dám ngỏ lời nói chuyện với nhau, vì lo sợ sẽ bị khép vào tội "phản cách mạng" và sẽ bị đánh đập. Người ta đánh đập rất nhiều người. Không một người nào có thể đi ra khỏi công xã. Tại đây có gọi là tạm đủ lương thực cho tất cả mọi người nhưng các người Trung Hoa đã lấy đi tất cả lương thực. Trong số người của chúng tôi đã có vài người đã chạy trốn lên núi và đã trốn tại đây trong nhiều năm.

Do một sự trớ trêu của lịch sử, tại vùng đất hẻo lánh này có nhiều cánh đồng cỏ, đạo Hồng Quân và Mao có thể bị tiêu diệt nếu không cướp được lương thực của các người dân Tây Tạng sinh sống ở vùng đất này. Về sau khi tiếp xúc với ký giả người Mỹ tên Edgar Snow, Mao đã tuyên bố: "Một ngày này hay một ngày khác, chúng tôi sẽ trả lại lương thực cho các người Mantsus (một bộ lạc khác) và các người Tây Tạng số lương thực mà chúng tôi đã phải bắt buộc lấy đi của các người này." Theo các sự nhận xét của các ông Rewi Alley và Wilfred Burchett, hai ký giả thân Mao và đã ở lại Trung Hoa sau năm 1949, việc thành lập các công xã ở các vùng có các sắc tộc thiểu số sinh sống, là một đường lối để Mao thanh toán món nợ của mình.

Đối với tất cả các người dân Tây Tạng sinh sống ở tỉnh Sichuan, thì nạn đói đã kéo dài lâu hơn các người dân thuộc sắc tộc Hán sinh sống tại đây, vì các sự cải cách được thi hành sau khi nạn đói đã xảy ra, mãi đến năm 1965 các sự cải cách này mới được áp dụng cho sắc tộc Tây Tạng. Người ta đã phân phối cho mỗi gia đình được một con Yak (loại trâu ở địa phương) và một khoảnh đất để trồng tỉa. Mỗi gia đình gồm từ 3 đến 5 người. Con số tử xuất tổng quát ở các người Khampa, con số này được coi là rất cao. Một nguồn tin của chúng tôi, đã cho biết là tại hạt Kanding, trong số 1.000.000 người dân, luôn cả sắc tộc Hán, thì đã có 400.000 người đã chết.

Một nguồn tin khác đã ước lượng là 1/5 dân số người Tây Tạng sinh sống ở tỉnh Sichuan, mà đa số đã chết vì Đói.
Những người dân Tây Tạng đầu tiên đã nổi loạn đầu tiên là các người dân du mục sinh sống tại vùng đất mà người Tây Tạng gọi tên là Amdo. Tọa lạc tại một vùng rộng lớn thuộc tỉnh Qinghai, các người dân du mục này có bản tính "độc lập" và "tự tin" và gọi nhau là các người Goloks (ám chỉ là đầu óc lộn ngược). Vùng được gọi tên là Amdo gồm luôn các vùng các vùng thuộc tỉnh Qinghai, tỉnh Gansu và hạt Aba thuộc tỉnh Sichuan. Các người du mục Goloks thách thức tất cả các chính quyền, luôn cả sự lãnh đạo của chính quyền ở Lhassa. Vào năm 1952, các người dân Goloks đã khởi làm loạn nhưng đã bị quân đội nhân dân giải phóng chận lại bằng việc đã phái "không quân" đi truy lùng các người du mục này. Vả lại, tại nơi này hay là ở các nơi khác, các người phi công cũng giống như các người bộ binh, tất cả các người này rất khó phân biệt được các toán người du mục đang di chuyển với toán quân du kích. Cũng thêm vào việc không hiểu biết các tục lệ của người dân Tây Tạng; vì vậy các người bộ binh Trung Hoa bắt gặp được người dân Tây Tạng nào có đem theo các con dao hay một thanh gươm hoặc một vũ khí nguy hiểm nào thì liền bị coi là một người phiến loạn nguy hiểm, trong khi ấy thì việc đem theo vũ khí đối với tục lệ của người Tây Tạng là một vật trang trí. Về phần các người phụ nữ Tây Tạng, việc họ vận các áo choàng rộng may bằng da của các con cừu, họ "đìu" các trẻ sơ sinh dưới chiếc áo choàng này đã khiến các người lính Trung Hoa nghi ngờ là các người phụ nữ Tây Tạng này có giấu vũ khí trong người nên đã nổ súng làm chết các người phụ nữ này. Năm 1956 đã kiểm kê các người Kolok và đã có được 100.000 người. Đến năm 1964, kiểm kê lại thì chỉ còn có 70.000 người. Các người Koloks đã cùng với các con ngựa của họ đã chạy ẩn trú lên các vùng núi cao hoặc đã chạy trốn sang Ân Độ, nhưng họ đã để lại các người vợ và các trẻ em và những người này đã bị cưỡng ép phải hội nhập vào các công xã.

Vào năm 1958, bộ lạc này đã được chính thức định cư tại tỉnh Qinghai, lập thành một thành phố với các chiếc lều bằng da-len của các con trừu, các chiếc liều này được dựng ngay hàng thành các ô , có đường đi được đặt tên là "đường giải phóng" hay "đường Bắc Kinh." Trên các cao nguyên cao trên 4.000 thước với các cánh đồng cỏ mọc trên các phần đất dễ bị hư hỏng, thay vì để các bầy ít con gia súc gặm cỏ mọc trên một khoảng diện tích, các bầy gia súc và các gia đình với mỗi bầy là 100 con yak, tất cả các bầy gia súc này đã đều bị tập họp lại tại một nơi. Họ đã không chuẩn bị trước để dự trữ rơm rạ cho súc vật ăn vì vậy các cánh đồng ở vùng phụ cận đã không còn có được cỏ nữa, chỉ vào một thời gian ngắn sau đó, các gia súc đã chết vì thiếu cỏ để ăn. Theo thường lệ thì vào mùa Thu các người dân du mục đã bắt đầu giết các gia súc khi các gia súc này còn béo và dự trữ lương thực cho mùa Đông. Nhưng vào lần này, nếu không được phép của cấp đương quyền ở cách xa đó hàng trăm km thì không được phép giết một con gia súc nào, vì vậy các thói quen của các người dân du mục đã không còn được chấp nhận nữa. Vào đầu năm 1959, các gia súc đã chết vì đói, và nếu con nào còn sống sót thì đã quá gầy nên khi đem ra làm thịt thì chả có được bao nhiêu thịt để ăn và đã khiến không còn được nguồn lợi nào cả.

