a

 

 

 

 

 

Tội ác cộng sản

Tết Mậu Thân 1968

Trần Gia Phụng

Tàn sát tết Mậu Thân tại Huế (1968)

Phần 3

 

IV.- TẠI SAO TÀN SÁT?

Cho đến nay, chưa ai trả lời được câu hỏi vì sao xảy ra cảnh tàn sát ở Huế trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân (1968) của quân đội cộng sản? Ngay cả đảng CSVN hiện nay vẫn tránh né vấn đề nầy. Để giải mã câu hỏi trên, có lẽ nên phân tách các loại tàn sát theo từng nguyên nhân khác nhau.

1. TÀN SÁT VÌ TƯ THÙ

Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, ngoài chuyện chết chóc vì súng đạn, luôn luôn có những cuộc trả thù qua lại giữa những cá nhân trong các phe lâm chiến. Chắc chắn vụ Tết Mậu Thân ở Huế cũng không ra ngoài quy luật nầy.

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Tội đồ Hồ Chí Minh

a

a

a

a

a

a

Huế là một nơi trải qua nhiều biến chuyển chính trị, "đổi đời" từ năm 1945 trở đi, đương nhiên có nhiều cọ xát, mâu thuẫn, tranh chấp, thù hận. Sau năm 1954, nhiều gia đình ở Huế có thân nhân tập kết ra Bắc, bị chính quyền miền Nam truy xét, nay những người nầy trở về tìm cách trả thù những kẻ đã đi tố cáo hay truy hỏi trước đây. Cần chú ý Thừa Thiên và Huế là nơi xuất thân của nhiều nhà lãnh đạo Bắc Việt như Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, Trần Hữu Dực, Hoàng Anh…

Ngoài ra còn có nhiều hình thức tư thù nhỏ nhặt khác, như những người giúp việc đi tố cáo chủ nhà; những công nhân chỉ điểm các ông giám đốc; những người trước đây phạm pháp, bị bắt, bị phạt nay nhân cơ hội trả thù những nhân viên hành chánh, cảnh sát...

Đặc biệt nhiều nhất là những sinh viên học sinh tranh đấu, trước đây tham dự những cuộc biểu tình chống chính phủ bị đàn áp, phải thoát ly bỏ lên núi theo cộng sản, nay trở về cầm súng thanh toán lại những người khác lập trường chính trị mà các sinh viên thoát ly gán "tội" cho họ là tay sai "Mỹ, Ngụy".

2. TÀN SÁT THEO KẾ HOẠCH, CHÍNH SÁCH

* Phá hủy và làm rối loạn bộ máy chính quyền VNCH: Ngày 26-1-1968, ba ngày trước Tết, đảng uỷ cộng sản Thừa Thiên đưa ra kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa phía hữu ngạn Huế. Trong kế hoặch nầy, cộng sản dự liệu rằng khó có thể giữ Huế lâu ngày, nên đã chỉ đạo các uỷ viên phụ trách phải phá hoại tối đa các cơ chế vừa mới được ổn cố của chính quyền Sài Gòn (DO, sđd.206). Nói cách khác, chỉ thị trên ra lệnh tiêu diệt quân đội và nhân viên VNCH để bộ máy chính quyền VNCH khủng hoảng nhân sự, thiếu người làm việc, mất hiệu năng. Thành phần tử vong trong Tết Mậu Thân tại Huế do ông Nguyễn Trân đưa ra phản ảnh đúng chủ trương nầy, theo đó đã có "790 hội viên các Hội đồng tỉnh, thị xã và xã bị gán cái tội "cường hào ác bá", 1,892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát" bị giết.

Sau đây là tài liệu do Sư đoàn 1 Không kỵ Hoa Kỳ bắt được ngày 12-6-1968 tại Thừa Thiên của một cán bộ quân sự cộng sản, nghĩa là sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân khoảng hơn ba tháng. Viên cán bộ nầy ghi lại trong sổ tay: "Toàn bộ hệ thống chính quyền ngụy từ xã tới tỉnh đã bị tiêu diệt hoặc gẫy đổ. Hơn 3,000 tên đã bị giết. Địch sẽ chẳng bao giờ tái lập lại được hệ thống cũ hoặc xoay chuyển được thất bại của chúng. Dù chúng có thể thay thế ngay bằng những nhân sự thiếu kinh nghiệm, bọn nầy cũng sẽ chẳng làm được gì."(22)

* Tàn sát để khủng bố, cảnh cáo: Cộng sản giết quân nhân, công chức và thường dân vô tội (mà họ tình nghi tiếp tay, làm tình báo, hay cộng tác với chính quyền VNCH), cộng sản nhắm đe dọa dân chúng để từ đây đừng tòng quân cho quân lực VNCH, hoặc không được tham gia hay cộng tác với chính quyền VNCH, dưới bất cứ hình thức nào.

