a
 
0
0

Các hồn ma của Mao

Các hồn ma của Mao

Phần I : Trung quốc -
Đất nước của sự đói kém

  1. Trung quốc và nạn đói
  1. Những người khốn
    khổ vì nạn đói -
    Hãy vùng lên !
  1. Nạn đói Soviet
  1. Cuộc Tập thể hoá đầu tiên : 1949 - 1958
  1. Khoa học sai trái -
    Lời hứa giả tạo
  1. Mao không biết nạn
    đói đang xảy ra

Phần II : Nạn đói lớn

  1. Một cái nhìn tổng
    quát về nạn đói
  1. Tỉnh Henan : một sự
    nói dối đầy thảm họa
  1. Hãy bàn về Fengyang
  1. Ở các tỉnh khác
  1. Bức thơ của Đức
    Ban Thiền Lạt Ma
  1. Trong các trại cưỡng bách lao động
  1. Phân tích về sự đói
  1. Lịch sử của việc
    " Ăn thịt người "
  1. Đời sống ở các
    thành phố

Phần III : Một cuộc
dối trá qui mô

  1. Lưu Thiếu Kỳ : Người cứu nguy các nông dân
  1. Cuộc thất bại của
    Mao và các hậu quả
  1. Có bao nhiêu
    người đã chết ?
  1. Làm cách nào bình
    luận tại một nơi ?
  1. Một thất bại
 

a

Mật thư tội ác của
chủ nghiã cộng sản

Phần I : Tàn sát -
Khủng bố - Đàn áp

  1. Nghịch biện và sự
    hiểu lầm cuộc cách mạng tháng Mười
  1. Lực lượng võ trang của chuyên chính vô sản
  1. Khủng bố đỏ
  1. Cuộc chiến bẩn thiủ
  1. Các diễn biến từ Tambov đến nạn đói lớn
  1. Từ cuộc hưu chiến
    đến đoạn quanh lớn
  1. Giải tán quy chế điền chủ và cưỡng bách canh tác tập thể
  1. Nạn đói lớn
  1. Các phần tử xa lạ
    với xã hội và các
    chu kỳ đàn áp
  1. Cuộc khủng bố vĩ
    đại trong những
    năm 1936 - 1938
  1. Đế quốc ngục tù
  1. Mặt trái của cuộc
    chiến thắng
  1. Cao điểm của các khủng hoảng trong các hợp tác xã nông nghiệp
  1. Cuộc âm mưu
    cuối cùng
  1. Giã từ chủ
    nghiã Staline
  1. Kết thúc phần
    nhà Nước chống
    lại nhân dân

Phần II : Cách mạng Thế giới - Nội chiến và khủng bố

  1. Komintern được phát động và các hành
    động của cơ quan này
  1. Bóng đen của cơ
    quan NKVD trên
    lãnh thổ Espagne
  1. Cộng sản và khủng bố
 

a

a

Tết Mậu Thân 1968

a

Đại lộ "Kinh hoàng"
Quảng Trị 1972

a

Tội đồ Hồ Chí Minh

a

Thuyền nhân -
Boat People

a

Cộng sản Quốc Tế

a

Từ thực dân đến cộng sản - Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam

  1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm - Lời giới thiệu của giáo sư P. J. Honey - Lời tựa của tác giả - Sứ mạng lịch sử của dân tộc Việt Nam
  1. Việt Nam trong lịch sử hiện đại - “Bác Hồ”, vị cứu tinh của dân tộc
  1. Cộng sản xuất hiện - Có công mài sắt, có ngày nên kim
  1. Bần cùng hoá toàn dân - "Đấu chính trị" - Danh sách Việt gian
  1. Công tác tư tưởng - Kiểm thảo - Chỉnh huấn
  1. Năm bài học
  1. Đại cương về cải cách ruộng đất - Chiến dịch giảm tô
  1. Cải cách ruộng đất đích thực
  1. Sửa sai - Chống đối chế độ
  1. Con đường thẳng tới cộng sản chủ nghĩa
 

a

a

 

Sáng tác của ký giả Jasper Becker - Dịch giả: Ngọc Nhân

Phần I : Trung quốc - Đất nước của sự đói kém

Chương 1: Trung quốc và nạn đói

 

Việc gì là quan trọng trước hơn mọi việc ? Đó là con người phải có gì để ăn, đó là việc quan trọng hơn cả mọi việc.

            *Lời của ông Chengduxhiu, sáng lập viên đảng cộng sản Trung quốc.

Sau khi một quân đội hùng mạnh đã tiến quân đi qua, các mùa màng đều thất bát.

*Lời của Lão Tử

Trong một ngôi mộ xưa của đời nhà Thương (Shang) là đời đầu tiên của lịch sử Trung quốc từ năm 1480 đến 1050 trước Công Nguyên, nơi ngôi mộ này đã có ghi: "Vì sao đã xảy ra các thảm họa ? Vì đó là Thượng Đế ( Ông Trời ) muốn trừng phạt nhân loại." Các văn khố về lịch sử đã đều ghi lại là Trung quốc là một đất nước của nạn đói và các người dân Trung quốc vẫn luôn luôn thần phục và quy lụy trước quyền lực của các vị vua trị vì "Thiên Tử." Các biên niên sử, các triều đại nối tiếp nhau cai trị nước Trung quốc, đã cho chúng ta được biết về những trận lụt cùng với các nạn hạn hán đã liên tiếp xảy ra ở một địa phận này hay ở một địa phận khác của Đế Quốc này.

Thực vậy, vào các năm của thập niên 1930, các nhà nghiên cứu đã phát giác ra các bằng chứng là từ năm 108 trước Công Nguyên, đã xảy ra 1828 nạn đói to lớn.

Đối với các vị Hoàng Đế trị vì cùng với các quan lại bộ trưởng thì nhiệm vụ và bổn phận của họ là chống lại các nạn lụt và khẩn cầu trời đất làm mưa xuống vào mỗi khi xảy ra nạn hạn hán. Dưới thời nhà Zhou (1122-221) trước Công Nguyên, vị vua đã cho tổ chức các nghi lễ và trong các nghi lễ này đã quẳng xuống sông các cô thiếu nữ để phòng ngừa các trận lụt đừng xảy ra; và nhà vua cũng chủ tọa các buổi lễ tế và có các việc lễ dùng người làm vật hiến sinh trên các lễ đài hầu để làm bớt cơn giận của các thần linh. Vào dưới thời nhà Ming, cách đây khoảng 500 năm, vị hoàng đế phải đi chân không để đến đài của Thượng Đế để cầu nguyện và ngủ đêm tại đây trong 3 ngày với toàn y phục trên thân mình, để cầu đảo hầu xin với Trời làm các cơn mưa cho dân có được nước để làm ruộng. Trong những năm cuối cùng của triều đại nhà Thanh (Qin-1644-1911) vị Hoàng Đế đã ra lệnh cho các vị quan chức ở các địa phương vào mỗi năm phải xây các ngôi chùa và phải đến cầu niệm tại đây. Cho đến thời hiện đại ngày nay, tất cả các việc này cũng ít thay đổi. Vào các năm cuối thập niên 30, các báo chí cũng đã từng tường thuật về các cuộc lễ tế đã diễn ra ở các địa phương với cách hành lễ giống như cách hành lễ của các xã hội "sơ khai" và người ta đã giết các con thú vật như dê, bò hay trâu để cúng các thần linh, để cầu khẩn các vị thần linh hãy làm cho các cơn mưa xuống. Vị tỉnh trưởng tỉnh Hunan (vào thời còn chính phủ quốc gia) đã đến khấn vái ở các ngôi đền chùa và đã ném các bộ xương của các con cọp xuống các chiếc ao hầu cầu con rồng ở Thủy Cung được hài lòng. Vị tỉnh trưởng này cũng cấm nhân dân trong 3 ngày liên tiếp không được giết các súc vật. Chính phủ quốc gia cũng đặc biệt thỉnh vị Ban Thiền Lạt Ma (Panchen Lama) từ Tây Tạng đến để ngài đọc các pho kinh và cầu khẩn để cho được các cơn mưa xuống.