Và đây là lần đầu tiên mà các người du mục đã phải bắt buộc học tập cày cuốc các vùng đất sỏi đá của vùng đất này. Ở toàn vùng tên Amdo, tất cả các công sức của con người để đào lớp đất mỏng có phân của vùng cao nguyên này, các công sức này chỉ là phù phiếm và đã đồng thời gây ra cùng một lúc làm hư hỏng môi trường trong một thời gian lâu dài. Việc sử dụng quá độ về các cánh đồng cỏ, cùng với việc cày xới quá sâu các cánh đồng ruộng đã làm tiêu hoại các lớp đất phì nhiêu nhưng mỏng mảnh nằm trên mặt đất đã tạo ra việc nổi lên mặt đất lớp đá đen vô ích. Vì lạnh giá nên mặt đất ở đây đã trở thành khô cứng, vì vậy các người dân Tây Tạng đã phải dùng đến loại cuốc đặc biệt hầu có thể cuốc đất vụn ra. Tuy vậy, các người dân Tây Tạng cũng cũng đã phải chịu sự cưỡng bách phải "cày sâu" xuống đến 1 mét và gieo trồng các cây lúa thật sát lại với nhau. Vào mùa Thu năm 1959, lúc gặt hái thì kết quả là một tai họa cho một vùng phì nhiêu hơn mọi nơi vì chính quyền đã cưỡng bách phải gieo trồng lúa mì và các loại ngũ cốc khác không thích nghi với thời tiết và thời gian ngắn mà các loại cần có để tăng trưởng. Trên các vùng có được đất tốt, sô nông sản thu được đã mất đi một nửa. Vì không có được "sức kéo" của các con trâu, việc thường xảy ra là các người Tây Tạng phái nữ đã phải kéo các chiếc cày để thay thế cho các con trâu. Vào giữa mùa Đông, vào khi hàn thử biểu đã xuống đến -30° C, và nhiều khi còn xuống thấp hơn, các người phụ nữ này còn bị cưỡng bách đi đào các con kinh dẫn nước để tưới hoặc tiêu thoát nước. Ban tuyên truyền "đã biến" việc thất thu về nông sản thành các sự thành công chưa từng thấy.

Tại một làng tên Xiahe, chúng tôi đã gặp một người dân và đã được nghe thuật lại:

"Trên một diện tích một Mu (khoảng 4.500 mét vưông) thường sản xuất ra được 250 gyama (khoảng 160 kilô) nhưng các người công chức Trung Hoa đã ghi trên các bản phúc trình là đã sản xuất ra được 1.000 gyama. Đồng thời trong các bản phúc trình này đã báo cáo là thời xưa, mỗi ngày chỉ đi xa được độ vài km thì ngày hôm nay có thể đi được 500 km. Về mùa gặt hái thì cũng giống như vậy, nếu ra sức làm việc nhiều hơn thì các kết quả cũng sẽ khả quan hơn. Khi các người trưởng xóm gởi các kết quả đúng về sản xuất thì các người cán bộ Trung quốc đã báo cáo là đã thâu hoạch được 60 lần nhiều hơn và đã đòi hỏi ngược lại người trưởng xóm: "Tại sao lại không sản xuất được nhiều như vậy?" Và người trưởng xóm này liền bị đưa ra để kiểm thảo và phê bình công khai. Và đến lúc này, tất cả mọi người đều "nói láo." Vào lúc khởi đầu, tất cả mọi người đều được phân phối một cân (454 gờ ram) lương thực để ăn cho một ngày, nhưng về sau, lương thực tồn trữ không còn có nữa, số lương thực cấp phát cho mỗi ngày chỉ còn có được nửa (1/2) cân cho mỗi ngày. Với số lương ăn quá ít như vậy, việc làm bánh để hấp chín để ăn là một việc không thể thực hiện được, vì vậy người ta phải nghĩ đến việc nấu thành cháo, một loại cháo loãng. Về sau, khi người ta đã quyết định đóng cửa các nhà bếp nấu ăn công cộng, đời sống đã trở nên khá hơn đôi chút. Khi các người dân đã tự nấu ăn, họ có thể thêm vào các loại nấm, khoai và mọi thực vật mà đã đi lượm hay hái được trong các khu rừng hay ở trên núi để cho các bữa ăn được thêm phần dinh dưỡng.

Tại Amdo, các người dân cũng đã thuật lại cho chúng tôi biết về việc các người cán bộ đã đi lục soát truy tìm ra lương thực chôn giấu tại các gian nhà của dân gian, cùng với việc tịch thâu của cải và các vật dụng bằng kim loại để nấu ra "sắt và thép." Cũng có người đã hồi nhớ lại việc đã ăn biến chế (ersatz) từ cỏ và rễ cây, ở đây người ta gọi tên là "daishipin." Trong mùa Đông, người ta đã nấu chín các loại thân cây, các loại vỏ cây và nấu luôn các đôi giày cùng với các quần áo bằng da trừu của họ. Nhiều người đã hồi nhớ lại việc ăn thịt người, nhưng việc này chỉ xảy ra ở các cộng đồng thuộc sắc tộc Hán. Tại Amdo số tử xuất đã lên rất cao. Tại một ngôi làng thuộc hạt Tongren, trên một dân số 906 người thì đã có 267 người đã chết vì Đói, 20 người bỏ trốn đi và 67 người đã bị gởi đi trại lao động cưỡng bách tại vùng Delingha ở trong tỉnh Qinghai. Về sau chỉ còn 24 người sống sót trở về đây. Tổng số thì trên 3 người dân của ngôi làng này thì đã có 1 người đã chết. Người đối thoại với chúng tôi đã xác nhận là gia đình của ông có 8 người, thì 4 người đã chết vì Đói và 2 người đã chạy trốn sang Ấn Độ. Ba người chú của ông đã bị đánh chết trong các buổi họp để phê bình công cộng. Ở một địa hạt khác, một người đối thoại đã xác nhận là tại ngôi làng của ông, vào năm 1958, có 35 gia đình gồm có 210 nhân khẩu, vào năm 1964 chỉ còn lại có 127 nhân khẩu. Phần lớn các người nam đều đã bị bắt giam và người ta đã không bao giờ gặp lại các người này.