Trong quá trình chính trị VNCH, Huế là nơi phát khởi nhiều xáo trộn, nhất là từ năm 1963 trở đi. Việc tàn sát của cộng sản còn nhắm cảnh cáo dân chúng cố đô, từ đó cảnh cáo dân chúng toàn quốc, để dân chúng không dám lên tiếng tố cộng, dầu vẫn còn sống dưới chế độ Cộng Hòa; đồng thời cộng sản chuẩn bị áp đặt một chế độ độc tài trong tương lai một khi họ đánh chiếm được toàn miền Nam. Đó là thông điệp đỏ mà cộng sản muốn báo cho dân chúng Huế nói riêng và các thành phố miền Nam nói chung: với cộng sản, biểu tình, chống đối là tử hình, chứ không dễ dãi như dưới chế độ Cộng Hòa.

Thông điệp đỏ nầy quả nhiên có hiệu quả trong việc áp chế dân chúng, vì sau năm 1975, chế độ cộng sản Hà Nội độc tài tàn bạo, mà hầu như rất ít vụ đối kháng xảy ra, và dân chúng hoàn toàn không có biểu tình, tuyệt thực dễ dàng như dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.

* Tàn sát tín đồ Thiên Chúa giáo: Cộng sản luôn luôn kiếm cách tiêu diệt có hệ thống và có kế hoạch các tôn giáo, nhất là những tôn giáo có thế lực chính trị mạnh mẽ, có tổ chức quần chúng quy mô và kỷ luật, hoặc thân chính quyền. Tại Huế, từ khi Ngô Đình Diệm, xuất thân từ một gia đình Thiên Chúa giáo gốc Quảng Bình, lớn lên tại làng Phú Cam, cầm quyền năm 1954, tín đồ Thiên Chúa giáo tại đây yểm trợ chính quyền mạnh mẽ. Ngô Đình Cẩn, em ông Diệm, là người có sáng kiến tổ chức đoàn phản gián "Đặc vụ miền Trung" năm 1960 do ông Dương Văn Hiếu cầm đầu, đã gây thiệt hại nặng nề cho tình báo cộng sản từ Bến Hải vào tới trong Nam.

Do đó, trong kế hoạch đưa ra ngày 26-1 kể trên, đảng uỷ cộng sản Thừa Thiên-Huế nhấn mạnh: "Bao vây và cô lập những tên phản động lợi dụng tín đồ Thiên Chúa giáo; phải chú ý đến khu vực Phú Cam, các trường Thiên Hựu và Bình Linh..."(Don Oberdorfer, sđd. 206). Kế hoạch nầy còn được triển khai hết sức mưu mẹo kín đáo:

Khi mới vào Gia Hội, cộng quân ra lệnh mọi nhà phải hạ cờ Quốc gia (đã được các nhà treo trong dịp Tết), treo cờ MTDTGPMNVN. Dân chúng không có cờ MTDTGP, nên cộng quân ra lệnh treo cờ Phật giáo (Don Oberdorfer, sđd.225). Đây là một âm mưu của cộng sản: (1) Cộng quân dư biết dân chúng sống dưới chế độ miền Nam không thể có cờ MTDTGP mà vẫn ra lệnh treo cờ mặt trận nầy, rồi lấy lý do không có cờ MTDTGP mới đổi qua cờ Phật giáo. (2) Treo cờ Phật giáo, cộng quân sẽ biết nhà nào theo Thiên Chúa giáo, vì những gia đình theo đạo Thiên Chúa làm gì có cờ Phật giáo mà treo? (3) Cộng quân muốn tỏ ra thân thiện với Phật giáo, để gieo tiếng oan cho Phật giáo là thân cộng và gây chia rẽ giữa hai tôn giáo lớn trong nước.

