a
a

Chu Chỉ Nam

a

Đinh Khang Hoạt

a

Đỗ Thông Minh

a

Lê Văn Xương

a

Nguyễn Anh Tuấn

a

Nguyễn Đình Toàn

a

Nguyễn Ngọc Huy

a

Nguyễn Trãi

a

Trần Gia Phụng

a

Trần Hưng Đạo

a

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

 

Biên Khảo

Lê Văn Xương

Một cách nhìn khác
về cuộc khủng hoảng hiện nay

Ai là kiến trúc sư chính của cuộc khủng hoảng hiện nay ?

Liệu chính quyền của Tổng-Thống OBAMA có thể đảo ngược được làn sóng hay không ?

Tác-giả : Michel Chossudovsky , là giáo-sư kinh tế tại Viện Đại-Học Montreal đã viết bài này  nêu lên một cách nhìn khác liên hệ đến cuộc khủng hoảng tài-chánh hiện nay . Tôi đã dịch lại để quý bạn có dịp đối chiếu với những gì đã được thảo luận trên diễn đàn . Sự khác biệt khá rõ là Giáo-Sư Chossudovsky nhìn vấn đề dưới khía cạnh thuần túy kinh tế qua lăng kính xã hội ; chúng ta trên diễn đàn nhìn vấn đề theo cách thực tiễn của người học hỏi cách thức hình thành các chính sách cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của thế giới , để từ đó có thể ứng dụng chút gì đó cho công việc của nước nhà trong tương lai .

Xin quý bạn đọc coi việc thu thập các dữ kiện do bài viết này để lộ ra là diều quan tâm chính để biết những nhà làm chính sách kinh tế tài-chánh của nước Mỹ nghĩ gì ? cũng như ảnh hưởng của các đường lối ấy đối với thế giới ra sao ? Đó là cái học thực,sách vở khó nói tới .

Bản dịch chắc có sơ sót , xin quý vị thông cảm và lượng thứ .Dường như đây là bản tóm lước các quan điểm của Giáo-Sư Chossudovsky nên không có tiêu đề . Tiêu đề tiếng Việt do tôi tự đặt ra .

                                                    ***

CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ NGHIÊM TRONG NHẤT THỜI CẬN ĐẠI  .

Đổ vỡ tài chánh tháng 10/2008 không phải là kết quả của hiện tượng chu kỳ kinh tế , nó là kết quả của các dàn dựng về mặt chính sách giữa Bộ Ngân-Khố với Hội-Đồng Điều-Hành Quỹ Dự-Trữ Liên-Bang , và là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất đối với lịch sử thế giới cận đại .

Kế hoạch cứu nguy của Bộ Ngân-Khố không tạo ra một giải pháp cho cuộc khủng hoảng này  ngược lại trong thực tế nó đẩy cuộc khủng hoảng đến chỗ nặng nề hơn , mau hơn . Nó tạo ra việc tập trung sự giầu có chưa từng sảy ra trước đây nhằm mở rộng cách biệt về kinh tế, xã hội trong lòng các quốc gia cũng như giữa các quốc gia với nhau .

Nợ nần tăng vọt , các công ty công nghiệp bị phá sản để rồi bị mua lại bởi các định chế tài chánh toàn cầu . Tín dụng được cung cấp bởi các quỹ cho vay từ nguồn vốn của các quỹ tiết kiệm và đầu tư bị không chế nghiêm ngặt bởi bàn tay sắt của các tập đoàn tài chánh quốc-tế .

Với kế hoạch cứu nguy , nợ quốc gia tăng từ từ . Mỹ trở thành con nợ lớn nhất thế giới . Trước khi cứu nguy , nợ của Mỹ được ấn định là 10 ngàn tỷ dollars gồm hối phiếu , công trái giữ bởi các cá nhân , chính phủ ngoại quốc, công ty và các định chế tài chánh khác .

KẾ HOẠCH CỨU NGUY , MỸ TỰ TÀI TRỢ CHO NỢ CỦA CHÍNH MÌNH

Rất nực cười là các ngân hàng ở Wall Street - là khách hàng của kế hoạch cứu nguy – lại chính là người môi giới và ghi nợ các khoản nợ của chính-phủ Mỹ . Ngân hàng chỉ giữ một phần trong các khoản nợ của chính phủ Mỹ mà thôi , phần lớn các khoản nợ ấy họ mua bán và chuyển dịch nợ của chính phủ bằng hệ thống chuyển dịch nợ toàn cầu .