Vị Hoàng Đế, cũng có bổn phận thâu các sắc thuế do các nông dân đóng và thiết lập các kho dự trữ ngũ cốc thặng dư, các kho này được đặt dưới sự quản trị của các vị quan chức. Nếu khi nào xảy ra các nạn đói, nếu các vị quan chức ở địa phương không thực hành đúng các nhiệm vụ hay bổn phận của họ, hay là họ đã bán ra các thóc lúa hay ngũ cốc được dự trữ để thủ lợi cho cá nhân và các người dân đã chết vì đói ăn hay là các người dân mưu toan đi trốn qua các địa phương khác trong nước. Khi các người dân không còn có gì để bán, họ bán luôn các đứa con của họ. Việc ăn thịt người là việc thường xảy ra và cũng thỉnh thoảng xảy ra việc chính cha mẹ ăn thịt của các đứa con của họ. Vào năm 1877 tại tỉnh Shanxi (Sơn Tây) ông Louis Monagata là giám mục đạo cơ đốc, ông này đã viết: "Bây giờ họ đã giết các người còn sống để làm lương thực. Người chồng ăn thịt người vợ. Các cha mẹ ăn thịt cả các đứa con trai và các đứa con gái, và các đứa con cũng ăn cả thịt của người cha và người mẹ."

Vào thế kỷ thứ 19, tại Trung quốc đã xảy ra các nạn đói khủng khiếp, việc này đã làm cho các người dân Âu Châu, đang hiện diện tại đây, phải tin vào sự nhận xét đúng của ông Thomas Malthus: tại Trung quốc, việc dân số gia tăng lên mau hơn việc sản xuất ra lương thực. Các vị giảng viên đại học người Trung quốc đã giải thích việc tăng trưởng là do chính sách của đế chế. Khi các bộ lạc của Mãn Châu thiết lập ra triều đại nhà Thanh, đế chế này đã bãi bỏ loại thuế tính trên mỗi đầu người và thiên về thâu thuế thổ trạch. Vì vậy các hộ gia đình không còn phải lo về việc phải đóng thuế trên con số người của gia đình và vì vậy đã sinh đẻ thêm nhiều đứa con. Việc này đưa đến việc có thêm đất thổ trạch. Hàng năm dân số đã gia tăng đến 2,5%: vào năm 1762, việc kiểm tra dân số đã cho biết dân số Trung quốc có 200 triệu dân, vào năm 1790 dân số đã tăng lên 300 triệu dân và đến năm 1834, dân số đã tăng quá 400 triệu dân.

Việc khủng hoảng này đã xảy ra vì nạn dân số đã gia tăng quá nhiều đã làm đảo lộn trật tự  xã hội Trung quốc và khiến triều đại nhà Thanh gần như sụp đổ. Vào năm 1851, ông Hồng Tú Toàn (Hong Xiu Quan) là một người nông dân, ông này đã tự xưng là "đứa em của đấng Thiên Chúa Christ" các người phiến loạn này đã tự xưng là Thái Bình Thiên Quốc (Tai Ping) và đưa ra các cuộc cải cách xã hội: họ đã chia các phần điền địa của tư nhân và phân chia đồng đều các ruộng đất cho các người dân. Nhờ vào các sự viện trợ của các nước Tây Phương, quân đội của triều đình Mãn Thanh đã thắng được quân đội của Thái Bình Thiên Quốc và tái lập lại được trật tự cho toàn quốc Trung quốc. Nhưng triều đình đã không thể xóa bỏ nạn đói kém và còn trở nên trầm trọng hơn. Vào năm 1876 đã xảy ra 3 năm liên tiếp hạn hán tại miền Bắc của Trung quốc và làm chết 13 triệu người. Mười năm về sau, trận lụt do sông Hoàng Hà gây ra 2 triệu người chết đuối và chết đói vì nước của sông này đã gây lụt lội tàn phá hoa mầu của các ruộng ở vùng phụ cận.

Nhiều người phương Tây đã nhận định là nạn đói kém là một chiếc van (soupape) xả hơi an toàn tự nhiên để chống lại số dân quá đông, là một cái hại cần thiết. Một người Mỹ tên A.K. Norton, tác giả sách "Nước Trung quốc với các cường quốc" ông Norton đã nhận định là dân số cần phải giảm đi, vì do các cuộc chiến tranh, bệnh truyền nhiểm hay lý do khác không đủ để làm giảm dân số thì cần có các cuộc đói kém để làm việc này. Và đây đúng là sự thật để giải quyết vấn đề của Trung quốc.

Triều đại Mãn Thanh đang cai trị Trung quốc đã cho phép các người dân được di cư ra các nước ngoài hay đến định cư tại các xứ Nội Mông hay Mãn Châu. Cho đến mực độ này vì đã đạt được sự chấp thuận của các người Mông Cổ là đồng minh, các người Mông Cổ đã từ lâu cấm người Trung quốc chính gốc đến khai phá các vùng đồng cỏ thưa dân của người Mông. Vào đầu thế kỷ 20, nhiều triệu người nông dân Trung quốc đã vượt qua Vạn Lý Trường Thành để định cư tại Mãn Châu và tại Nội Mông cùng với nhiều nơi khác. Chính sách đi khai phá ở các nơi này đã được sự hỗ trợ của các nước phương Tây và đã tạo sự dễ dàng để thiết lập các cục đường sắt dùng cho xe hỏa nối liền các địa phương ở trung tâm nước Trung quốc.

Việc đưa nhập từ Mỹ Châu vào Trung quốc các loại cây lương thực đã tạo nên sự dễ dàng để khai thác các vùng đất mới của Trung quốc mà từ trước đã bị xao lãng. Bắp ngô, đậu phọng và khoai lang ngọt đã được thích nghi với thủy thổ của các vùng đất gồ ghề và chất đất xấu, cho phép người dân tự bảo đảm sự sống ở các nơi mà về trước không sản xuất được gì. Nhưng các thu hoạch về các loại cây lương thực này thường là phù du. Việc đa canh thường làm giảm sự màu mở của đất và thường đưa đến các vụ mùa xấu làm thất thu. Vào năm 1941, một du khách người Âu, ông Graham Peck đã thuật lại các điều ông đã trông thấy tại tỉnh Shaanxi (Sơn Tây) ở tại Tây Bắc:

Vùng đất đã chết và con người cũng vậy. Các người Âu đầu tiên đã đi qua vùng Shuangshipu vào đầu thế kỷ 19, họ đã thuật lại đây là một vùng hoang dại được bao phủ bởi các khu rừng cây thông, gần như khó đi vào được. Nơi này chỉ có vài trang trại biệt lập nằm dài theo một con sông cuồn cuộn. Đến ngày hôm nay đã có nhiều tiểu trại khai thác lên tận các đỉnh núi. Ngoài các vườn cây ăn trái được cham sóc kỷ lưỡng ở các trang trại; chỉ còn lại các nơi mà việc đi lại hầu như khó có và các cây ăn trái không được chăm sóc. Đã xảy ra ở các triền núi với các lớp đất có thực vật mọc, màu đỏ và vàng, lớp đất này đã bị soi mòn làm trôi đi lớp đất màu mở. Còn lại vài khoảng đất tốt ở các vùng thung lũng cao thì các khoảng đất này lại bị bao phủ bởi các hòn đá cuội lớn và nhỏ gây ra do các trận mưa lớn tầm tã, thường xảy ra vào mùa Hè. Các trận mưa lớn này làm trôi đi các mùa màng và luôn cả lớp đất tốt."