Một nhân chứng có mặt tại vùng Phú Cam (Huế) cho biết khoảng mồng 7 hay mồng 8 Tết, cộng quân bắt trên 300 thanh niên ẩn núp trong nhà thờ Phú Cam, đem đi biệt tích.(23) Tại Huế, cộng quân còn giết hai linh mục người Việt là Hoàng Ngọc Bang và Lê Văn Hộ, và hai linh mục người Pháp dòng Benedicto Thiên An là Urbain và Guy, đồng thời đốt luôn nhà thờ Thiên An.(24)

* Tàn sát để gây tiếng vang trên thế giới và tại Hoa Kỳ: Trong cuộc tổng công kích tết Mậu Thân, cộng quân đã thẳng tay tiêu diệt quân đội Đồng minh như Hoa Kỳ, Phi Luật Tân, và giết luôn cả những thành phần dân sự ngoại quốc như các linh mục người Pháp kể trên, nhất là bốn người Đức ở Viện Đại học Huế (bác sĩ và bà Hort Gunther Krainick, bác sĩ Raimund Discher, và bác sĩ Alois Alterkoster). Ba vị bác sĩ Tây Đức đều tình nguyện đến dạy tại Đại học Y khoa Huế. Cả bốn người nầy bị bắt ngày 5-2-1968. Về sau xác họ được tìm thấy ở gần khu vực chùa Tường Vân.

Huế là thành phố mang nhiều đặc tính di sản lịch sử, văn hóa và chính trị Việt Nam, nên rất được quốc tế chú ý. Chiếm đóng và tàn sát ở Huế dễ gây tiếng vang trên thế giới, để giành ưu thế trong hòa đàm, và nhất là để đe dọa dân chúng Hoa Kỳ, làm cho họ lo ngại cho số phận thân nhân họ đang ở Việt Nam. Vì vậy họ sẵn sàng tham gia các phong trào phản chiến, thúc giục chính phủ Hoa Kỳ sớm rút quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam, để đưa chồng con về nước.

* Tàn sát để nhuộm đỏ tay chân: Sau thời gian tham gia tranh đấu năm 1966, khi bị chính phủ Sài Gòn gởi quân ra dẹp yên, một số lãnh tụ sinh viên và trí thức Huế thoát ly, bỏ chạy lên chiến khu theo cộng sản như Hoàng Phủ Ngọc Tường (giáo sư trường Quốc Học), Hoàng Phủ Ngọc Phan (sinh viên, em của Tường), Nguyễn Đắc Xuân (sinh viên), Lê Văn Hảo (giáo sư Đại học Văn khoa), Nguyễn Đóa (cựu giám thị trường Quốc Học)... Ngoài nhóm thoát ly, còn có những người lừng khừng, gió chiều nào theo chiều đó. Sử dụng những người thoát ly cũng như lừng khừng, nhưng cộng sản không tin cậy họ. Cộng sản dư biết rằng họ thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản thành phố, thích biểu tình tranh đấu theo kiểu dân chủ Tây phương, đã từng sống dưới chế độ Quốc gia, ít nhiều thụ hưởng không khí tự do và ân huệ chính quyền Quốc gia để ăn học thành tài, mà còn phản bội Quốc gia, thì không biết lúc nào họ sẽ phản bội cộng sản, vì cộng sản chẳng có công đào tạo họ, và cộng sản lại độc tài đảng trị tuyệt đối, không thích chuyện biểu tình phản đối.

Dư luận Huế và báo chí sách vở thường kết án Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân là thủ phạm của những cuộc tàn sát. Cho đến nay, vẫn chưa biết thật sự nhóm nầy đóng vai trò gì, đã làm những gì, nhưng giả thiết như họ đã hành động tàn bạo đối với đồng bào, (chỉ giả thiết mà thôi), thì chẳng qua họ cũng chỉ là những con rối phải thi hành mệnh lệnh và kế hoạch của đảng Cộng Sản. Nếu những Tường, Phan, Xuân không thi hành mệnh lệnh của đảng CS, họ sẽ bị cộng quân loại bỏ dễ dàng. Những nguòi nầy chỉ là những con chốt thí trong cuộc cờ của cộng sản.

Ai cũng biết rằng trong tổ chức cộng sản, chỉ có đảng viên và nhất là đảng uỷ mới có quyền quyết định những chuyện hệ trọng. Còn những hạng tân tòng như Tường, Phan, Xuân chẳng có quyền hành gì để quyết định mạng sống của một tập thể quần chúng lớn lao, trừ vài chuyện trả thù cá nhân mà thôi. Bằng chứng cụ thể là sau năm 1975, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân chẳng được trọng dụng nữa.

Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân là cơ hội để cộng quân nhuộm đỏ những người thoát ly và những người lừng khừng, làm cho họ không còn con đường nào quay về phía VNCH, dù họ có mặt hay không có mặt ở Huế, và dù họ giết người hay không giết người trong thời gian nầy.

3. TÀN SÁT KHI RÚT QUÂN

Nhìn vào bản đồ vị trí các mồ chôn tập thể, một điểm nổi bật là tại thành phố Huế, khu phố Gia Hội và vùng phụ cận như Bãi Dâu là nơi duy nhất có nhiều mồ chôn tập thể. Điều nầy cho thấy do cộng quân chiếm giữ Gia Hội được lâu, nên có điều kiện bắt giết nhiều người tại chỗ. Ngoài Gia Hội, những nấm mộ tập thể khác nằm ở các vùng phụ cận chung quanh thành phố Huế. Khi rút lui, cộng quân đem theo những người bị bắt giữ, vừa làm phu khuân vác, vừa khỏi bị lộ bí mật, vừa làm con tin và bia đỡ đạn để tránh bị quân đội VNCH và Đồng minh pháo kích hay chận đánh. Số người bị cộng quân đem theo lên đến vài ngàn người. Đến khi cộng quân cần biến vào rừng, cộng quân giết tất cả những người nầy để khỏi lộ tung tích. Cộng sản giải thích rằng như thế là "giết để tự vệ"(?). Họ không cần phân loại, vì làm như thế sẽ mất nhiều thời giờ, và vì nguyên tắc của cộng sản là "giết lầm hơn bỏ sót". Ngoài ra, sau một thời gian ngắn cùng sống với nhau, những con tin bị bắt đi theo biết rõ gốc gác, gia đình của các cán binh cộng sản, kể cả cộng sản nằm vùng, và nhất là những tội ác do cộng sản gây ra. Cộng sản sợ rằng nếu để những người nầy sống sót, họ sẽ làm vỡ tất cả những tổ chức bí mật của cộng sản, nhất là tố cáo tội ác của cộng sản trước dư luận trong nước cũng như trên thế giới. Do đó, cộng sản giết những con tin nầy để thủ tiêu nhân chứng, diệt hậu hoạn.

Cách giết người của cộng quân cũng đặc biệt. Cộng quân ra lệnh cho những người bị bắt phải đào hố, nói là để làm hầm trú ẩn tránh bom đạn, hoặc để làm mương dẫn nước cho dân chúng cày cấy. Sau khi đào xong, cộng quân trói thúc ké tay chân những người nầy, quăng xuống hố, rồi lấp đất lại. Cộng quân chôn sống người, chứ không dùng súng bắn vì sợ gây tiếng động và lộ mục tiêu, dễ bị quân đội VNCH và Đồng minh phát hiện.(25)

Bản đồ vị trí các mồ chôn tập thể cho thấy cộng quân rút lui theo hai hướng: (1) Hướng nam, qua đường Nam Giao, đến lăng các vua Nguyễn, lên vùng núi. Ngôi mộ tập thể xa nhất về hướng nầy là Khe Đá Mài (428 xác), thuộc quận Nam Hòa, cách thành phố Huế khoảng 40 cây số.(2) Hướng đông, qua ngã Chợ Cống hoặc Dạ Lê. Ngôi mộ tập thể xa nhất về hướng nầy là Vinh Thái (135 xác), thuộc quận Phú Thứ, cách Huế khoảng 40 cây số về phía đông nam. Theo bác sĩ Elje Vannema, người gốc Hòa Lan, quốc tịch Canada, có mặt ở Huế nhân dịp Tết Mậu Thân, Huế có tất cả 19 khu vực chôn người tập thể được tìm thấy, và mỗi khu vực có nhiều nấm mộ tập thể khác nhau.(25) Có thể còn nhiều ngôi mộ tập thể khác vĩnh viễn bị khuất lấp mà không ai tìm ra được.