Ở nơi các người nam đã trưởng thành đã chết. Đã có nhiều người bị bắt giam vì họ là các người tu sĩ. Đã được coi là một phần tư (1/4) của dân số là các tăng lữ vì họ đã được ghi tên vào các tu viện dù là người ta đã ghi luôn tên các người nông dân phục vụ cho các tu viện, vì các tu viện này đã kiếm soát các điền địa và một phần lớn các gia súc. Vùng Amdo được nổi danh về các ngành tu của Phật Giáo Tây Tạng, các tăng lữ tên Gelugpa, các tu sĩ đội mũ màu vàng, vị tu sĩ tên Tsongkapa đã sáng lập ra ngành này và vị Đạt Lai Lạt Ma và vị Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 cũng đều sinh ra tại vùng này. Xảy ra việc gần như phá hủy hết các tu viện ở trong vùng này đã gây nên các vụ xáo trộn hầu như ở tất cả mọi nơi. Đã từng xảy ra nhiều vụ nổ súng bắn vào dân chúng Tây Tạng khi họ mưu toan giải thoát cho các vị cao tăng bị bắt giam. Vào năm 1958, tại hạt Wendu đã có 2.000 người đã bị bắn chết. Hầu hết mỗi gia đình đều có một người bị ghi vào danh sách "thành phần đen" được xem là một tăng lữ hay một người phiến loạn, việc này đã gây ra hậu quả tai hại cho thành phần dân chúng còn lại. Tất cả mọi người đều có thể bị gán cho là "hữu khuynh": người này chỉ cần có một thân nhân đã bị quân đội bắn chết hay là đã bị bắt giam vì đã là một tu sĩ lạt ma hay bị coi là địa chủ vì đã thuộc vào giới quý tộc ở địa phương. Theo các nguồn tin riêng của chúng tôi, trên 7 người dân Tây Tạng thì đã có 1 người dân đã bị gán cho là "hữu khuynh" vì trong thời điểm này thì trên trung bình có 1 người dân trên 20 là hữu khuynh. Việc tồi tệ hơn là các người đã bị bắt giam đã bị đưa đi đày ở tại các trại lao động ở Tibet, ở Qinghai ở tỉnh Gansu và ở tỉnh Sichuan, tức là ở các nơi mà số người còn sống sót lại được rất là ít ỏi. Chỉ có một số rất nhỏ đã sống sót và đã trở về. Một ví dụ, trên số 400 tăng lữ bị bắt giam, các người này trụ trì tại một tu viện ở Gannan, thuộc tỉnh Gansu, chỉ còn có 100 người còn sống sót. Đã có nhiều người đã tận mắt trông thấy và xác nhận với chúng tôi là số tử xuất tù nhân người Tây Tạng là từ 40% đến 90%.

Để phản đối lại các sự kiện đã xảy ra, như đã thuật ở phần trên, Đức Ban Thiền Lạt Ma đã phúc trình cho Mao một bức thơ gồm có 90.000 chữ. Với việc cảnh cáo của thống chế Bành Đức Hoài (Peng DeHuai) đây là nhân vật lãnh đạo hàng đầu đã dám hành động như vậy vào khi xảy ra nạn đói.

Vào năm 1961, Đức Ban Thiền Lạt Ma đã du hành qua nhiều hạt thuộc vùng Amdo và đã tận mắt trông thấy các sự kiện và đã vô cùng chấn động tâm thần. Ngài đã về nơi làng sinh quán tên Xinhua và cũng đã đi đến hạt Gonghe (đồng thời cũng có tên là Hainan và tại nơi này, vào năm 1958 đã diễn ra cuộc khởi loạn của vùng Amdo). Đồng thời ngài cũng đã đi đến tại; Tongren, Guide, Haibei và tại các trại lao động cưỡng bách tại Gangca tọa tại phía Bắc của đại hồ Kokonor. Ở tại tất cả các nơi này, ngài đã hỏi để được biết con số của các người đã bị xử bắn chết, của các người đã bị đánh chết cùng với con số người đã là nạn nhân về Đói. Theo một nguồn tin khác đã nêu ra bản phúc trình này, Đức Ban Thiền Lạt Ma đã kết luận là đã có 15% tổng số dân đã bị cầm tù, tính đổ đồng là mỗi thành phố hay mỗi ngôi làng đã có từ 800 đến 1.000 người, đã có hầu như một nửa (1/2) số người này đã chết trong các khám đường.

Vào đầu mùa Xuân năm 1962, trong dịp lễ khai hạ, ngài đã trở về tỉnh Qinghai, tại một nơi kế cận với trại lao động khổ sai tại Gangca. Tại đây, ngài đã nổi cơn "thịnh nộ" ngài đã chất vấn dữ dội các người công chức đang công tác để thiết trí một sân khấu trên một cánh đồng để liên hoan trong dịp Lễ Đầu Xuân. Ngài đã hỏi các người công chức này có phải chăng họ đã hoàn toàn "mất cảm giác" để vui múa hát trên một cánh đồng mà người ta vừa chôn cất nhiều ngàn người đã chết vì bị đánh đập hay là đã chết vì đói.

Các cơ quan tuyên truyền của Trung Hoa, sau năm 1949, đã nhấn mạnh về việc Đức Ban Thiền Lạt Ma đã cộng tác với các người cộng sản và đã hỗ trợ họ, trong lúc ấy thì Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phản bội vì đã bỏ chạy trốn. Đúng với sự thật, Đức Ban Thiền Lạt Ma đã đặt sự tin tưởng vào các bản phúc trình của các cơ quan tuyên truyền cộng sản đã viết một thiên đường mới của xã hội" đã vừa ra đời trên "nóc cao của thế giới."

Vào tháng 12 năm 1960, trong một bản phúc trình gởi cho ủy ban thường trực của Đại Hội Nhân Dân, Đức Ban Thiền Lạt Ma đã viết: "Vào ngày hôm nay, đất Tây Tạng và các người dân đều sống rất tốt. Ở khắp mọi nơi cho đến tận các vùng hẻo lánh, người ta đều gặp sự thịnh vượng đáng khen, cùng với sự hăng say cần cù và lao động sản xuất. Đó là tất cả ý nghĩa của công trình chung của chúng ta".