Việc chặt đốn các cây đã diễn ra một cách không mực độ. Ông Peck đã nhận xét xác thực: đó là sự chết mòn của cả một cả một vùng đất, gây ra bởi sự soi mòn mau chóng các lớp đất tốt với tốc độ nước mưa chảy quá mau. Ngày hôm nay, các sự kiện này vẫn còn tồn tại, nước đã chảy đổ vào các con sông lớn hàng ngàn tấn đất bùn phù sa vì vậy có thể làm xảy ra các vụ lụt lớn.

Các người quan sát người Trung quốc và của các nước ngoài cũng như với ông Peck, tất cả đều ghi chép là số người chết quá nhiều, thêm vào số người còn sống, đã làm giảm bớt số diện tích các đất tốt dùng để trồng cây lương thực. Ông Peck đã viết, ở trong vùng này, số người còn sống còn ít hơn số mồ mả của của các người chết và trên các gò đống mà phía dưới các người chết đang an nghỉ và phía trên là các mộ bia hay là nhà thờ cúng được sử dụng để làm thuyên giảm các cơn thịnh nộ của các thần linh. Các nấm mộ mới luôn luôn được chôn giữa các khoảnh ruộng có đất tốt, việc này đã làm giảm đi một diện tích canh tác để nuôi các người còn sống sót. Ông Walter H. Mallory, tổng thơ ký của Ủy Ban Quốc Tế chống lại nạn đói ở Trung quốc và nhiều quan sát viên khác đã đồng nhìn nhận là có nhiều nông dân đã cho việc lìa bỏ vùng đất mà tổ tiên họ đã từng sinh sống, đối với họ, việc này là ghê tởm vì họ có bổn phận là phải ở lại để săn sóc mồ mả của tổ tiên họ.

Vào đầu thế kỷ 20, các người Âu đã từng đi du lịch ở khắp vùng của Trung quốc, các người này đã cảm thấy có các quan hệ đối với việc đấu tranh chống lại nạn đói. Vào năm 1920, một nạn đói lớn đã xảy ra tại tỉnh Gansu (Kan Su) và ở tỉnh Shanxi (Sơn Tây), các giáo sĩ người Tây phương đã đưa ra  thành lập một ý kiến thành lập một Ủy Ban Quốc Tế chống lại nạn đói tại Trung quốc và họ đã quyên được nhiều tiền tại Trung quốc và ở các nước ngoại. Cũng cùng vào thời điểm này, ông Woodrow Wilson, tổng thống Mỹ quốc đã cho thành lập một Ủy Ban Mỹ quốc chống lại nạn đói. Lãnh đạo ủy ban này là ông Thomas Lamont, một chủ nhân ngân hàng rất lỗi lạc, ông này đã quyên được 4,6 triệu đôla tại nước Mỹ. Tổng số tiền đã quyên được đã lên đến 37 triệu đồng tiền đôla Mễ Tây Cơ, tiền của xứ Mễ được dùng làm đơn vị hối đoái vào thời đó, trong việc giao thương với Trung quốc. Ủy Ban Quốc Tế chống nạn đói đã ước lượng là các cố gắng này đã vượt qua xa các sự mong ước của ủy ban vì trong số 9.500.000 nạn nhân được cứu đói, chỉ có 500.000 đã chết vì kiệt sức.

Tuy vậy nạn đói vẫn tiếp tục diễn ra. Ông M.H. Hutton đã viết lại trong nhậy ký về chuyến đi của ông vào năm 1924 khi ông đi từ tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan) đến tỉnh Quý Châu (Guizhou): Các trường hợp làm xảy ra nạn đói đã làm đau lòng, các con chó đã ăn thịt các xác người chết. Ở tất cả mọi nơi đều có hàng ngàn bộ xương người phơi ngoài trời. Trong lúc chúng tôi tiến bước trên đường đi, các người khiêng chiếc "cáng" của tôi đã phải bước qua các xác người gục chết trên đường đi. Một trong các hình ảnh bi thảm đã diễn ra: một nữ nạn nhân đáng thương đang quỳ gối trước một ngôi nhà thờ và người nữ này cũng đã chết. Đã có rất nhiều người, ở đầu thế kỷ này, đã chú ý đến tình hình ở Trung quốc, và họ đã là chứng nhân của nạn đói và nạn đói này đã trở thành một cuộc từng trải được coi là quyết định. Ông Edgar Snow là ký giả người Mỹ là một trong các người chứng nhân, và ông này đã lần đầu tiên phỏng vấn Mao Trạch Đông tại cứ điểm ở Diên An (Yan An), một vùng thuộc tỉnh Sơn Tây (Shanxi) đang bị nạn đói tàn phá. Do một sự trớ trêu của định mạng, vào năm 1960, ông Snow đã trở lại Trung quốc trong lúc diễn ra Bước Nhảy Vọt lớn, và trong dịp này ông Snow đã viết là trong năm 1960 ở Trung quốc không hề có xảy ra nạn đói làm chết người.Trong năm 1927, khi nạn đói đang diễn ra tại vùng Đông-Bắc nước Trung quốc và nạn đói này đã gây ra đau khổ cho 60 triệu người, ông Snow đã đi với một người bạn đồng hành là ông Rewi Alley, người nước Tân Tây Lan (New Zealand), ông Alley đã ở lại Trung quốc và trở thành một tên a tòng (cò mồi) của Mao. Vào thời điểm này, ông Snow đã mô tả trong một bài viết rất là cảm động về các sự kiện đã xảy ra mà ông Snow đã tận mắt trông thấy:

"Anh có bao giờ trông thấy một người - một con người can đảm và cần cù làm việc nặng nhọc suốt cả đời, đó là một người công dân đáng quý, biết tôn trọng luật pháp và cũng không bao giờ làm hại ai cả. Về sau suốt cả tháng trời con người này không hề có gì để ăn ? Đây là một cảnh tượng quá ác không chịu nổi. Các lớp da của người này đã teo lại và treo lủng lẵng vào thân mình; và người ta đã trông thấy rõ ràng các khớp xương người. Đôi mắt của người này đã ngó trừng trừng nhưng chả trông thấy gì cả và dù người này chỉ có độ 20 tuổi đời nhưng người này đã đi đứng như một cụ già để đi từ một chỗ này đến một chỗ khác. Nếu nói là người này có được một sự may mắn là từ lâu người này đã bán người vợ và cả người con gái. Người này đã bán tất cả các thứ gì mà người này đã có - luôn cả các sườn bằng gỗ của nóc nhà và tất cả quần áo mà người này đã có. Trên thực trạng, người này một đôi khi cũng bán luôn cả các quần áo rách để che thân. Người này không còn gì cả trên thân mình và đang đứng dưới ánh mặt trời nóng bức, các "hòn dái" treo lủng lẳng giống như các trái cây khô treo trên cành cây, giống như là trò khôi hài cuối cùng để nhắc lại cho các anh là trước kia người nạn nhân khốn nạn này đã từng là một con người.