V.- THỬ SO SÁNH

Trong lịch sử Việt Nam, cuộc tàn sát tập thể đầu tiên được ghi nhận là vụ Trần Thủ Độ tiêu diệt tông thất nhà Lý năm 1232 (nhâm thìn). Sau khi tổ chức đảo chánh nhà Lý (1010-1225), lập ra nhà Trần (1225-1400), Trần Thủ Độ kiếm cách tiêu diệt con cháu dòng họ nầy. Năm 1232, Trần Thủ Độ tổ chức lễ trai đàn đại tế tổ tiên họ Lý tại Bắc Ninh. Khi con cháu nhà Lý đến dự lễ, theo sử sách ghi lại, Trần Thủ Độ cho giựt sập nhà trai đàn, chôn vùi tất cả con cháu nhà Lý xuống đó. Lúc đó, Trần Thủ Độ giết nhiều lắm là vài chục người hoặc tối đa là khoảng một trăm người. Đã trên 700 năm, thế mà hành vi tàn ác của Trần Thủ Độ vẫn còn là một vết nhơ trên chiếc chiến bào đầy hào quang kháng Nguyên của dòng họ nhà Trần.

Năm 1884, khi người Pháp áp đặt hòa ước Giáp Thân, đô hộ Việt Nam, vua Hàm Nghi (trị vì 1884-1885) và triều đình do Tôn Thất Thuyết lãnh đạo đã mở cuộc tấn công chống Pháp tại Huế đêm 22 rạng 23 tháng 5 năm ất dậu (đêm mồng 4 rạng mồng 5-7-1885). Thất bại, nhà vua phải bỏ kinh thành chạy ra phía Bắc. Tối hôm đó, quân đội triều đình và dân chúng Huế chết khá nhiều nên sau nầy, hằng năm, tại Huế có tục "cúng cô hồn" vào tối 23-5 âm lịch.

Dầu đã xảy ra nhiều trận đánh ác liệt khi quân đội nước ngoài tiến chiếm cựu đô Thăng Long hay Huế, sử sách hầu như không ghi lại dấu vết những hành động độc ác tàn bạo giết hại tập thể tàn ác dã man lộ liễu nào của người nước ngoài đối với thường dân tại các thành phố đang có chiến tranh, kể cả trong ngày 19-12-1946 là ngày mà Hồ Chí Minh ra lệnh bất ngờ tấn công người Pháp tại Hà Nội, người Pháp phản công, nhưng cũng không trả thù thường dân. Việt Minh cộng sản đả kích thậm tệ thực dân Pháp, nhưng trong việc đối xử với thường dân trong chiến tranh, so sánh những biến cố ở Huế năm 1885 và Hà Nội năm 1946 với cuộc tấn công của cộng sản năm Mậu Thân (1968) tại Huế, binh sĩ thực dân Pháp xâm lăng xem ra còn văn minh và nhân đạo hơn người cộng sản Bắc Việt, những kẻ luôn luôn tự hào thuộc "loài người tiến bộ".

Trong lịch sử thế giới hiện đại, có bốn cuộc tàn sát lớn: Thứ nhất khi chiếm được Nam Kinh (Nanking, Trung Hoa) ngày 13-12-1937, quân đội Nhật Bản đã tàn sát khoảng 300, 000 người Hoa tại thành phố nầy. Cuộc tàn sát diễn ra khủng khiếp, hãm hiếp phụ nữ, bắn giết, dùng kiếm chặt đầu mổ bụng, kể cả trẻ em.(26) Thứ nhì Đức Quốc Xã giết tập thể hàng triệu người Do Thái trong thế chiến thứ nhì (1939-1945). Thứ ba Cộng sản Liên Xô đã giết gần 15, 000 tù binh gồm sĩ quan và binh sĩ quốc gia Ba Lan từ 3-4 đến 13-5-1940.(27) Thứ tư Khờ-me Đỏ giết khoảng trên 1 triệu dân Cam Bốt.

Quân phiệt viễn chinh Nhật giết người Hoa vì tức giận dân chúng Nam Kinh, thủ đô của Trung Hoa từ khi Quốc Dân Đảng cầm quyền năm 1927, đã kháng cự mãnh liệt cuộc tiến quân của Nhật Bản. Đức Quốc Xã tàn sát người Do Thái để bảo vệ sự thuần chủng của giống Nhật Nhĩ Man (Aryan) theo chủ thuyết của Hitler. Cộng sản Liên Xô giết sĩ quan và binh sĩ Ba Lan để triệt tiêu quân đội yêu nước của quốc gia nầy, và thành lập quân đội mới dưới quyền chỉ huy của Liên Xô. Tất cả những cuộc tàn sát trên đây đều tàn bạo, vi phạm tội ác nhân loại, giữa người với người. Tuy nhiên, họ là những người khác nước, khác chủng tộc, và hành động vì quyền lợi quốc gia họ.