Tuy vậy, với các việc mà ngài đã tận mắt nhìn thấy trong chuyến đi tham quan tại quê hương của ngài đã làm ngài xúc động rất nhiều và đã khiến ngài đã thảo một bản phúc trình đầy cay độc để gởi cho Mao. Một số người cố vấn của ngài đã khuyên can ngài đừng nên làm làm việc này nhưng không khiến ngài đổi ý. Trong số người cố vấn này, có vị là người hướng dẫn tâm linh là vị cao tăng tên Ripoche Enju, trụ trì tại tu viện Tashilumpo là nơi trụ trì của Đức Ban Thiền Lại Ma. Vị cao tăng này đã tham khảo các lời thánh phán tiên tri một tai họa lớn sẽ xảy ra. Vị cao tăng này cũng cố gắng thuyết phục Đức Ban Thiền Lạt Ma với các lý lẽ hợp lý: "Nếu các người lãnh đạo đảng cộng sản muốn giải quyết vấn đề này thì họ đã phải khởi đầu từ lâu. Nếu họ không muốn giải quyết vấn đề này thì viết phúc trình cho họ cũng chả có ích gì vì họ chả cần chú ý gì đâu ! Tôi rất đỗi lo âu vì bức thơ của ngài chả có ích lợi gì cho dân tộc Tây Tạng mà ngược lại sẽ có hại cho bản thân của ngài. Vào ngày hôm nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma đang vắng mặt, tất cả mọi người đang còn ở tại đây đều trông cậy ở nơi ngài".  Một người trong số người cố vấn, vị lạt ma của tu viện Sera, cùng với vị phụ tá của viên tỉnh ủy Qinghai, tên Geshe Sherab Gyatso đã đồng khuyên can Đức Ban Thiền Lạt Ma nên dùng lời lẽ ôn hòa trong bản phúc trình.

Vào năm 1962, Đức Ban Thiền Lạt Ma đã không chú ý đến các lời khuyên can của các vị cố vấn của ngài và đã gởi bản phúc trình cho Mao như đã dự định kèm theo 4 điều khuyến cáo đặc biệt về chính trị cho xứ Tây  Tạng. Bản phúc trình này được thảo với chữ viết xứ Tây Tạng, rồi được chuyển ngữ ra chữ Trung Hoa, rồi lại được một lần nữa chuyển ngữ lại ra chữ của xứ Tây Tạng để tránh các sự sai lầm. Việc này được phân phối ra cho nhiều người thông dịch khác nhau, mỗi người thông dịch chỉ phụ trách một phần của bản phúc trình. Trong bản phúc trình Đức Ban Thiền Lạt Ma đã than phiền là Phật giáo hầu như đã bị tiêu diệt và báo trước là trong trường hợp với chính sách đang được thi hành và tiếp tục thi hành thì sắc tộc Tây Tạng sẽ không còn nữa và sẽ bị đồng hóa với sắc tộc Hán. Bản phúc trình của ngài sẽ không bao giờ được công báo, nhưng trong văn kiện chính thức về tiểu sử của ngài với tựa đề: Vị cao tăng Ban Thiền, người ta đã được biết một đoạn trích ra: "Trong các năm về sau này, dân số Tây Tạng đã giảm sút đi rất nhiều. Ngoại trừ các người phụ nữ, các trẻ em cùng với các người lớn tuổi không còn sức để kháng cự lại, gần như toàn thể các người khác đã đồng bị bắt giam. Các người trai bình thường và có sức khỏe tốt đều là tù nhân. Các người dân Tây Tạng cư trú tại các tỉnh Qinghai, Gansu, Sichuan và Yunnan, họ đã sống rất khó khăn và người ta đã không có được các ngôn từ để tả lại các sự khổ đau của các người dân Tây Tạng này. Bản phúc trình của Đức Ban Thiền Lạt Ma tiếp tục tố cáo đảng cộng sản đã vi phạm các sai lầm nghiêm trọng khi tiếp tục trấn áp các cuộc nổi loạn."

Sau khi nhận được bản phúc trình, Mao đã hội kiến với Đức Ban Thiền Lạt Ma. Nhiều người lãnh đạo cao cấp trong số người này có vị thủ tướng Zhou Enlai, vào lúc khởi đầu đã khuyến khích Đức Ban Thiền Lạt Ma hãy viết bản phúc trình này, với các từ ngữ được sự đồng thuận với ông Li Weihan cùng với các vị lãnh đạo cao cấp khác của Mặt Trận Thống Nhất, của nha đặc trách các vụ Tây Tạng. Các sự khuyến khích này đều nằm trong khuôn khổ của chương trình làm giảm bớt cường độ của chính sách Bước Nhảy Vọt lớn và được bắt đầu vào năm 1961. Và cũng vào thời điểm này các vị bí thư của các tỉnh Qinghai và Gansu là các người có chủ trương "cực khuynh tả", các vị bí thư này đã bị mất chức. Các vị bí thư của các tỉnh khác ở trong nước, như ở tỉnh Anhui, đã thử nghiệm thực thi một chính sách tư hữu cho ngành canh nông. Nhưng Mao đã tỏ ra không hề hối tiếc. Đức Ban Thiền Lạt Ma đã trở thành một "hình nhân múa rối" nằm vào giữa một cuộc đấu tranh chính trị liên tục của nhóm người này để chống lại chính sách thảm hại của Mao, và trong trường hợp là việc đấu tranh thất bại thì Đức Ban Thiền Lạt Ma sẽ là nạn nhân đầu tiên của phe nhóm người thua cuộc.