Nhìn vào các đứa trẻ con thì lại càng làm động lòng trắc ẩn và thương xót vì các bộ xương nhỏ bé đã bị "méo mó" và nghiêng về phía trước, các cánh tay của các em này giống như các que củi, bụng của các em đã tím bầm vì các em đã ăn các vỏ cây và các mạt cưa, các thức ăn này đã làm nổi lên các chỗ sưng. Các người phụ nữ đã quá suy yếu và đang ngồi ở các góc nhà, chờ đợi thần chết đến đón họ. Mông đít của các người phụ nữ này đã trở thành đen và nhô ra giống như các lưỡi dao và đôi vú của họ đã giống như các chiếc bao nhỏ đã xẹp hết hơi. Nhưng sau tất cả mọi nơi, không còn có nhiều phụ nữ và em gái. Phần lớn đã chết rồi hay đã bị bán đi.

Tôi không muốn bi thảm hóa sự ghê tởm này. Đó là những gì mà chính đôi mắt tôi đã từng trông thấy và tôi không bao giờ quên được. Hàng triệu người đã chết đói như vậy và nhiều chục ngàn người cũng sẽ chết đói như vậy ở Trung quốc. Tôi đã gặp các xác người chết còn nóng ở trên các đường phố ở Saratsi, và ở các làng mạc tôi đã thấy các ngôi mộ đào không sâu, nơi này cả chục người đã chết vì đói hay là vì bệnh tật được chôn chung một chỗ. Nhưng sau hết đó không phải là chướng nghịch. Việc chướng nghịch hơn cả là ở các thành phố còn có các người giàu có nhiều của cải, các người này tích trữ gạo và sữa, các người cho vay tiền hay là các địa chủ, họ có các toán người võ trang bảo vệ cho họ và họ đã thủ lợi rất nhiều trên sự thiếu ăn và chết đói của các nạn nhân xấu số. Việc làm chướng mắt và chướng nghịch hơn cả là ở các thành phố các người công chức vẫn vui đùa và khiêu vũ với các ca nhi, tại các thành phố này có các thức ăn và lúa từ nhiều tháng."

Ông Snow đã ước lượng là nạn đói đã làm chết từ 3 đến 6 triệu nạn nhân. Từ nơi mọi người, việc trông thấy các người đang bị cơn đói hành hạ là một việc ghê tởm nhưng cũng có thêm nhiều việc ghê tởm khác, đó là việc đã xuất hiện tại các ngôi chợ các gian hàng bán thịt người. Người ta bán các đứa con trai nói là để mua làm con nuôi. Các trẻ em gái thì bị bán để đem về làm vợ hay làm hầu thiếp, làm nô lệ hay là để làm mãi dâm. Vào năm 1927, tại Bắc Kinh đã có một bản phúc trình của Ủy Ban Quốc Tế chống lại nạn đói, bản phúc trình này đã xác nhận là ở nhiều hạt hay vùng đã có xảy ra  việc hàng nhiều ngàn trẻ em đã được đem ra bán khi xảy ra nạn đói. Tại thành phố Shijianhuang, thành phố này tọa tại Tây Nam của thủ đô Bắc Kinh, đã trở thành trung tâm lớn mua bán trẻ em. Một người chuyên môn đã từng có kinh nghiệm đã nói về sự tương phản về việc đã có một đoàn goong xe hỏa chở đi các lương thực để cứu đói thì lại có một đoàn goong xe hỏa khác chở đến các thiếu nữ được mua từ các nơi ở vùng quê, được đưa xuống sân nhà ga. Một bài viết khác của ông Walter H. Mallory đã mô tả về các người nông dân đang bị đói và các người này đã ăn gì: "Một loại bột do từ lá cây xay ra, ăn với đất sét để nén dạ, các loại hột của các loại hoa, các nụ lá của cây liễu, các cùi của bắp ngô, một loại các viên cỏ được hấp chín được gọi tên là hongqing, các mạt cưa, các loại cây có gai thuộc loại cúc, các quả mọng của các cây có độc tố, vỏ của lúa miến (bo bo), hột của bông vải, vỏ của cây du, các chiếc bánh làm bằng các hột, các thân lá của loại khoai lang…

Các người giám định người Trung quốc cũng như người nước ngoài đã đều đồng thuận về việc muốn tránh nạn đói đừng xảy ra lâu ngày, việc cần phải làm là phát triển hệ thống đường lộ giao thông. Tại Ấn Độ, các người Anh quốc cai trị xứ này đã đạt được việc "bóp tắt" nạn đói mang dịch kỳ ở địa phương. Như đã được viết trên "Nhật Báo Hoàng Gia Ấn Độ": Thành quả của 20 năm vừa qua về vấn đề hành chính của nước này là việc gia tăng hệ thống đường lộ giao thông. Các đường sắt cho xe hỏa đã làm thay đổi vấn đề vận chuyển hàng hóa. Bóng ma của nạn đói toàn diện về việc thiếu hụt lương thực đã biến mất. Tại Trung quốc, việc bi thảm là hệ thống đường sắt đã kém phát triển nhiều so với Ấn Độ. Nếu có một vùng sản xuất thặng dư lương thực trong khi đó thì ở một vùng khác thì lại bị nạn đói hoành hành, việc khó khăn là không có phương tiện để chuyên chở lương thực từ một vùng này đến một vùng khác. Tuy vậy, và năm 1925 đã có một bản phúc trình của Ủy Ban Quốc Tế: "Trong một nước Trung quốc quá rộng lớn với sự cách biệt về khí hậu của mỗi vùng, việc có thể xảy ra là mùa màng thâu hoạch khó có thể xấu ở tất cả mọi nơi và cùng một lúc. Dù là 4 hay 5 tỉnh mất mùa, cũng còn 17 hay 18 tỉnh khác, việc thâu hoạch ngũ cốc vẫn diễn ra như thường và đương nhiên là có vài tỉnh vẫn có được số lượng thặng dư về ngũ cốc.

Trong quá khứ đã có nhiều triều đại vua đã cố gắng giải quyết về vấn đề chuyển vận lương thực; như việc đào con sông đào Lớn, để dùng thuyền chuyên chở lúa từ phía Nam lên phía Bắc. Các con sông lớn cũng được dùng để vận tải thóc đi khắp nơi trong nước. Nhưng một phần lớn của các vùng vẫn phải dùng sức người để vận chuyển lương thực. Các trâu bò là các vật quý để dùng vào việc chuyên chở. Trong các năm thuộc thập niên 1920, nước Trung quốc có diện tích rộng lớn so với nước Mỹ mà Trung quốc chỉ có 3.000 kilô mét đường lộ. Hàng hóa và các người hành khách đều được di chuyển do sức người, sức của các người được gọi tên là "coolie" (cu li), họ đi trên các đường đất chật hẹp và bất chấp về địa thế của đồi núi và việc đi lại cần rất nhiều thời giờ. Một ký giả đã tính là nếu có một người nông dân ở sâu trong lục địa, người này cho không lúa của họ cho một nhà máy ở Shanghai, thì giá tiền vận chuyển còn cao hơn là giá mua lúa từ Mỹ quốc, dù là phải chuyên chở qua một đại dương vẩn còn ít tốn kém hơn.