Trong vòng xoắn ấy , ngân hàng là khách hàng của ngân khoản hơn 700 tỷ dollars cứu nguy trong khi dó , họ hành động như trái chủ của chính phủ Mỹ . Chúng ta đối diện với mối quan hệ lố bịch là :” để tài trợ cho kế hoạch cứu nguy , Hoa-Thịnh-Đốn phải mượn tiền của ngân hàng mà ngân hàng lại là khách hàng chính yếu của kế hoạch cứu nguy tài chánh .

Như vậy , chính phủ Mỹ đã tự tài trợ cho kế hoạch cứu nguy của mình .

Liên bang ,Tiểu bang , Quận Hạt bị kéo căng ra vì sự kiểm soatschawtj chẽ của các tổ hợp tài chánh toàn cầu . Các trái chủ gia tăng đòi hỏi phải cải cách chính quyền . Như vậy kế hoạch cứu nguy đã củng cố và tập trung quyền lực của các ngân hàng , rồi ra sẽ làm cho kinh tế chậm hẳn lại , dẫn đến vòng vỡ nợ , thất nghiệp bùng phát .

LIỆU CHÍNH QUYỀN OBAMA CÓ THỂ LÀM ĐẢO NGƯỢC CHIỀU HƯỚNG NÀY ĐƯỢC KHÔNG ? 

Khủng hoảng tài chánh bắt nguồn từ cấu trúc tài chánh thiếu luật lệ minh bạch . Obama dứt khoát đổ lỗi cho Hành-Pháp Bush cũng như việc dân chủ hóa hệ thống tài chánh . Ông cam kết sẽ làm đảo ngược lại làn sóng .

Nguyên văn lời Ông : “ Điều mà cuộc khủng hoảng này dạy cho ta là : chúng ta không thể làm cho phố Wall thịnh vượng trong khi vùi dập phố Main ( chứng khoán và hàng hóa ) , đất nước này thăng trầm cũng là một quốc gia , như một con người ( Obama  11 /4/2008 ) .

Đảng Dân-Chủ cũng không ngừng lên tiếng đổ lỗi cho TT Bush về biến cố đổ vỡ tài chánh tháng 10/2008 .

Obama nói : Ông sẽ đề nghị một loạt chính sách khác hẳn nhằm đáp ứng với các lợi ích của phố Main ( tức là những người lao động làm ra hàng hóa ) .

Nguyên văn lời ông : “ Mai đây bạn có thể lật sang trang đối với các chính sách tham lam và vô trách nhiệm của phố Wall đối với các lao động khổ cực và hy sinh của mọi người trên phố Main . Mai này bạn có thể chọn đường lối tập trung đầu tư vào giới trung lưu , tạo dựng công việc , phát triển kinh tế để mọi người có cơ hội thụ hưởng , từ chủ tịch công ty đến người thư ký đến người quét dọn , từ chủ doanh nghiệp đến những nhân công trực tiếp sản xuất (11/3/08 ) .

Phải chăng Obama cam đoan chế ngự phố Wall và giải tán thị trường tài chánh ?

Nực cười thay , chính thời chính phủ Bill Clinton mà chính sách tham lam và vô trách nhiệm này được phác thảo  .

Năm 1999 Đạo-Luật Hiện-Đại Hóa hệ thống tài chánh ( Financial Services Modernization Act FSMA ) được soạn thảo dựa vào căn bản của đạo luật Glass-Steagall Act năm 1933 là nền tảng của kế hoạch thỏa hiệp mới New dealt để đưa Ông  F. Roosevelt lên làm Tổng-Thống . Luật Glass-Steagall chủ yếu chống lại tham nhũng , lươn lẹo về tài chánh , buôn bán nhờ tin tức từ vòng trong , kết quả là 5,000 ngân hàng vỡ nợ tiếp theo sau cuộc khủng hoảng ở Wall-Street nawm1929 .

Ông Bill Clinton ký ban hành luật Gramm-Leach-Bliley Financial Services Modernization Act  (FSMA) vào ngày 12/11/1999 . Luật FSMA cho phép kiểm soát toàn diện đối với kỹ nghệ tài chánh ( bao gồm các công-ty bảo hiểm , quỹ hưu bổng ,công ty chứng khoán …)và được chuyển giao vào tay những công ty tài chánh hùng mạnh cùng với các quỹ thả nổi ( hedge Funds ) thuộc các tập đoàn tài chánh này .

KỸ SƯ CHÍNH CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG NÀY .

Ai là kỹ sư chính của thảm kịch hôm nay ? trớ trêu thay ,  kỹ sư chính của thảm họa tài chánh hôm nay nằm trong nhóm chuyển quyền của Tổng-Thống tân cử là Obama và được dự trù sẽ nắm Bộ Ngân-Khố .