Vào tháng 8 năm 1962, nhân một cuộc họp ở Beidaihe, Mao đã quyết liệt chủ trương chống lại các nhóm người đòi cải cách và Mao quyết liệt chủ trương tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Đức Ban Thiền Lạt Ma liền bị bắt giam và bị tố cáo là người đứng ra tổ chức một cuộc nổi loạn. Mặc dù đã có xảy ra nhiều áp lực, ngài đã từ chối tự kiểm thảo và tự phê bình và ngài đã phải chịu đựng ròng rả trong 15 năm sự sống quản thúc và trong khám đường. Chỉ đến năm 1977 ngài mới được sống lại đời sống tu hành. Trong thời gian xảy ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa, các người Vệ Binh Đỏ đã tố cáo ngài là người chủ trương chính sách Nô Lệ Phản Động, là một con Ma Cà Rồng, là một tên Ăn Bám của các con Ma Cà Rồng của xứ Tây Tạng. Ngài đã bị giam cầm và sống cô lập. Về sau, ngài đã nói là nếu không có sự can thiệp của thủ tướng Zhou Enlai thì ngài đã bị hành quyết. Cho đến năm 1988, Đảng mới hủy bỏ bản án kết tội ngài là thành phần chống Đảng, chống xã hội và chống nhân dân. Vào các năm đầu 1990, bản tiểu sử chính thức của ngài đã chấp nhận về bản phúc trình của ngài gởi cho Mao, là một trong những trang sử làm vẻ vang cho đời sống chính trị của Đức Ban Thiền Lạt Ma. Vào năm 1982, khi ngài trở về tỉnh Qinghai, ngài đã được nhân dân nhiệt liệt nhiệt liệt chào mừng việc trở về của ngài.

Vào năm 1962, cũng cùng với thời điểm này, các người Tây Tạng đã có cộng tác vào bản phúc trình của Đức Ban Thiền, như ông Li Weihan cũng bị "hạ tầng công tác" và bị tố cáo là kẻ hèn nhát chủ trương đầu hàng vì đã quy lụy trước Đức Ban Thiền. Đã có nhiều người đã bị bắt giam và đã bị gán cho nhãn hiệu là các "ban thiền nhỏ." Vào năm 1968, trong lúc xảy ra cuộc Cách Mạng Đỏ, các người Vệ Binh Đỏ đã đánh chết vị cao tăng Geshe Sherab Gyatso, khi ấy ngài đã 86 tuổi. Vào năm 1969, vị lạt ma trụ trì tại tu viện Tashilumpo cũng bị giết chết. Viên bí thư của tỉnh Qinghai tên Gao Feng cũng là nạn nhân của cuộc Cách Mạng Văn Hóa và ông này đã chết vào năm 1968 sau khi đã bị cách chức và bị thuyên chuyển qua tỉnh Gansu.

Thảm trạng của xứ Tây Tạng (Tibet) không ngừng tại đây. đảng cộng sản giang hồ đã không hề coi trọng việc đã gây ra hàng chục triệu dân Tây Tạng đã chết vì Đói. Các người dân Tây Tạng sinh sống trong vùng tự trị của xứ Tây Tạng, vào lúc đầu đã được "miễn trừ" việc thành lập các công xã, nhưng về sau cũng bị cưỡng bức phải gia nhập vào chính sách công xã thảm họa này. Đối với Vùng Tự Trị đây là một thảm họa kéo dài trong 20 năm.
Sau đến năm 1959, tất cả các người nông dân Tây Tạng đều bị bắt buộc phải gia nhập vào các toán "tương trợ lao động" rồi vào các hợp tác xã, và đây là gia đình phát khởi nạn đói. Ông Dawa Norbu đã mô tả trong quyển sách với tựa đề: Ngôi Sao Đỏ trên xứ Tây Tạng về các sự đã xảy ra:

Cũng như thường xảy ra vào sau khi đã thâu hoạch được mùa gặt của năm, các người cán bộ thuộc sắc tộc Hán đã báo cáo quá đáng về số ngũ cốc đã thâu hoạch được: họ đã báo cáo là số lúa giống là một phần thì thâu hoạch được 10 phần số thóc lúa thâu hoạch được. Họ đã kết luận là vào năm đầu tiên sau ngày giải phóng, chúng ta đã thâu hoạch được một mùa gọi là "mầu nhiệm" thì không vì một lẽ  gì mà không gia tăng thâu hoạch gấp hai lần trong năm sắp đến. Họ đã bắt chúng tôi phải ký tên vào một "khế ước mục tiêu" cam kết sẽ gia tăng sản xuất cho mỗi mùa là 20%.

Cũng như đã xảy ra cho toàn nước Trung Hoa, các kế hoạch dẫn thủy và tiêu thoát nước, các kế hoạch xấu không phù hạp với các tiêu chuẩn kỹ thuật cùng với việc bác bỏ dùng các chất phân hữu cơ vì các cánh đồng đã hết chất màu ngay sau năm đầu tiên. Nếu thực thi việc luân canh cộng với việc dùng phân hữu cơ thì có thể thâu hoạch từ 2 đến 3 vụ mùa ngũ cốc. Các người cán bộ đã từ khước việc "lấy nước" để tưới từ các ao và hồ, coi là việc vô ích, và trông vào nguồn nước của "tuyết tan ra." Đã có việc canh tân các lưỡi cày bằng thép thay cho các lưỡi cày bằng gỗ và việc này đã đạt được kết quả tốt. Về tuyên truyền thì họ đã reo mừng về việc thành công sử dụng và phổ biến loại lúa thích ứng cho vùng đất cao độ ở trên các núi cao, cùng với vài loại "mễ cốc khác."

Vào năm 1959, sản xuất mễ cốc loại của vùng Tự Trị Tây Tạng đã gia tăng phù du nhưng liền sau đã giảm xuống. Một chế độ hạn chế đã được ban hành: theo như sự nhận định của dân Tây Tạng thì số lượng lương thực chỉ còn có 1/3 của số lương thực bình thường. Như ông Dawa Norbu đã mô tả các chi tiết: "Một người công nhân mỗi tháng được phân phối mười kilô Tsampa, 250 gr bơ hay dầu, một ít muối và nửa bánh trà uống. Chỉ có trà là đủ dùng, tất cả số lương thực còn lại chỉ đủ để sống "cầm hơi." Các người già và các trẻ em thì chỉ nhận được một số lương thực ít hơn.