Chỉ có Khờ-me Đỏ giết đồng bào hay đồng chủng Cam Bốt và Việt Cộng giết đồng bào hay đồng chủngViệt Nam. Ai cũng biết là Khờ-me Đỏ một thời nằm dưới quyền của cộng sản Việt Nam, và Khờ-me Đỏ cũng như cộng sản Việt Nam đều được CHNDTH huấn luyện cũng như viện trợ. Chính Hồ Chí Minh và đảng LĐ đã từng nhận lý thuyết Mác-Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông là kim chỉ nam hành động của cộng sản Việt Nam.(28)

Số lượng người bị Việt Cộng giết tại Huế ít hơn rất nhiều so với những nạn nhân người Trung Hoa, Do Thái, Ba Lan, hay Cam Bốt. Điều nầy dễ hiểu vì khung cảnh không gian xảy ra cuộc tàn sát, tức thành phố Huế, quá nhỏ bé so với các khu vực tàn sát trên thế giới, thời gian Việt cộng chiếm đóng ngắn ngày, và dân số địa phương Huế lúc đó cũng quá ít oi, chỉ có 130, 000 dân (CĐ, MT, sđd.303).

Đặt các cuộc tàn sát trong các điều kiện và hoàn cảnh trong từng vụ cá biệt, mới thấy rõ cuộc tàn sát của Việt cộng năm 1968 ở Huế, một thành phố hiền hòa nhỏ bé với một dân số ít oi, thật dã man không kém gì những cuộc tàn sát khác trên thế giới trong thế chiến thứ nhì. Tính chất độc ác dã man còn biểu lộ trong phương pháp và đối tượng bị giết: giết cả trẻ em và phụ nữ,(29) tùng xẻo người,(30) chôn sống người.(31)

Việc giết hại phụ nữ và trẻ em, cũng như việc tùng xẻo người như thời Trung cổ, do thân nhân các nạn nhân hoặc những người chứng kiến kể lại. Người ta biết được việc cộng sản chôn sống các nạn nhân nhờ hai nguồn tin: Thứ nhất là lời kể cuả những nạn nhân trốn thoát bàn tay cộng quân đã chứng kiến việc chôn sống. Thứ hai là trong các nấm mồ tập thể, lẫn lộn với xác chết những người bị đánh đập, trên thân thể có vết thương và vết máu, người ta tìm được những tử thi chỉ bị trói ké tay chân, thân thể toàn vẹn, không có vết trầy truộc gì cả. Điều nầy có nghĩa là những người đó đã bị quăng xuống hố sau khi bị trói tay để không có cách gì moi đất mà lên được.

Nên lưu ý, đất thịt không phải là nước hay cát. Nước và cát có thể bít kín ngay các khoảng trống, không có không khí, nên người bị trấn nước hoặc bị vùi trong cát, sau vài chục giây, nếu ai mạnh khỏe thì sau một vài phút rồi chết vì ngạt thở. Ngược lại, đất thịt với sạn đá còn nhiều lỗ rỗng, và đất thịt không thể bít hết lên thân thể của nạn nhân, nên dưới những mồ chôn tập thể đó, lúc đầu vẫn còn không khí, và nạn nhân vẫn còn thoi thóp sống, có thể cả vài ngày, sau đó mới kiệt sức mà chết.

Ngày nay, khi đưa một con vật vào lò sát sinh, người ta cố gắng làm sao cho con vật chết liền tức khắc, để tránh việc hành hạ thân xác làm kéo dài sự đau đớn của con vật. Trong khi đó, những nạn nhân bị cộng sản chôn sống nằm bất động, vẫn còn sống, ý thức vẫn làm việc. Thật không thể biết nạn nhân kéo dài sự đau đớn đến độ nào trong cảnh tối mù của địa ngục sống trong nhiều ngày? Không ai biết được vì không ai còn sống để kể lại, nhưng chắc chắn khủng khiếp và đau khổ cùng độ. Biết đâu họ chết ngất vì khủng khiếp trước khi chết vì thiếu dưỡng khí?

Vào đầu thế kỷ 20, một vụ án tử hình được sách vở cho là tàn bạo nhất của lịch sử nước ta là việc người Pháp đã xử yêu trảm chí sĩ Trần Quý Cáp tại Khánh Hòa năm 1908. Yêu trảm là chém ngang lưng, nạn nhân còn đau đớn thoi thóp đôi chút trước khi chết, nhưng thời gian kéo dài không lâu bằng người bị chôn sống dưới đất thịt. Việc chôn sống kéo dài sự đau đớn của nạn nhân, nhất là đau đớn về tinh thần. Chính đó là sự tàn nhẫn của việc chôn sống, và chỉ có người cộng sản mới đủ nhẫ n tâm làm điều đó với đồng bào của mình.