Lawrence Summers giữ vai trò chủ chốt trong việc thuyết phục Quốc-Hội thông qua Đạo-Luật Glass-Steagall mới . Ông được Bill Clinton bổ nhiệm làm Bộ-Trưởng Ngân-Khố năm 1999 để soạn thảo đạo luật Hiện-Đại Hóa Hệ-Thống Tài-Chánh và được thông qua vào thangs11/1999 . Sau khi hoàn tất công việc , Ông trở về làm Chủ-Tịch Viện Đại-Học Harvard từ năm 2001 đến 2006 .

Paul Volcker là Chủ-Tịch Quỹ Dự-Trữ Liên-Bang năm 1980 dưới thời Tổng-Thống Reagan là đầu mối của hệ thống tài chánh vô luật pháp đã dẫn đến hàng loạt vụ phá sản , sáp nhập và mua bán ( Merger and Acquisition  , M@A )  và dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chánh năm 1987 .

Timothy Geithner là Chủ-Tịch Quỹ Dự-Trữ chi nhánh Nữu-Ước , là định chế tài chánh tư nhân hùng mạnh nhất nước Mỹ , cựu viên chức Bộ Ngân-Khố dưới thời Bill Clinton , hợp tác với công ty của Kissinger (Kisinger@ Asociates) , đồng thời là viên chức cao cấp của Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế (IMF) . Quỹ Dự-Trữ chi nhánh Nữu-Ước  ( Federal Reserve Bank New-York , FRBNY ) đóng vai trò ngầm trong việc định hướng chính sách tiền tệ . Geithner hành sử nhân danh nhóm quyền lực tài chánh mà đằng sau là FRBNY , Ông ta cũng là thành viên của CFR ( Council of foreign Relations ).

Jon Corzine hiện là Thống-Đốc Bang New Jersey , Cựu Chủ-Tịch Goldman-Sachs .

Trong lúc viết bài này thì Obama rất thích Larry Summers , nên là người đứng đầu trong danh sách sẽ làm Bộ-Trưởng Ngân-Khố

Giáo-Sư kinh tế ở Harvard đã từng làm kinh tế gia trưởng của World-Bank. Từ 1991đến 1993 . Ông đã hoạch định kế hoạch cải tổ kinh tế đại tượng áp đặt nợ khổng lồ đối với các quốc-gia đang phát triển . Hậu quả chính trị kinh tế của kế hoach cải tổ dưới sự bảo trợ của IMF và World – Bank được gọi là chương trình điều chỉnh cơ cấu ( Structural Adjustment Program , SAP ) đã bị phá sản, kết quả là nghèo khó sâu rộng . Kế hoạch siết chặt tín dụng của Larry Summers tại Ngân-Hàng Thế-Giới trùng hợp với lúc Liên-Xô tan rã , song song với các liều thuốc chết người được IMF và World-Bank áp đặt lên Đông-Âu , Balkan cũng như cựu Liên-Xô đã làm cho vùng này trở nên suy tàn .

Năm 1993 Summers trở lại Bộ Ngân-Khố , lúc đầu giữ chức Thứ-trưởng đặc trách Quốc-Tế sau lên làm Phó Bộ-Trưởng . Với mối quan hệ cũ với Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế cũng như Ngân-Hàng Thế-Giới , Ông giữ vai trò chủ chốt trong việc giàn dựng kế hoạch cải tổ kinh tế chết người để dẫn đến cuộc khủng hoảng ở Á-Châu năm 1997 bao gồm Nam Triều-Tiên , Thái-Lan và Indonesia .

Kế hoạch cứu nguy ba quốc-gia này được phối hợp yuwf văn phòng của Summers tại Bộ Ngân-Khố , với sự tiếp tay của Ngân-Hàng Dự-Trữ Nữu-Ước cùng với các định chế tài-chánh được thành lập bởi Hội-Nghị Bretton Woods tại Hoa-Thịnh-Đốn . Summers làm việc chặt chẽ với Phó Giám-Đốc điều hành của IMF là Stanley Fisher sau này làm Chủ-Tịch Ngân-Hàng Trung-Ương Do-Thái .

Larry Summers trở thành Bộ-Trưởng Ngân-Khố hồi tháng 7/1999 - được bảo trợ bởi David Rockerfeller – và là kiến trúc sư chính của đạo luật lừng danh : “ HIỆN ĐẠI HÓA TÀI CHÁNH “ ( FSMA)  đã cung cấp phương tiện pháp lý hợp pháp cho việc buôn bán trên thị trường nhờ tin vòng trong cùng với việc lươn lẹo về tài chánh ( inside trading )

ĐỂ SÓI CHĂM SÓC ĐÀN GÀ .