Các cư dân ở các thành phố chỉ nhận được cho mỗi tháng một phiếu cung cấp lương thực cho mỗi cá nhân 7 kilô lương thực cho mỗi người, một số lượng quá ít ỏi cũng giống như số lượng của mỗi người tù nhân. Bởi vậy, như bản phúc trình đã mô tả: "Người ta đã ăn thịt các con mèo, các con chó, các con sâu bọ. Đã có các người cha mẹ đã trích máu của mình để hòa vào các bát cháo (Tsampa) để cho các người còn quá yếu có cái ăn hầu để chống lại Đói. Đã có nhiều trẻ em đã phải bỏ nhà để đi ăn xin, dài trên các đường lộ. Các người già đã đi lên các núi cao để mau được chết. Đã có nhiều ngàn người dân Tây Tạng đã phải lén lút tìm các đống rác của các người dân Hán thải ra để nuôi các con lợn, mỗi nơi cư ngụ của người Hán đều có một chuồng heo. Các người dân Tây Tạng cư ngụ gần các nơi trú quân của Quân Đội Nhân Dân Giải Phóng, các người dân này thường đến lấy các "cứt ngựa" mong tìm được các hạt lúa (ở trong phân ngựa) không tiêu hóa hầu để nuôi các con gà.

Bất cứ người nào nói đến việc khan hiếm lương thực, người này sẽ bị kết tội là "kẻ thù của xã hội chủ nghĩa" và sẽ bị trừng phạt ngay. Các người dân Tây Tạng sinh sống ở trong Vùng Tự Trị phải chịu đựng thêm một gánh nặng là phải nuôi ăn 200.000 quân nhân cộng với 100.000 người thường dân Hán. Những người thường dân Hán này đều được cấp phát các phiếu cung cấp ở các kho của Nhà Nước. Tuy vậy, đã có các người dân Tây Tạng đã đối thoại với chúng tôi và đã cho chúng tôi biết là các người Hán này cũng đã phải ăn các loại cỏ và các lá cây và ở các người Hán này, gương mặt họ cũng sưng phù lên và chân của họ cũng chịu phù thủng. Cũng như đã từng xảy ra ở các vùng khác, các người dân Tây Tạng đã tận mắt trông thấy các thóc lúa của họ đã bị trưng dụng và được coi là "tài sản ái quốc." Một phần các thóc lúa này được chuyên chở về Trung Hoa với danh nghĩa "chuẩn bị cho chiến tranh." Người ta đã nói với chúng tôi là chiến tranh với Liên Sô hay là với Mỹ quốc sẽ xảy ra trong một ngày gần đây. Một phần khác các thóc lúa này đã được đem bán cho các người công chức Hán và gia đình của các người này. Không chắc là các thóc lúa này được chuyển về Trung Hoa; có thể là các thóc lúa này đã được tồn trữ tại các gian hầm hầu để có các dự trữ cho một cuộc chiến tranh (sẽ không xảy ra). Cũng có thể là ở trong trường hợp này, các thóc lúa này sẽ hư hỏng đi và không phục vụ cho ai. Vài người dân Tây Tạng đã nói là số thóc lúa này đã được đưa qua Liên Sô hầu để trao đổi để được nhận một viện trợ về kỹ thuật để Trung Hoa có thể thực hiện một cuộc nổ về nguyên tử đầu tiên tại tỉnh Qinghai. Cũng có thể chấp nhận việc có sự liên hệ giữa việc khan hiếm lương thực với các cố gắng mãnh liệt để sản xuất một quả bom nguyên tử. Đã có nhiều người Tây Tạng là tù nhân được đưa đi phục vụ việc xây cất một trung tâm nghiên cứu nguyên tử tại vùng hồ Kokonor ở Qinghai; các tù nhân Tây Tạng khác đã được đưa đi xây dựng các đường hỏa xa, các đường lộ và các hầm mỏ có liên hệ với "liên hiệp công nghiệp" chế tạo bom nguyên tử này, cũng như các chuẩn bị khác cho một cuộc chiến nguyên tử mà Mao đã tiên liệu sẽ xảy ra với Liên Bang Sô Viết.

Ở trong Vùng Tự Trị Tây Tạng, các trại lao động đã có một số tử xuất về các lao công rất cao. Ở trong khám đường tại Drapchi, ở ngoại ô của thủ đô Lhassa, trên số 17.000 tù nhân thì đã có 14.000 người đã chết trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 1960 cho đến tháng 6 năm 1961, theo lời của một người tù nhân đã sống sót. Lời của người chứng này đã được hai vị tu sĩ lạt ma xác nhận, hai vị tu sĩ này đã trốn thoát được sang Ấn Độ vào cuối năm 1961 và đã thêm vào: Hai phần ba (2/3) các tù nhân đã chết, mỗi ngày từ trong trại đã có nhiều chiếc xe chở các thử thi đưa vào các lò thiêu xác người hoặc dùng các tử thi này làm phân bón hữu cơ để bón cho các thửa ruộng. Được biết là đã có lệnh cấm không được nói là các tù nhân này đã chết vì Đói. Người nào bị bắt vì đã vi phạm vào điều này sẽ bị trừng phạt nặng nề.

Đối với các người dân còn lại sinh sống trong Vùng Tự Trị này, các người đối thoại với chúng tôi đã đồng xác nhận là số tử xuất đã là 10% vì nạn đói xảy ra trong thời gian thi hành chính sách Bước Nhảy Vọt lớn về phía trước, và có thể là số tử xuất đã lên đến 15%. Về sau vẫn còn có nhiều người vẫn tiếp tục chết vì Đói. Vào giữa các năm của thập niên 1965, các người cầm quyền Vùng Tự Trị đã bắt đầu cưỡng bách phải thành lập các công xã. Công xã đầu tiên đã được khai trương tại hạt Damzhung vào năm 1955. Khi xảy ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa đã làm chậm lại việc bành trướng các công xã, và đến năm 1970, người ta có thể xác nhận là toàn thể các người nông dân và các người dân du mục đã được tổ chức đoàn ngũ hóa thành các hội đoàn. Và cũng là cùng với thời điểm này đã đưa đến cao độ phong trào học tập "noi gương của Dazhai." Người lãnh đạo công xã Dazhai, tọa trong tỉnh Shanxi, là ông Chen Yonggui đã đi khắp nơi ở xứ Tây Tạng để tuyên truyền cho các thành tích đạt được của công xã này và sẽ là gương mẫu cho các người dân Tây Tạng, như đã được tóm tắt qua các biểu ngữ của thời điểm này: "Các người dân du mục cần phải học tập Cờ Đỏ, các người nông dân cần phải học tập Nyemo. Toàn xứ Tây Tạng phải học tập gương mẫu Dazhai."