Triều đại nhà Thanh (Qing) không thích cho các công ty nước ngoài xây dựng các đường sắt cho xe hỏa trên đất Trung quốc; đến khi triều đại này sụp đổ thì nước Cộng Hòa trẻ trung này lại không được ổn định và đã không có được tiền bạc để trợ cấp cho việc xây dựng các đường lộ lớn hay các đường sắt. Ngoại trừ các thung lũng của các con sông lớn và các vùng đồng bằng ở duyên hải, phần lớn các vùng nằm sâu trong lục địa thì lại có nhiều núi, việc này khiến việc xây dựng đường lộ tốn rất nhiều công và của. Thêm vào việc giao thông cũng không có được công hiệu, không thể nghĩ đến việc thiết lập một thị trường cho lúa và lương thực. Các người nông dân khi họ thành công trong việc sản xuất ra lương thực, họ đã phải thua thiệt vì hệ thống này. Các giá cả đã thay đổi một cách "man rợ" và hầu như tất cả các người sản xuất đều là sản xuất nhỏ, vốn liếng của họ có rất khiêm nhượng và họ không có thể vay được tiền với một lãi xuất nhỏ ít. Người nông dân đã phải bị bắt buộc bán ngay các hoa lợi thâu hoạch ngay sau ngày gặt hái, và vào lúc này thì giá nông sản lại thấp vì mọi người đều đem ra bán. Trong khi đó thì các thương gia có thể giữ tồn kho các nông sản và bán ra khi được giá cao. Để có lương thực để ăn trong lúc giáp hạt (giao mùa) từ lúc gieo cấy cho đến lúc hái gặt, các người nông dân thường phải vay mượn tiền. Các đại địa chủ ở địa phương và các nhân viên của họ đã cho vay với mức tiền lời là 60% và phải "cầm thế" bằng đất ruộng, từ 30% nếu là vay bằng tiền và 50% nếu vay bằng hạt lúa. Phần lớn các nông dân là các người mắc nợ thường xuyên. Cũng như ông John Ridley là thông tín viên của nhật báo Daily Telegraph, đã viết: "Người nông dân Trung quốc, tính trung bình chỉ sống nhờ vào khoảng đất từ 100 đến 200 mét vuông. Một phân nửa của thâu hoạch thuộc về người chủ đất hay ruộng. Việc giao thông xấu và kém đã làm khó khăn cho việc làm cho thị trường rộng lớn ra thêm. Nguời nông dân không có được một động cơ cá nhân nào để canh tác thêm diện tích canh tác vì họ không bán ra được các hoa màu thặng dư. Các lối chuyên chở vẫn còn thô sơ: như xe do bò hay con la đực kéo và có khi do người gồng gánh, việc này lại chậm chạp và giá quá cao so với xe hỏa.

Việc các nạn đói gây chết người là chủ đề của các sự nghiên cứu về đời sống của các người nông dân. Giáo sư John Lossing Buck, một giảng viên đại học người Mỹ, đã thành lập một toán nghiên cứu viên tại đại học đường Nam Kinh (Nanking) và các vị này đã công bố các bản điều tra trình bày kỹ các chi tiết về nền canh nông của Trung quốc. Bà Pearl S. Buck là phu nhân của ông John Lossing Buck đã nhận được giải Nobel về văn chương và các giải văn chương khác với tác phẩm của bà tựa "Đất đai Trung quốc" thuật về đời sống hàng ngày của một người nông dân ở An Huy (Anhui) và người nông dân đã phải bỏ đất để đi xa vì nạn hạn hán và nạn đói. Các nhà nghiên cứu đã nhận định là nạn đói đã không phải là xảy ra có định kỳ, mà đó là việc có thường xuyên hàng ngày của nhiều triệu người. Trong tác phẩm về Đất đai và công tác tại Trung quốc của tác giả R.H. Tawney được xuất bản vào năm 1932, đã ghi là đã có ở nhiều nơi và địa hạt mà các người dân ở thôn quê đã phải chịu đựng cảnh của một người mà nước ngập đến ngang cổ họng và chỉ cần có một làn sóng nhỏ cũng gây cho người này phải chết đuối. Một người văn sĩ khác, ông A.K. Norton đã cố gắng đưa ra các con số:

"Người ta ước lượng là có 30 triệu người Trung quốc đang ở trong tình trạng được sống còn (sau khi các người khác đã chết) và các người này chỉ có được các khẩu phần hàng ngày dưới con số tối thiểu cần có của một phần ăn bình thường. Hàng ngày đã có nhiều ngàn người đã chết, tuy vậy, chỉ xảy ra khi nào có các tai ương lớn do thiên nhiên gây ra như nước ngập lụt hay là hạn hán vì các tai trời ách nước này đã tập trung lại hàng triệu người ở trong một vùng, và khi đó người ta nói là nạn đói làm chết người đã xảy ra. Người ta hàng ngày cũng ít nói về nạn đói: và hàng năm đã có ba triệu người chết vì nạn đói vì hoàn cảnh đã không cho phép họ thích nghi với các sự đổi thay của khí hậu, và việc này được coi là bình thường tạo ra sự chết người của một nhóm người trong dân số.

Các người ở phương Tây đã khẳng định là Trung quốc cần phải canh tân và hiện đại hóa nền canh nông để đạt được sự tự túc về lương thực. Một ngàn năm về trước, Trung quốc đã từng là nước tiên phong về canh tác nông nghiệp; ngày hôm nay công tác này được coi là sơ đẳng. Đã có quá nhiều người nông dân vì quá nghèo nên không có tiền để mua trâu hay bò để giúp họ trong việc cày đất và chính sức người phải kéo những chiếc cày. Các chiếc cày bằng gỗ chứ không phải bằng sắt nên luống cày không sâu, chỉ làm trầy mặt đất. Ở một vài vùng, các người nông dân chỉ dùng các chiếc cuốc lưỡi cong bằng gỗ để cuốc đất vì họ đã không có các chiếc cày. Đã có một tác giả đã gọi người nông dân Trung quốc là người anh em sinh đôi với con bò.

Đất cũng mau mất chất màu vì thiếu phân bón và phân bón cũng hiếm có vì đã phải chịu thuế nặng, vì vậy đất đã phải chịu hưu canh. Sau mỗi mùa gặt hái, các người nông dân đã nhổ tất cả các "gốc rạ" để dùng vào việc nấu ăn, vì họ không có củi để đốt hay là than và các người nông dân đã dùng phân người để làm phân bón vào ruộng. Vào giữa thế kỷ 19, các người Anh đi ngược trên con sông đào lớn đã lấy làm ngạc nhiên khi thấy các người nông dân đã đi theo họ để chờ lấy phân: "Vào mỗi khi các người đày tớ hay các người quân nhân rời các chiếc thuyền chở họ, các người nông dân đã theo quấy nhiễu cho đến nơi họ dừng chân để "tiểu tiện" các người nông dân đều có các chiếc rổ để lấy các chất phân dùng để bón vào ruộng.

Vào năm 1949, người ta đã ước tính là một người nông dân canh tác có thể có thặng dư lương thực để nuôi 4 người dân sống ở thành phố; còn tại Trung quốc thì 4 người nông dân canh tác đủ để tự nuôi thân và số lương thực thặng dư chỉ đủ để nuôi một người dân ở thành phố. Nếu nước Trung quốc đạt được sự sản xuất lương thực như người Anh thì nước Trung quốc có thể tự túc được về lương thực. Tất cả các kế hoạch để hiện đại hóa nền canh nông, để hợp lý hóa quyền sở hữu đất đai, việc giải quyết các trục lộ mới và các đường xe hỏa, đào thêm các con sông đào mới cùng đắp các con đê mới, tất cả các kế hoạch này đều thất bại vì sự bất ổn về chính trị.