Summers hiện là cố vấn cho Goldman-Sachs đồng thời là Giám đốc điều hành của quỹ thả nổi ( hedge Fund ) D-E Shaw Group . Với tính cách là người điều hành Hedge-Fund , Ông liên lạc với Bộ Ngân-Khố và Wall-Street để được cung cấp các tin tức mật liên hệ đến các chuyển dịch của thị trường tài chánh thế-giới .

Thử hỏi , khi đặt quản trị viên của hedge fund – có liên hệ mật thiết với các nhà kiến tạo của Wall-Street – phụ trách Bộ Ngân-Khố , thì nào có khác gì với việc đặt sói canh giữ đàn gà.

NHÓM QUYẾT ĐỊNH Ở HOA-THỊNH-ĐỐN .

Summers,Geithner, Corzine,Volcker,Fisher,Phil Gramm,Bernanke,Hank Paulson,Rubin,chả cần nói đến Greenspan đều là bạn thân , họ chơi golf chung , đều là thành viên của CFR hoặc Bilderberg , nếu có bất đồng thì cũng vì quyền lợi của Wall-Street , họ họp kín , cùng một tần số Cộng-Hòa cũng như Dân-Chủ .

Thỉnh thoảng có vài bất đồng , thực ra họ cam kết vững chắc đối với các đồng thuận giữa Hoa-Thịnh-Đốn với Wall-Street . Họ thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cải tổ kinh tế tài chánh , mục đích cũng chỉ kiếm lời . Chả bận tâm đến sự hữu hiệu của thị-trường , càng ít quan tâm đến đời sống con người . Ảnh hưởng của các cải cách chết người về kinh tế đại tượng và về tài chánh rồi ra sẽ dẫn đến việc phá sản hàng loạt đối với nhiều khu vực kinh tế thế-giới .

Các luận điểm nêu ra bởi chủ trương kinh tế mới đầy tính hoài nghi và miệt thị . Về mặt này , quan điểm của Summers là đứng ngoài , nhưng Ông ta được biết đến bởi các nhà môi sinh là người chủ trương đổ các rác rưởi độc hại đến các quốc-gia thuộc thế-giới thứ ba . Vì dân nước nghèo sống yểu hơn và giá công lao động rẻ mạt ( xin hiểu là các kỹ nghệ gây ô nhiễm , dùng nhiều sức lao động , Labor intensive ) . Theo Summers , điều này làm cho hiệu năng tăng rất cao khi xuất khẩu các kỹ nghệ độc hại đến các nước nghèo .

Trong văn thư ký bởi Kinh-Tế-Gia Trưởng của Ngân-Hàng Thế-Giới có đoạn viết như sau :

Ngày Dec/12/1991 .
From  :  Summers .
Subject  :  GEP ( chữ này có thể có nghĩa là : Global Environement Plan )

“ Kỹ nghệ gây ô nhiễm cần được chuyển nhiều hơn đến các quốc-gia kém phát triển vì ba lý do sau đây :
1 - Ước tính chi phí y tế liên hệ đến môi sinh dự trù sẽ gia tăng do bệnh tật và tử vong . Từ quan điểm này để so chiếu mối liên hệ giữa sức khỏe với ô nhiễm tại các nước nghèo , cũng là các quốc-gia có đồng lương thấp nhất , cho nên tôi (Summers) nghĩ rằng : thật hợp lý về phương diện kinh tế khi đổ các chất thải ô nhiễm đến các quốc-gia só đồng lương thấp , đó là biện pháp hoàn hảo mà ta nên làm .

2 -  Phí tổn về ô nhiễm dường như có thể giữ được ở mức độ rất thấp . Tôi luôn nghĩ rằng những vùng thưa dân như tại Châu-Phi là vùng ít bị ô nhiễm nhất , chất lượng không khí ở đây có thể ở mức độ hữu dụng rất thấp so với Los-Angeles hay Mexico city . Điều duy nhất đáng trách là : hầu hết các ô nhiễm phát sinh do kỹ nghệ không thể chuyển đổi ( non trandable industries ) như vận chuyển  , và phí tổn vận chuyển một đơn vị sản phẩm cứng ô nhiễm ( solid  waste ) đã quá cao , nên đã ngăn chặn lợi ích của thế giới trong việc trao đổi buôn bán đối với không khí ô nhiễm cũng như rác rưởi .