Cờ Đỏ là tên một công xã gương mẫu tập họp các người dân du mục ở trong tổng Nagchu, tọa tại Đông Bắc của thủ đô Lhassa. Công xã Nyemo tọa tại hạt Lhuntse, cách Đông Bắc Lhassa 400 kilô mét là công xã gương mẫu cho các người nông dân Tây Tạng; viên bí thư địa phương của Đảng tên Rigzin Wangyal là con người "sao lại nguyên bản" của Chen Yonggui. Các người dân Tây Tạng đã bắt buộc phải thực hành công tác lao động để trồng tỉa trên các sườn núi các "ruộng lúa bậc thang" trên một qui mô lớn cùng với các kỹ thuật tiêu tưới nước giống như đã được thực hiện tại tỉnh Shanxi. Tại tỉnh Shanxi là loại "đất loess" (lót) cho phép tạo các "ruộng lúa bậc thang", nhưng các người dân Tây Tạng đã phải lao động như các người nô lệ, làm việc 12 giờ liên tục trong một ngày để có thể thực hiện được việc tạo dựng được các bậc thang này trên các sườn núi có nhiều tảng đá này, và sau đến họ còn phải cực nhọc gánh nước cần thiết từ dưới thấp lên sườn cao để tưới các loại cây trồng. Vì thiếu ăn, các người nông dân đã chết vì kiệt lực, nếu họ không bị đánh đến chết trong các buổi tập họp công khai chỉ trích và phê bình, vì đã không đạt được số lượng công tác đã được chỉ định trước (cô ta - quô ta). Một trong các nguồn tin của chúng tôi đã cho biết là tại công xã Nyemo đã có 30% dân số đã "ngã gục" ở trong các trường hợp này. Vào lúc khởi đầu, quan niệm tạo dựng các "ruộng lúa bậc thang" là một việc điên rồ thuần túy. Trong thời Bước Nhảy Vọt lớn đã được thử nghiệm tại các vùng núi cao hơn 4.000 mét ở tại vùng núi cao ở Qilian, ở ven tỉnh Gansu và cũng đã được thử nghiệm tại tỉnh Qinghai, tất cả đều thất bại và đã được bãi bỏ từ đó.

Đối với các người dân du mục của vùng tự trị  Tây Tạng, việc thành lập các công xã là một tai họa lớn: các người du mục Tây Tạng đã ở vào cùng với tình trạng của các người Goloks, mười năm về trước. Một người cựu công chức tại chức ở vùng Tây của xứ Tây Tạng đã miêu tả sự điên rồ này:

"Người ta đã cưỡng bách phải trồng trên các cánh đồng cỏ ở trên núi. Các người cao niên và các người trẻ tuổi đều phải ra sức kéo các chiếc cày đất vì loại trâu (yak) đã không được tập luyện để kéo cày, cùng với việc cày bừa các cánh đồng. Người ta đã bắt buộc các người dân du mục phải xây dựng các bức tường bằng đá cao 1,50 mét để bảo vệ cho các cánh đồng và các trại trồng tỉa chống lại các con thú hoang dã và chống lại các cơn gió. Lẽ tất nhiên là chỉ 2 hay 3 ngày sau khi xây xong các bức tường này thì các bức tường này lại đổ sập. Trên cao độ 700 mét cao hơn mặt biển, không bao giờ lại có việc trồng lúa mì, người ta đã cho trồng lúa đại mạch hợp với độ cao. Dù người ta đã trồng loại lúa đại mạch này, đã gieo 40 kilô lúa giống cho mỗi "Mu" (diện tích khoảng 650 mét vuông) nhưng đến mùa gặt hái thì không thâu hoạch được đến 1 kilô cho mỗi Mu. Các người công chức đã bị bắt buộc phải làm như vậy vì không thể làm ngược các chỉ thị của Mao. Các vụ thử nghiệm trồng tỉa theo lối này mãi đến các năm 1978 và 1979 mới được bãi bỏ, nhưng một số lớn đồng cỏ ở trên các triền núi đã bị tàn phá.

Trong sách xứ Tây Tạng mới, ông Dorje Gashi đã xác nhận là trong bốn năm liên tục, những người dân Tây Tạng chỉ có một lần thật sự cho tên của một mùa thâu hoạch lúa đại mạch cùng với số lúa thâu hoạch. Vào các thời gian khác, 80% các lúa trồng ở các nơi khác đã bị sức đông giá của mùa Đông tiêu hủy hết.

Các đàn trâu yak được tập thể hóa và các đàn này cũng "biến mất" vì người ta đã ngăn cấm các người dân du mục không được cho di chuyển các đàn trâu này về các cánh đồng cỏ mùa Hè, hay là về các nơi còn cỏ vào mùa Đông. Vì vậy gây ra việc khan hiếm chất sữa, bơ, phó mát và thịt. Các nhà cầm quyền cũng nghiêm cấm không cho săn bắt các dã thú, dù đó là theo truyền thống là một nguồn lợi tức và cung cấp thịt. Cũng giống như một trong các nguồn tin cung cấp cho chúng tôi: "Hiếm hoi chúng tôi mới thấy được một miếng thịt, với lý do theo sự suy luận biện chứng pháp: khi giết các gia súc, các anh đã ngăn chận các gia súc lao động và sinh sản ra: như vậy các anh đã làm hại cho nền kinh tế Nhà Nước, vậy anh là một người phá hoại, chống lại tinh thần ái quốc. Mỗi một con súc vật phải đăng ký và mỗi khi muốn "hạ thịt" một con trâu, bò hay dê thì phải xin phép ở văn phòng quận trưởng." Tổng số các con vật đã giảm liên tục, nhưng các vị công chức phải luôn luôn phúc trình là số gia súc vẫn gia tăng, đây là lời của một người cựu công chức đã nói với chúng tôi. Đã có nhiều người dân du mục đã chết không phải vì đói mà vì sự lạnh giá quá độ. Các người dân du mục này không còn có được các bộ lông của con yak để làm các chiếc lều cổ truyền để làm chỗ "trú lánh" các cơn gió lạnh mùa Đông. Và trong hoàn cảnh và trường hợp này, các người Trung Hoa đã bắt chước các chính sách "ngông khùng" của các người Sô Viết: họ đã cho lai giống giữa một con trừu "thô cục" sống ở vùng núi Tây Tạng với một con trừu sống ở vùng đồng bằng của xứ Ukraine. Họ đã giả định là con trừu, do việc lai giống này sinh ra, sẽ có được chất len nhiều và dày hơn, nhưng các con trừu lai giống này đã không sống được trong mùa Đông đầu tiên.