Vào cuối thế kỷ 10, bà Từ Hi (Cixi) Thái Hậu đã ra lệnh ngưng lại việc canh tân và hiện đại hóa Trung quốc, sợ rằng việc này sẽ làm mở cửa Trung quốc cho các người phương Tây và sự hiện diện này sẽ phá hoại ngấm ngầm quyền uy của triều đình Mãn Thanh. Vào năm 1911, triều đại Mãn Thanh đã bị lật đổ và Trung quốc đã trở thành một nước Cộng Hòa. Nhưng thêm một lần nữa, dịp may để hiện đại hóa đã mất đi vì một viên tướng Cộng Hòa tên Viên Thế Khải (Yuan Shi Kai) đã mưu toan cướp lấy chính quyền để thiết lập một triều đại mới. Vào năm 1916, khi viên tướng này đã qua đời, đã làm nảy sinh ra nhiều viên lãnh tướng chiếm đóng các địa phương khiến chính quyền trung ương đã trở nên bất lực. Vào năm 1928, một chính Đảng đã đoạt được chính quyền, đó là Quốc Dân Đảng (Kou Ming Tan – KMT)

Đảng KMT là một Đảng cách mạng do ông Tôn Dật Tiên (Sun Yat Sen) thành lập với sự hỗ trợ của các người Mát Xít do Moscou cử ra và nguồn gốc của đảng cộng sản Trung quốc (PCC) Đảng Quốc Dân (KMT) có khuynh hướng quốc gia và chống lại đế quốc. Đảng này đã chủ trương thống nhất Trung quốc và cho nhập vào nước này các tư tưởng khoa học và các phương pháp quản trị về chính quyền của các nước ở Tây phương. Khi ông Tôn Dật Tiên từ trần vào năm 1925, tướng Tưởng Giới Thạch (Tchang Kaï Chek) đã lên nắm quyền lãnh đạo Quốc Dân Đảng. Một năm sau, năm 1926, tướng Tưởng Giới Thạch phát động cuộc Bắc Phạt để triệt hạ các vị lãnh chúa vì các người này có thể làm hại uy quyền của chính phủ trung ương. Nhưng chả bao lâu, tướng Tưởng Giới Thạch lại phải lo đối đầu với đảng cộng sản đang bành trướng và đe dọa đến địa vị của tướng Tưởng Giới Thạch và luôn đến chính quyền trung ương. Vào lúc đầu, đảng cộng sản hợp tác với chính quyền trung ương nhưng về sau lại chống lại.

Lénin đã nghĩ rằng muốn trở thành cộng sản thì Trung quốc không cần có một cuộc cách mạng tư sản, nhưng sau khi Lénin đã chết thì các người cộng sản lại chọn một đường hướng khác. Vào năm 1927, các người cộng sản đã phát động nhiều cuộc nổi loạn ở các vùng thôn quê và ở các thành phố; chính quyền Quốc Dân Đảng đã chống lại các người cộng sản bằng cách phá hủy các tổ chức cộng sản ở tại các thành phố và đặc biệt là ở Thượng Hải (Shanghai). Và từ đây phong trào cộng sản chỉ còn ảnh hưởng ở các vùng thôn quê và họ đã kiểm soát các vùng có nhiều ngọn núi và thành lập tại đây các ủy ban Sô Viết, thường là nằm giáp ranh của hai tỉnh. Vào năm 1930, tướng Tưởng Giới Thạch đã phát động một chiến dịch lớn để tiểu trừ các vùng do cộng sản chiếm đóng và đến năm 1934 đã bao vây được cứ điểm chính của cộng sản, bắt buộc các người cộng sản phải tháo chạy về sau, mô tả trong bài tường thuật nổi tiếng: Cuộc Vạn Lý Trường Chinh. Trong cuộc bỏ chạy này, Mao Trạch Đông đã đoạt được quyền lao động đảng cộng sản và đã đưa được đoàn quân tổn thương này về một căn cứ mới tại Diên An, nằm tại ranh giới giữa hai tỉnh Sơn Tây (Shanxi) và Sơn An Tây (Shaanxi).

Các người Quốc Dân Đảng không đạt được thực sự việc kiểm soát toàn thể Trung quốc. Các tỉnh thành quan trọng ở ven biển như thành phố Thượng Hải (Shanghai) thì do người ngoại quốc quản trị một phần tỉnh, đó là các tô giới. Tại Mãn Châu, quân đội Nhật Bản đã chiếm đóng và thiết lập một chính phủ bù nhìn từ năm 1932, và đến năm 1937 thì xâm lăng các phần đất ở về phía Nam của Vạn Lý Trường Thành, buộc quân đội quốc gia phải rút lui. Thủ đô phải thuyên chuyển từ Nam Kinh (Nanking) về Chungking (Trùng Khánh) trong tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan) và chính quyền của người quốc gia đã mất sự kiểm soát một phần lớn lãnh thổ. Khi xảy ra cuộc Đệ Nhị Thế Chiến, các người cộng sản đã xâm nhập vào phía sau các phòng tuyến của quân đội Nhật Bản và khuấy rối các phần nông thôn ở về phía Bắc. Sau ngày nước Nhật Bản đã bại trận, cuộc nội chiến đã xảy ra giữa các người quốc gia và các người cộng sản và đưa đến kết quả cuối cùng là vào năm 1949, các người quốc gia đã phải chạy về đảo Đài Loan (Taiwan).

Từ năm 1912 cho đến 1949, các sự liên minh dưới nhiều sắc thái của các vị sứ quân lãnh chúa và về sau với sự chiếm đóng khác nhau của các quân đội dù đó là các quân đội cộng sản, quốc gia hay Nhật Bản, đã để lại nhiều vùng, tỉnh của Trung quốc trong một tình trạng vô chính phủ và đói kém. Đã có nhiều triệu người nông dân vì đã quá nghèo, không có đất để canh tác, họ đã gia nhập vào các lực lượng võ trang của các sứ quân lãnh chúa, hay đã gia nhập vào đội ngũ quân đội cộng sản hay quân đội quốc gia. Một nghiên cứu về tỉnh Sơn Đông (Shandong hay Chan dong) đã ước lượng vào năm 1930 đã có 192.000 lính chính quy và thêm vào con số là 310.000 người tham dự vào các đội dân quân hay là đi theo các băng Đảng lớn ăn cướp, các băng Đảng ăn cướp này đã sinh sống bám vào các người nông dân. Vào năm 1929, Ủy Ban Quốc Tế chuyên trách về các vùng ở phía Tây, đã viết một bản phúc trình và đã kết luận về nạn người chết đói đã ít hơn là số người đã chết do các thiên tai (nước lụt hay hạn hán) gây ra do sự vô ý thức của con người. Con số các triệu người có võ trang, họ đã tìm được lương thực bằng cách cưỡng đoạt của các người nông dân, họ đã trưng dụng các thú vật và luôn cả các đứa con trai và hàng năm còn bắt các người nông dân phải đóng thuế và có khi còn bắt phải đóng luôn cả các năm sắp đến, và luôn cả thế hệ về trước. Nếu người nông dân nào từ chối không nộp thuế thì các người này sẽ phải chịu các sự hành xử theo kiểu lính tráng, họ tịch thu tất cả của cải và các người này chỉ còn có cách là trở thành các tên ăn cướp khác. Ở tất cả các nơi nào mà các băng đảng võ trang đã đi qua là nơi đó xuất hiện nạn đói kém: "Các vùng xảy ra nạn người chết đói là các vùng thuộc vào các vùng chiếm đóng của quân hai phía quốc cộng, tùy theo các cuộc tiến hay lui quân của hai quân đội trong các trận nội chiến xảy ra ở hướng Đông."

Hội Hồng Thập Tự của Mỹ quốc cũng đã có kết luận như Ủy Ban Quốc Tế về nạn đói chết người khi nạn này xảy ra tại vùng Đông Bắc của nước Trung quốc, vào năm 1929. Nạn đói này khởi ra vào lúc ban đầu do nạn hạn hán nghiêm trọng và nạn đói trở nên trầm trọng hơn do các sự sách nhiễu tàn phá của các sứ quân lãnh chúa cùng với các sự làm hư hỏng và gây thiệt hại do các băng đảng ăn cướp gây ra và thêm vào việc tịch thu cưỡng bách bằng các sắc thuế có tính cách tịch thu. Hội Hồng Thập Tự đã nghĩ rằng giải pháp là thiết lập một chính quyền trung ương mạnh và ổn định, và chính quyền này phải có được các quyền lực và tài nguyên để thực hiện lâu dài một chính sách hầu để Trung quốc có thể ra khỏi sự rối loạn triền miên và đi vào một kỷ nguyên hòa bình, thịnh vượng và an ninh. Và để có thể tiên đoán được các tình thế khốc hại sẽ đưa đến các sự đau khổ sẽ tái diễn lại và cũng tái diễn lại thêm cho đến khi một chính phủ mới được thiết lập.