  1. -  Nhu cầu đòi hỏi môi sinh trong lành về phương diện thẩm mỹ cũng như y tế sẽ gia tăng khi lợi tức gia tăng ( nghĩa là mức cầu tăng khi lợi tức tăng ) . Mối quan tâm về một hóa chất nào đó chỉ làm thay đổi một phần triệu đối với người bị ung thư tuyến tiền liệt cũng trở nên rất cao tại các quốc-gia mà dân chúng có thể sống sót về căn bệnh này so với các quốc-gia có tỷ lệ tử vong dưới 5 hoặc 200 trên 1,000 người mắc bệnh … Summers chủ trương xuất khẩu ô nhiễm đến các quốc-gia đang phát triển sẽ tạo ảnh hưởng sâu rộng đối với chính sách môi sinh của Mỹ .

 

Năm 1994 , nhìn chung mọi quốc-gia trên thế-giới đều chống  lại chủ trương mà Summers gọi là “ sự hợp lý về kinh tế “ trong việc đổ các chất thải từ các quốc-gia đã công nghiệp hóa (OECD ) đến các quốc gia chưa công nghiệp hóa ( NON OECD ) , việc này sau đó bị cấm chỉ bởi thỏa hiệp Basel . 5 năm sau Mỹ là một trong vài quốc gia chót phê chuẩn hiệp ước Basel cấm xuất khẩu các phế liệu độc hại từ các quốc-gia công nghiệp đến các quốc-gia chưa công nghiệp hóa .

KHỦNG HOẢNG Á- CHÂU NĂM 1997 LÀ MỘT CUỘC DIỄN TẬP .

Năm 1997 các định chế tài chánh đã hợp sức nhằm tạo ra cuộc khủng hoảng tài chánh chống lại Thái-Lan , Indonesia và Nam Triều-Tiên , đã dẫn đến tình trạng phá sản của hệ thống tiền tệ của các quốc-gia này và chuyển hàng tỷ dollars từ ngân-hàng trung-ương qua tay các công ty tài chánh tư nhân . Nhiều nhà quan sát đã nêu lên các nghi vấn về các mánh khóe có cân nhắc kỹ lưỡng liên quan đến chứng phiếu cũng như thị trường tiền tệ thông qua các ngân hàng đầu tư cũng như các công ty môi giới .

Khi kế hoạch trợ giúp được chánh thức thương thuyết với Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế ( IMF ) thì các ngân hàng thương mại chính ở Newyork ( Commercial Bank : Chase ,Bank of America ,City Group , J P Morgan ) cũng như 5 ngân hàng mua bán ( Merchant bank : Goldman Sach ,Lehman Brother , Morgan Stanley , Salomon Smith Barney ) đã được thông báo về thỏa hiệp mua bán ở Á-Châu .

Bộ Ngân-Khố phối hợp chặt chẽ với  Wall-Steet cùng các định chế tài chánh được thành lập theo thỏa hiệp Bretton-Woods đã giữ vai trò trung tâm trong việc mua bán này . Larry Summers và Timothy Geithner đã nhân danh Bộ Ngân-Khố trong kế hoạch mua bán nhắm vào Nam Triều-Tiên , Ông Rubin tuy thận trọng nhưng cũng đồng ý với việc mua bán này .

Điều gì sảy ra ở Nam Triều-Tiên theo khuyến cáo của Phó Bộ-Trưởng Ngân-Khố Summers thực ra là :” chả làm gì cả với việc cứu nguy tài chánh “. Nam Triều Tiên bị lục soát thô bạo , Phụ-Tá Bộ-Trưởng Ngân-Khố David Lipton được phái đến Seoul đầu tháng 12-1997 . Cuộc thương thuyết mật được tiến hành , Hoa-Thịnh-Đốn đòi hỏi phải cách chức Bộ-Trưởng Tài-Chánh Nam Triều-Tiên và phải chấp nhận cứu nguy vô điều kiện của Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế  . Bộ Trưởng Tài-Chánh mới là cựu viên chức của IMF cũng như World Bank đã vội bay đi Washington để tham khảo với đồng nghiệp cũ của Ông tại IMF là Phó Giám-Đốc Điều Hành Stanley Fisher .