Sau những cuộc tấn công bất ngờ vào đầu năm 1968, du kích cộng sản tiếp tục tấn công nhiều đợt khác nữa ở khắp nơi trên toàn cõi miền Nam. Trong khi đó, một cuộc tàn sát xảy ra ngay sau vụ Mậu Thân, nhưng mãi đến một năm sau mới bị phát hiện, cũng làm cho dư luận rất chú ý. Đó là cuộc thảm sát Mỹ Lai (Quảng Ngãi) ngày 16-3-1968. Vào ngày nầy, trung đội Charlie, thuộc tiểu đoàn 1, sư đoàn 20 Bộ binh Hoa Kỳ do trung úy William Calley chỉ huy, đã thảm sát từ 200 đến 500 dân làng trong ấp Mỹ Lai 4, làng Sơn Mỹ, quận Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một vết đen trong lịch sử chiến tranh của quân đội Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, giữa vụ Mậu Thân và vụ Mỹ Lai, có những điểm khác nhau căn bản:

* Vụ Mậu Thân là một chủ trương có kế hoạch, có hệ thống, do cấp lãnh đạo của đảng Lao Đông và nhà cầm quyền Hà Nội cân nhắc, soạn thảo trong một thời gian dài. Nhà cầm quyền Hà Nội và đảng Lao Động đã vận động cả một bộ máy quân sự lớn mạnh để thi hành vụ Mậu Thân trên toàn cõi miền Nam Việt Nam, lúc dân chúng miền Nam đang sửa soạn đón mừng năm mới theo truyền thống dân tộc. Trong khi đó, vụ Mỹ Lai bắt nguồn từ sự nóng giận nhất thời của một sĩ quan và một nhóm binh sĩ đang hành quân ngoài mặt trận, tại một quận hẻo lánh ở miền nông thôn Quảng Ngãi. Đó là chưa kể các sĩ quan và binh sĩ Hoa Kỳ nghi ngờ chính dân chúng Mỹ Lai đã tiếp tay cho quân du kích tấn công quân đội Hoa Kỳ.

* Khi phát hiện vụ Mỹ Lai một năm sau, quân đội Hoa Kỳ nhận trách nhiệm về vụ Mỹ Lai, đã đưa trung úy Calley ra xét xử trước pháp luật. Ngược lại, cho đến nay, bốn mươi năm sau, CSVN chưa hề lên tiếng chịu trách nhiệm và xin lỗi nhân dân Việt Nam về vụ Mậu Thân, hay xét xử các sĩ quan chỉ huy các vụ thảm sát ở Huế.

* Vụ Mỹ Lai được báo chí Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ tự do đưa tin, tường thuật, bình luận, kết án... Trong khi nhà cầm quyền cộng sản hoàn toàn bưng bít tin tức thảm sát Mậu Thân. Các báo chỉ được quyền ca tụng rằng cuộc tổng công kích Mậu Thân là một “chiến thắng” to lớn của quân cách mạng. Không phải riêng vụ Mậu Thân năm 1968, mà cho đến nay, tất cả báo chí trong nước đều do cơ quan nhà nước quản lý, nên tất cả báo chí trong nước đều chỉ là những cái loa truyền thanh phát đi một điệp khúc duy nhất do nhà cầm quyền cộng sản soạn sẵn mà thôi.

(Toronto, Canada)

(Còn nữa ... xin đọc tiếp phần cuối ...)

CHÚ THÍCH:

22. Stephen Hosmer, "Tổng tấn công Tết và Huế", đăng trong PTGDVNHN, sđd. tr.217.[Không đề tên người dịch]. Phần nầy trích trong sách của Stephen Hosmer, Vietcong Repression and its Implications for the Future, Massachusetts: Nxb. Heath Lexington Books, 1970.

23. Nguyễn Thế, "Nhớ về Mậu Thân", đăng trong PTGDVNHN, sđd. tr. 199. Theo Don Orberdorfer, con số nầy lên đến 400 người (DO, sđd.214).