Vào mùa Xuân năm 1943, một người ký giả Mỹ của tuần báo Times magasine, ông Théodore White, đã theo dõi trận chiến giữa quân đội Nhật Bản và quân đội quốc gia Trung quốc tại tỉnh Hồ Nam (Henan) tọa tại trung tâm của Trung quốc. Đã có hàng triệu người dân đã chạy trốn trước cuộc tiến quân của quân đội Nhật, nhưng ông White đã phát giác ra là số người đã chết vì đói còn cao hơn nhiều số người đã chết vì chiến trận. "Không phải việc làm đổ máu khiến tôi xúc động nhiều hơn: đó là việc không thể tìm ra được một sự giải thích nào cho các điều mà tôi đã trông thấy. Trong nạn đói, chả có người nào đã giết người, các thi thể của các người đã chết không hề có một dấu vết nào gây ra chết chóc, là thiên nhiên đã là kẻ thù, và chỉ có chính phủ là có thể che chở cho con người để chống lại thiên nhiên. Tôi đã không thể hiểu nổi là từ đâu bắt đầu sự khởi đầu.  

Về sau ông White đã trở thành niên trưởng của các người phóng viên về chính trị, và ông đã tin chắc là các người cộng sản sẽ tạo được chính quyền ổn định. Trong quyển sách của ông với tựa đề: Đi tìm hiểu lịch sử, ông đã thuật lại việc các quân đội quốc gia đã giải quyết nạn đói xảy ra tại tỉnh Hồ Nam (Henan), vào thời điểm này, ông White tạm trú tại nhà một vị linh mục đạo Cơ Đốc, là một giáo sĩ đi truyền đạo tại vùng Lộc Dương (Louyang) là thủ đô của tỉnh:

"Vị giáo sĩ chỉ đi khỏi trú quán khi nào cần lắm, vì con người nào vận y phục đi trên đường phố là hy vọng cuối cùng của người dân, và là yếu tố duy nhất; người giáo sĩ này sẽ bị bao vây bởi nhiều người đã kiệt sức, các phụ nữ với thân hình yếu ớt, các đứa trẻ em đã gục đầu xuống đất, tất cả đều van lạy, quỳ gối, cầu khẩn để có được thức ăn. Một số ít người giáo sĩ đã nổi lên trong khuôn khổ của các người giáo đồ Gia Tô trong các vùng xảy ra nạn đói và các vị giáo sĩ này là sợi giây để đảm bảo cho sự sống là một vật quý… Những gì mà chúng tôi đã trông thấy, chúng tôi đã không thể tin được. Nhưng với các giòng chữ mà tôi đã ghi chép đã xác nhận: những gì tôi đã trông thấy. Trước hết là tôi đã trông thấy, khi đi độ một giờ xa Lộc Dương, đã vùi trong tuyết trắng, đã chết cách đây độ một hay hai ngày, các gương mặt đã khô cứng của xương sọ người. Gương mặt có lẽ là còn trẻ, tuyết đã rơi vào các lỗ của hai mắt người và chả có ai để chôn cất, đưa đến việc các con quạ và các con chó đã ăn rữa hết các phần thịt vào sát tận xương. Các con chó cũng lẩn quẩn quanh đây, dài theo đường lộ và các con chó này cũng quay lại theo vết chân cũ của nó, và có cả các con chó sói và các con chó sói có vẻ là đã ăn no đủ, lông của chúng nó láng mướt. Chúng tôi đã dừng chân để chụp ảnh các con chó đang lôi xác của các người đã chết được vùi dưới các đống cát: đã có vài xác chết đã bị ăn thịt đến một nửa, và các con chó đã ăn sạch phần thịt của các chiếc xương sọ người. Ngôi làng đã trống đi một nửa số dân cư và trở nên thưa vắng, đã có vài ngôi làng đã không còn có người trở nên trống trải và vắng bóng người và các ngôi làng khác đã bị cướp phá; các đống phân để bón đất vào mùa Xuân vẫn còn y nguyên, không được săn sóc đến. Người ta bỗng giật mình khi xảy ra một tiếng động hay là trông thấy một người ở trong làng; một người già yếu đang lảo đảo đi một mình trên các đường làng; hay là ở nơi khác hai người đàn bà đang cãi nhau mà không có người đứng chứng kiến vì như trong quá khứ thường hay có đông đảo người đứng quanh để coi việc gì xảy ra khi các người cãi nhau túm lấy nhau. Hai người đàn bà này cãi nhau vì lẽ gì bên cạnh xác của một người đã chết ?

Ông White cũng đã viết rằng cái đói đã đưa các người nông dân đến việc vi phạm vào các điều cấm kỵ.

"Tôi trông thấy các việc tồi tệ liên quan đến việc ăn thịt người. Tôi không bao giờ trông thấy cảnh tưởng một người ra tay giết một người hầu để ăn thịt người bị giết và tôi cũng không bao giờ nếm thịt người. Nhưng đã không thể chối cãi được là đã có xảy ra việc người ăn thịt người và các người này đã tự bào chữa là đã ăn thịt của các người đã chết. Và lời xin lỗi này đã do từng mỗi trường hợp mà chúng tôi đã phỏng vấn. Ở trong một ngôi làng đã có một người phụ nữ đã chợt bị bắt gặp khi đang nấu chín thi thể của một em bé mới được độ 2 tuổi. Trong một trường hợp khác có một người cha đã bóp cổ cho chết hai đứa con trai của mình để ăn thịt; người cha này đã tự bào chữa và nói hai đứa con này đã chết về trước. Một trường hợp khác hệ trọng hơn đã xảy ra ở một ngôi làng khác: quân đội đã ra lệnh là dân làng này phải tiếp nhận các đứa trẻ em vô phước không còn cha mẹ, và đã có một trẻ em trai vừa được 8 tuổi đã được quân đội cưỡng bách một gia đình nông dân phải nuôi. Đứa con trai này đã biến mất. Sau một cuộc điều tra, người ta đã tìm thấy xương cốt của đứa trẻ này đựng trong một cái lu ở nhà của người vợ bé của người nông dân. Câu hỏi được đặt ra là người ta đã ăn thịt đứa trẻ này sau khi nó đã chết hay là người ta đã giết đứa trẻ này để ăn thịt ? Trong hai giờ đồng hồ chúng tôi đã điều tra ở ngôi làng này, chúng tôi đã không đủ thời giờ để nhận định về những việc gì đã xảy ra: ai đã là người nói dối và ai là người không nói dối ? Và chúng tôi lại tiếp tục ra đi.