Quốc-Hội Nam Triều-Tiên họp khẩn ngày 23 tháng 12 , quyết định cuối cùng về 57 tỷ dollars được thông qua ngay sáng hôm sau Dec-24 . Sau giờ làm việc ở New-York , các nhà tài chánh hàng đầu ở New-York được mời đến họp khẩn tại văn phòng Quỹ Dự-Trữ Liên-Bang chi nhánh New-York để thông báo diễn tiến sự việc . Sáng hôm sau Dec-25 , năm ngân hàng mua bán được thông báo . Chiều ngày Dec-25  khi các ngân hàng đã chuẩn bị xong thì  IMF chuyển nagy 10 tỷ dollars cho Seoul để bù đắp thiếu hụt trong ngắn hạn .

TỦ SẮT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG NAM TRIỀU TIÊN BỊ LỤC LỌI .

Những nhà mại bản và những kẻ cơ hội đã rất băn khoăn chơ đợi cơ hội này . Cũng chính định chế này trước đây đã thao túng đồng Won của nam Triều-Tiên , chuyển tiền vào IMF để rồi dùng tiền ấy thực hiện kế hoạch cứu nguy này . Quả thực là rất đểu cáng  ( số tiền ký thác SDR  special drawing right  , xin xem Chossudovsky trong “ The recolonization of Korea , trong ấn bản Global Research , Montreal . Chương liên hệ , Globalization of poverty and New world Order ) .

Phương thuốc kinh tế cực mạnh được nhóm quyền lực ở Hoa-thịnh-Đốn kê toa với ý đồ “ đau trong đoản kỳ để có lợi lâu dài “ . Đó cũng là chiều hướng của World-Bank trong thời kỳ Larry Summers làm kinh tế gia trưởng của Ngân-Hàng Thế-Giới .( Xin xem IMF , World-Bank reforms leave poor behind , Bank Economist finds , Bloomberg Nov-7-2000 ) .

Điều ta chứng kiến là “ mạng lưới tập hợp các giới chức và cố vấn già ở Bộ Ngân-Khố , FED , World Bank cũng như các Think-Tank ở Washington , tất cả đều có liên hệ thường trực với các nhà tài chánh cầm đầu Wall-Street .

Cho nên dù Obama chọn ai thì nhóm chuyển tiếp vẫn là nhóm vòng trong ở Washington .

ĐẠO LUẬT HIỆN ĐẠI HÓA HỆ THỐNG TÀI CHÁNH .

Các cuộc tranh luận dài trong phong kín tại Hội-Đồng Điều-Hành Wall-Street nhằm giới hạn quyền lực của các tập đoàn tài chánh hùng mạnh ở Wall-Street cũng chỉ là vấn đề giấy tờ mà thôi . Larry Summers giữ vai trò trung tâm đối với việc hình thành đạo luật này . Ông làm việc mật thiết với Thượng-Nghị-Sỹ Phil-Gramm ( 1985 đến 2002 ) làm Chủ-Tịch Ủy-Ban Ngân-Hàng Thượng-Viện , và là kiến trúc sư chính của đạo luật hiện đại hóa hệ thống tài chánh được ký ban hành ngày 12 tháng 11 năm 1999 ( toàn bản văn ,click Congress ; pub. L 106-102 ) còn được gọi là luật Gramm-Leach-Blinley , Financial Services Modernization Act . Là Thượng Nghị-Sỹ Tiểu-Bang Texas , Phil Gramm có liên hệ chặt chẽ với vụ Enron .

Vào tháng 12-2000 , cuối nhiệm kỳ của Ông Bill Clinton , Gramm đề nghị một dự luật mới được gọi là Gramm-Lugar Commodity Futures Modernization Act nhằm hiện đại hóa việc mua bán hàng hóa giao trong tương lai để mở đường cho việc thao túng giá cả đối với các mặt hàng sinh tử như dầu thô và lương thực .

Ông tuyên bố : “ Đạo luật nhằm bảo đảm cho thị trường chứng-khoán cũng như Ủy-Ban mua bán hàng hóa giao trong tương lai ( commodity futures trading commission  CFTC ) có căn bản luật lệ đối với các sản phẩm tài chánh cũng như bảo vệ các định chế tài chánh tránh khỏi tình trạng quá nhiều luật lệ , đồng thời lập căn cho vai trò lãnh đạo thế giới  của kỹ nghệ tài-chánh Mỹ trong thế kỷ tới  ( xin xem David Corn , Foreclosure Phil , Mother Jones , july@august-2008 ) “

Phil Gramm là người mà Mc Cain chọn làm Bộ-Trưởng Ngân-Khố nếu đắc cử .

Theo luật FSMA được Thượng-Viện thông qua vào tháng 10-1999 - được Ông Bill Clinton ký ban hành sau đó – “ cho phép các ngân hàng thương mại , hãng môi giới chứng khoán ,quỹ thả nổi ( hedge funds ) định chế đầu tư , quỹ hưu và các công ty bảo hiểm được tự do đầu tư qua lại cũng như toàn quyền mở rộng các hoạt động tài chánh của họ “ .