Vì nạn đói đã lan rộng cùng với sự tuyệt vọng đã khiến cho các người nông dân nổi loạn, thường xảy ra ở các vùng thôn quê thuộc Vùng Tự Trị Tây Tạng. Tại một nơi tên Nyima, tọa tại 80 kilô mét Tây Bắc của thủ đô Lhassa, một vị nữ tu sĩ tu kín tên Ani Trinly Choedon đã đứng lên lãnh đạo một cuộc nổi loạn kéo dài 4 tháng trong năm 1969. Quân đội đã được đưa đến để đàn áp cuộc nổi loạn này và đã xảy ra nhiều cuộc  giao tranh dữ dội. Đảng đã ra lệnh hành quyết trước dân chúng tại Lhassa, những người cầm đầu cuộc nổi loạn này cùng với các người nổi loạn khác đến từ khắp mọi nơi. Như vậy, đã có chín người thuộc vào một nhóm tên "Gelo Zogha" (Hội chống lại các người lãnh đạo) đã bị xử bắn. Vào một lần khác, một người đảng viên lão thành tên Ada Chongkok đã bị xử bắn, vì đã phạm các tội khác, vị này đã làm một bài thơ tự chế nhạo việc khan hiếm lương thực.

Không ai có thể hiểu được lòng thù oán kéo dài của người dân Tây Tạng đối với người dân Trung Hoa, nếu các người này không còn trong tâm tư nỗi cay đắng về nạn đói do họ đã gây ra từ mọi cách. Ở một vài nơi cũng có thể nhận định là "một trên bốn" người dân Tây Tạng đã chết, dù là không bao giờ có thể có được một bản thông kê sau cùng về số người đã chết vì Đói. Không một ai đã biết được dân số thật sự của dân Tây Tạng trước khi xảy ra nạn đói, dù là không tính đến cuộc kiểm tra dân số toàn quốc, trừ Vùng Tự Trị Tây Tạng ra, không thực hiện vào các năm 1953 và năm 1964.

Các bản thống kê chính thức về dân số Trung quốc đã "tố cáo" là dân số Tây Tạng đã giảm đi 10% trong khoảng hai niên hiệu này. Theo như bản nghiên cứu của ủy ban về dân tộc với tựa đề: Bốn Mươi Năm Nghiên Cứu về Dân Tộc thì dân số Tây Tạng đã từ 2,78 triệu dân đã giảm còn 2,50 triệu người. Không còn nghi ngờ vì đã có 100.000 dân Tây Tạng đã di tản sang Ấn Độ sau các biến cố năm 1959; nhưng đồng thời cũng phải ghi lại trong trí nhớ là số dân Tây Tạng còn lại cũng đã gia tăng, giống như ở khắp Trung quốc, kể từ năm 1953. Và theo bản nghiên cứu này đã nói rõ là trong khoảng thời gian (1953-1964) các người dân Tây Tạng gốc Mông Cổ đã từ 400.000 người, đã gia tăng lên đến 1,97 triệu người, dù là đã xảy ra nạn đói. Nếu như dân số Tây Tạng cũng phát triển cùng một nhịp độ vào năm 1959 thì sẽ đạt được một dân số là 3,4 triệu người. Nhưng vào năm 1964, dân số Tây Tạng chỉ đạt được 2,5 triệu người, như vậy đã khiếm khuyết mất 900.000 người. Trừ đi con số 100.000 người đã tỵ nạn sang Ấn Độ, người ta có thể suy ra nạn đói cùng với các sự nổi loạn đã đồng chịu trách nhiệm về việc "mất đi" 800.000 người. Vào năm 1962, trong bản phúc trình Đức Ban Thiền Lạt Ma đã nói đến số 3 triệu người. Như vậy đã trở lại con số thiếu hụt là 500.000 người, như vậy đã có là trên 6 người dân thì đã có 1 người chết đi.

Dù là có con số chính xác, bất cứ dưới hình thức nào, các bằng chứng to lớn này về các cấp bậc của "việc chết người" do nạn đói gây ra, đã đem lại "di hại" lâu dài và đáng kể. Cho mãi đến năm 1980, việc tiếp tế lương thực cho xứ Tây Tạng mới được thực hiện. Ông Hu Yao Bang và ông Wan Li, hai ông này thực thi xong việc "cải tổ" cho tỉnh Anhui, đã đến thủ đô Lhassa để thay thế ban lãnh đạo Tây Tạng. Các công xã đã dần dần giải thể và một vài sự tự do tôn giáo đã được thực thi dần dần trong 15 năm kế tiếp. Bắc Kinh đã phải nhìn nhận là hơn một phần tư (1/4) các địa hạt thuộc Vùng Tự Trị Tây Tạng đã không còn khả năng để tự cung lương ăn với quần áo. Một phần ba (1/3) trẻ em đã không được đi đến trường học và 30% dân số Tây Tạng không biết đọc chữ. Trong các năm 1952 đến 1994, mặc dù đã viện trợ kinh tế đến 35 tỷ đồng yuan cho Vùng Tự Trị Tây Tạng, dân Tây Tạng vẫn là sắc tộc thiểu số nghèo hơn tất cả các sắc tộc thiểu số khác của Trung Hoa. Rất lâu ngày sau khi nạn đói đã xảy ra, "tuổi thọ" của dân Tây Tạng vẫn là thấp hơn so với tất cả các nơi khác ở Trung Hoa. Các nhà khoa học đang nghiên cứu để phục hồi các bãi cỏ bị phá hoại để nuôi súc vật. Vào năm 1995, chính phủ đã ước lượng là phải cần 25 năm để xứ Tây Tạng mới có thể theo kịp mức sống của toàn quốc.

Đọc tiếp Phần II - Chương 12 : Trong các trại cưỡng bách lao động

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Truyện Lịch sử

Tủ sách "Vàng"

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 2 February, 2011 22:24