Ông White nghĩ rằng nguyên do của nạn đói lớn không phải là do chiến tranh gây ra mà là do sự quản trị hay là lãnh đạo "tồi - xấu". Các người phe quốc gia rất lấy làm ghê tởm về việc bắt dân phải đóng thuế để có nguồn tài lực hầu để đeo đuổi một cuộc chiến tranh và họ cũng không tin cậy vào giá trị của các số tiền giấy mà họ in ra, quân đội của các phe quốc gia đang hành quân đã được lệnh phải thâu thuế bằng hiện vật như lúa gạo hay trâu bò mà phần lớn là thâu bằng lúa hột bằng cách trưng dụng. Tại tỉnh Hồ Nam (Henan), ông White đã phát giác ra là việc quân đội của phe quốc gia đã trưng dụng một số lượng hạt lúa quá nhiều hơn số mà tỉnh này có thể sản xuất ra. Quân đội này hầu như đã tận thu vét tất cả số lương thực của dân ở thôn quê và không còn để lại gì để cho các người dân ăn để sinh sống. Các người nông dân đã bắt buộc phải bán đi các gia súc của họ, các dụng cụ nông nghiệp và sau cùng phải bán luôn cả ngôi nhà mà họ đang cư trú. Cũng trong thời gian này, các nhân viên thuế vụ lại đến để đòi thâu thuế sau khi quân đội đã trưng dụng lúa gạo. Ông White cũng đã để ý đến các đoàn quân có kỷ luật thì ở trong các nhà kho đều chứa đầy lúa gạo được coi là thặng dư và các người sĩ quan đã bán ra số lương thực thặng dư và lấy tiền, bán lương thực để tư lợi. Các người giáo sĩ và các người công chức lương thiện đã mua lại các số lương thực thặng dư do các vị sĩ quan đã bán ra và đã dùng số lương thực này để nuôi sống các người đang bị nạn đói hành hạ.

Tại Trùng Khánh (Chonqing) chính quyền Quốc Dân Đảng do Tchang Kaï Check lãnh đạo đã phản ứng lại khi nhận được các bản tường trình về nạn đói và đã phản ứng lại là sẽ không thu thuế nông nghiệp trong năm sắp đến. Biện pháp này không có nghĩa lý gì cả vì các ngân khoản dùng để chi cho cơ quan hành chính cũng chả có ý nghĩa lý gì cả vì tiền giấy đã không còn một giá trị gì cả.

Khi ông trở về Trùng Khánh, ông đã nhận thấy là tướng Tchang Kaï Chek không có chú ý về việc nạn đói đang xảy ra. Các cấp bực của bộ máy hành chánh thơ lại đã được coi là cắt đứt với hiện trạng. Sau cùng, ông White đã phải đến gõ cửa tướng Tchang Kaï Chek và trưng cho vị tướng này các bức ảnh đã chụp được về các người đang đói lả người và các con chó đang xâu xé các tử thi. Đến lúc này, tướng chính sách mới tin vào các lời nói của ông White và đã đưa ra các biện pháp để chống lại nạn đói. Đã có nhiều đoàn xe hơi chở lương thực tiếp tế cho tỉnh Sơn An Tây (ShaanXi), tại tỉnh Hồ Nam (Henan) quân đội đã mở cửa các nhà kho lương thực và ở các tỉnh khác chính quyền đã tổ chức các cuộc phát cháo cho nhân dân. Nạn đói đã giảm dần, dù là bệnh dịch tả và bệnh chấy rận còn đang gây ra chết người. Đã có 5 triệu người đã chết, dù cho đến ngày hôm nay, người ta chưa biết được con số chính xác về số người đã chết vì nạn đói.

Ông White đã nghĩ rằng: các sự phá hoại do quân đội Nhật Bản gây ra, cộng với việc thản nhiên của các người lãnh đạo thuộc phía quốc gia và với nạn đói "đặc hữu" tất cả đang làm băng hoại truyền thống xã hội Trung quốc.

"Tất cả những gì còn lại không còn là một xã hội nữa và giống như một khối chất xốp bọt biển hay là tổ con ong đã bị đập nát ra, và trong tổ này hãy còn các chiếc nọc của con ong. Các ngôi làng cũng đã chia nhau ra các phe phái: phe này ủng hộ các người quốc gia, phe kia ủng hộ các người cộng sản, phe nọ ủng hộ chính quyền địa phương. Nhưng điều cốt yếu là họ ủng hộ phe phái nào có thể bảo vệ cho họ sống và đáp ứng được cho nhu cầu này và tránh cho vợ của họ không bị hãm hiếp do các quân nhân Nhật Bản gây ra và để dân làng không bị trưng dụng đi làm dân cu li (cooli). Các người Nhật Bản đến đây chỉ làm việc chém giết, các người cộng sản thì chống lại các người giết người và các người cộng sản làm việc có hiệu năng hơn.

Vào năm 1945, sau khi người Nhật Bản đã đầu hàng, các người Quốc Dân Đảng đã trở thành chính phủ chính thức của Trung quốc, nhưng việc này đã không ngăn chận được nạn đói vẫn hoành hành trên lãnh thổ Trung quốc. Trong năm 1946, 19 tỉnh của Trung quốc đã lâm vào nạn đói lớn và đã làm thiệt mạng khoảng 20 triệu người. Ký giả người Anh, ông John Ridley đã thuật lại về các điều ông đã trông thấy tại tỉnh Hồ Nam: "Đây là một kinh nghiệm (thử thách) hãi hùng khi phải đi qua các ngôi làng hay các thành phố. Ở chung quanh anh chỉ có toàn là các người uể oải và dửng dưng và các người đang chết vì đói hay là vì bệnh tật, các người này nhìn anh với vẻ như một con thú vật với đôi mắt mở ra trừng trừng, tuy là sáng nhưng lại tỏ vẻ buồn thảm, gương mặt của họ thì gầy mòn và hốc hác, màu sáp ong. Khi anh đi qua các ngôi nhà đổ nát thì từ trong những ngôi nhà này bốc ra một mùi hôi thối từ các xác chết.

Khi ông Ridley đi bộ qua những ngôi làng này, đã có một đứa trẻ em đã ngã gục trước mắt ông: "Đứa trẻ này đã nằm trên đường đi, hình dáng nhỏ bé lờ mờ khiến làm cảm động cho ai trông thấy, nơi phần da của dạ dày thì teo lại trông rất ghê sợ, tuy tay và chân của cậu này trông giống như các que củi và mỏng manh như bộ xương của con chim. Ông Ridley đã ẵm cậu bé này trên tay và đưa cậu bé này đến một bệnh việc gần đó. Nửa giờ sau, cậu bé này đã chết mà không tỉnh lại được. Vị bác sĩ điều trị tại nhà thương này đã nói với ông Ridley: "Cậu bé này đã chết vì quá đói. Mỗi ngày người ta đả đưa đến bệnh viện hàng chục trẻ em bị đói như vậy. Toàn thể các người dân của tỉnh Hồ Nam đã phải ăn cỏ, các rễ cây, các lá cây và luôn cả ăn thịt người. Các trẻ em đã bị bỏ rơi hay là bị bán đi để đổi lấy một ít lương thực.

Khoảng 12 năm về sau, tỉnh Hồ Nam đã đi vào kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn của Mao và Mao đã hứa là sẽ chiến thắng vĩnh viễn nạn đói, với sự nhiệt tâm càng lớn hơn của tỉnh này so với các tỉnh khác của Trung quốc. Tuy vậy, nạn đói đã xảy ra ở tỉnh Hồ Nam, do kế hoạch Bước Nhảy Vọt lớn, tại tỉnh này còn đã to lớn hơn mọi thời điểm khác và có thể nói là chưa có nạn đói nào như xảy ra bao giờ. Để hiểu các nguyên nhân, chúng ta cần phải tìm hiểu người dân Trung quốc và các người dân này đã trù định cách nào để làm cho đất nước này tránh được nạn đói.

Đọc tiếp Phần I - Chương 2 : Những người khốn khổ vì nạn đói - Hãy vùng lên !

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Truyện Lịch sử

Tủ sách "Vàng"

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 2 February, 2011 22:22