Như vậy một đại siêu thị tài chánh toàn cầu được mở ra để dồn sức mạnh cho các tập đoàn tài chánh , nhân vật đứng sau vụ này là Larry Summers – Bộ Trưởng Ngân-Khố Mỹ với mối liên hệ mật thiết với David Rockerfeller . Summers đã mô tả FSMA là đạo luật đặt căn bản cho hệ thống tài chánh trong thế kỷ 21 .

Nhưng chính đạo luật này đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay .

GIẢI GIỚI TÀI CHÁNH .

Cuộc khủng hoảng này không thể giải quyết được trừ khi tái cấu trúc lại toàn bộ hệ thống tài chánh nhằm chấm dứt hẳn nạn đầu cơ tích trữ cũng như giải giới hẳn  thị trường tài chánh . Kế hoạch giải giới này đã được John Maynard Keyes đề nghị tiên khởi hồi thập niên 1940 như phương thức nhằm thành lập HỆ THỐNG TÀI CHÁNH QUỐC TẾ ĐA CỰC ( multipolar international monetary system , xin xem J.M Keyes , activity 1940-1944 , shaping the post war world : The clearing union , the collected writings of J.M Keyes , Royal Economic Society , Mc Milan and Cambridge University Press vol xxv , London 1980 page 57 ) .

MAIN STREET VERSUS WALL STEET . ( hàng hóa đối diện với chứng khoán )

Ông Obama có bổ nhiệm ai ở phố MAIN hay không nhằm đáp ứng với quyền lợi của dân Mỹ , thực tế thì không một lãnh tụ Công-Đoàn hoặc cộng-đồng nào nằm trong danh sách các vị trí then chốt trong nhóm chuyển giao quyền lực của Ông Obama cả . Tổng-Thống tân cử đã cử nhiệm kiến trúc sư chính của chủ trương đường lối tài chánh vô luật lệ phụ trách Bộ Ngân-Khố .

Như vậy cải cách tài chánh không thể thực hiện được có ý nghĩa bởi các giới chức được Wall-Steet tiến cử và hành động nhân danh quyền lợi của Wall-Steet . Những ai liên hệ đến sự kiện Hiện-Đại-Hóa Hệ-Thống Tài-Chánh năm 1999 cần được thải hồi .

Giải pháp đề nghị cứu nguy hiện nay chỉ tổ dẫn đến đổ vỡ kinh tế sớm hơn mà thôi .

Các Tâp-Đoàn Tài-chánh  cũng đáng bị bắn , họ quyết định thành phần nội-các của Obama , quyết định nghị-trình của Hội-Nghi Tài-Chánh G20 ngày 15 tháng 11 năm 2008 tại Washington , hiện bị đả kích vì muốn áp đặt nền tảng cho cấu trúc tài chánh toàn cầu .

Các tranh luận trong phòng kín ở Wall-Steet với ý đồ căn bản tiềm ẩn là : “ muốn thiết lập một hệ thống tiền tệ quốc tế đơn cực , chi phối bởi sức mạnh tài chánh Mỹ và được bảo chứng bởi ưu thế về sức mạnh quân sự Mỹ .

CHỦ NGHĨA GIẢI PHÓNG MỚI VÀ BỘ MẶT NHÂN LOẠI .

Hiện không có bất cứ dấu chỉ nào cho thấy Obama cắt đứt quan hệ với lực bảo trợ Ông ta ở Wall-Steet , họ đã tài trợ rất lớn cho kế hoạch tranh cử của ông ta . Goldman-Sachs , J.P Morgan –Chase , City group , Bill Gates Microsoft …là những người đóng góp chính .

Warren Buffet là cá nhân giầu có nhất thế giới không phải chỉ yểm trợ cho Obama lúc vận động tranh cử không thôi mà còn là nhân vật chủ chốt trong nhóm chuyển tiếp  thành lập nội-các của Obama .

Trừ khi có các chuyển hướng có ý nghĩa trong việc bổ nhiệm một số chức vụ nồng cốt , nếu không thì các cam kết của Obama về kinh tế nhằm cứu người nghèo khó hoặc tạo công ăn việc làm xem ra là xa vời . Chúng ta cần chờ xem .