24. PTGDVNHN, sđd. tt. 135, 143.

25. Elje Vannema, "Cố đô kinh hoàng", đăng trong PTGDVNHN, sđd. tt. 124-142. Bài nầy trích dịch từ Elje Vannema, sđd. [Không đề tên người dịch.]

26. Iris Chang, The rape of Nanking, New York: Nxb. BasicBooks, 1997, tt. 100-103. Tác giả Iris Chang đưa ra nhiều số liệu khác nhau từ nhiều nguồn tài liệu, và cho rằng con số tương đối là 300.000. (Iris Chang là một ký giả Hoa Kỳ gốc Trung Hoa, sinh năm 1967, tốt nghiệp Đại học Illinois ở Urbana.)

27. Stéphane Courtois và một số tác giả, Le livre noir du communisme: Crimes, terreur, répression, Paris: Nxb. Robert Laffont, 1997, bản dịch Anh ngữ của Jonathan Murphy và Mark Kramer, The Black Book of Communism, Crimes, Terror, Repression, Massachusetts: Nxb. Harvard University Press, in lần thứ nhì, 1999, tt. 368-369. Theo sách nầy: năm 1939, Liên Xô bắt cầm tù khoảng từ 240.000 đến 250.000 tù binh quốc gia Ba Lan, kể cả 10.000 sĩ quan. Liên Xô phân tán lực lượng trên đi làm đường hoặc lao động nặng nhọc ở các công trường và nông trường xa, và giam giữ khoảng gần 15.000 sĩ quan và cảnh sát Ba Lan tại các trại Starobielsk và Kozielsk (giam sĩ quan) và Ostaszkow (giam cảnh sát). Số nầy bị giết như sau: 4.404 tù binh trại giam Kozielsk, đem đến bắn và chôn ở Katyn; 3.896 tù binh trại giam Starobielsk bị giết sở tại chỉ huy mật vụ ở Kharkiv và chôn ở vùng ngoại vi thành phố nầy tại Pyatishatki; 6.287 tù binh trại giam Ostaszkow bị sát hại tại sở chỉ huy mật vụ Kalinin, và chôn ở khu Mednoe của thành phố nầy.

28. Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ & Quốc hội, California: Nxb. Văn Nghệ, tái bản năm 1996, tr. 150.

29. PTGDVNHN, sđd. tr. 205 (tin của Washington Post, ngày 9-3-1968), và tt. 250-254 (bài “Crescendo of Terror – Hue” của M. W. J. M. Broekmeijer.)

30. Sau đây là một cảnh tùng xẻo người của Việt Cộng: "Thiếu tá Từ Tôn Kháng, Tỉnh đoàn trưởng Xây dựng Nông thôn Thừa Thiên, nhà ở 176 Bạch Đằng (gần cầu Đông Ba) Huế, trốn trong nhà đã ba bốn ngày. VC [Việt Cộng] vào nhà bắt vợ con ra đứng giữa sân và tuyên bố nếu ông Kháng không ra trình diện thì sẽ tàn sát cả nhà. Vì thế ông phải ra nộp mạng. VC đã trói tay ông, cột ông vào cọc giữa sân, xẻo tai, cắt mũi, tra tấn cho đến chết, thật là dã man kinh hoàng." (Nguyễn Lý Tưởng, "Mậu Thân ở Huế", PTGDVNHN, sđd. tr. 89.)

31. Theo tác giả Nguyễn Lý Tưởng, lúc đó là dân biểu và có mặt ở Huế, thì thượng nghị sĩ Trần Điền, chủ tịch Uỷ ban Canh nông Thượng viện VNCH, một trong những nhà lãnh đạo Hướng đạo Việt Nam, bị bắt và bị chôn sống (bài đã dẫn, sđd., tr. 89). Theo ông Võ Ngọc Tụng, quận trưởng và chi khu trưởng quận Phú Thứ sau năm 1968, người trực tiếp trông coi vụ cải táng tại Phú Thứ, cho biết: khi lo cải táng nạn nhân Mậu Thân, người ta đã tìm thấy một hố 4 xác bị chôn sống của hai linh mục và hai thầy đại chủng viện (Võ Ngọc Tụng, "Cải táng đồng bào bị thảm sát", PTGDHNVM, sđd. tr. 195.) Theo ước tính cuả M. W. J. M. Broekmeijer trong bài “Crescendo of Terror – Hue”, sđd. tr. 252, thì số bị chôn sống lên đến khoảng 600 người.

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

a

a

a

a

a

 

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 5 January, 2011 21:03