Obama đã thể hiện mặt thật rất người trong nguyên trạng , nhưng có thể dẫn nước Mỹ đến chỗ sai lầm về kinh tế cũng như về chính trị . Các kế hoạch kinh tế theo chiều hướng tân tự do hiện vẫn nằm im , nền tảng của kế hoạch này là cứu các định chế tài chánh đã từng phá hủy kinh-tế Mỹ trong khi không đoái hoài gì đến khu vực sản xuất cũng như dịch vụ hiện đang bị vỡ nợ .

                                                       *****

Kính thưa ban đọc , theo thông lệ khi dịch một bài của tác giả không phải là người Việt , tôi có thói quen trình bày đôi điều về cảm nghĩ của mình liên quan đến bài viết đó .

Tôi nghĩ rằng Giáo-Sư Chossusky có thể là người gốc Nga hoặc vùng Balkan ít nhiều chịu ảnh hưởng của cách suy nghĩ kiểu Pháp nặng về chủ nghĩa xã-hội  duy lý , khác nhiều với cách suy nghĩ theo trường phái Anglo-Saxon quen đặt vấn đề thực tiễn và giải quyết vấn đề theo cách thực tiễn . Điều này dễ đưa đến nhiều ngộ nhận là trường phái Anglo-Saxon quá lạnh lùng chả thèm đếm xỉa gì đến tình người . Sự thực thì cái duy lý kiểu Anh-Mỹ với cái duy lý kiểu Pháp khá khác biệt :” một bên thực dụng trong cả một kế-hoạch trong đường dài nhằm khuất phục các thế lực khác không đồng tình , bên kia thì lúc nào cũng đặt ra vấn đề nhân đạo  “. Cả hai , tuy vậy cũng có bổ sung cho nhau để làm cho xã hội phương Tây trở nên nhân ái hơn .

Cho nên khi đọc bài này , xin quý bạn đọc coi các dữ kiện nêu lên là chính yếu , xử dụng các dữ kiện ấy theo cách nhìn của người quan sát các chính sách mà Hoa-Kỳ đã tiến hành trong hơn 10 năm qua là các kinh nghiêm thực tế để ta có thể rút ra các bài học hữu ích cho tương lai của đất nước sau này . Dĩ nhiên còn rất nhiều bài học khác nữa , ước mong duy nhất của tôi là mong sao  : các vị bằng cao chức trọng chân thành đóng góp công sức của mình vào công việc chung để các thế hệ trẻ có dịp rút tỉa ra các bài học bổ ích , thay vì bon chen với những tham vọng viển vông .

Trong chiều hướng ấy , bài viết của Giáo-Sư Chossudovsky cần được nhìn dưới khía cạnh an ninh kinh tế của Mỹ cũng như thế giới nói chung .

An ninh quốc-gia là một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với bất cứ người làm chính sách nào . Không phải đến khi kẻ thù đem quân áp sát biên giới thì lúc đó vấn đề an ninh mới được đặt ra , khi ấy đã quá trễ , quốc-gia ấy chỉ còn con đường duy nhất là đầu hàng và những ai lãnh đạo quốc gia đã để cho một tình huống như vậy sảy ra thực đáng tội đối với tổ tiên .
Cho nên lãnh đạo quốc-gia là một việc cực kỳ hệ trọng không thể để lọt vào tay những kẻ cơ hội ngu xuẩn được , trọng trách cao quý ấy phải được giao phó cho những vị có trí tuệ cao viễn với cái tâm lành , hiểu biết thấu đáo về bạn cũng như thù , biết rõ hướng đi tới của nhân loại , để chuẩn bị các kế hoạch trong đường dài đến cả trăm năm . Những vị như vậy không thể một sớm một chiều mà đào tạo được , ngay cả khi có những vị như vậy thì việc đặt quyền lực trong tay các vị ấy cũng không dễ dàng vì các nhóm chống đối luôn hành động vì quyền lợi riêng tư của mình nên dễ làm hỏng việc lớn của quốc-gia . Nếu bảo rằng đây là biểu hiện của các mâu thuẫn nội tại thì cũng đúng thôi ; quốc gia nào cũng vậy , trong quá trình tiến lên của mình luôn phải đấu tranh gay gắt với các thế lực nội tại để mở ra một hướng mới cho đất nước .

 Một đất nước chậm tiến chính là biểu hiện của đất nước chưa giải quyết được các mâu thuẫn nội tại đúng hướng , cho nên mâu thuẫn nọ chồng lên mâu thuẫn kia để từng bước tiến dần đến sự phân rã toàn diện . Đó là trường hợp của nước ta và cũng là của Hán và rất nhiều quốc-gia khác . Đó là mặt khác của bất ổn toàn cầu hiện nay .

Một đất nước tiến bộ là một đất nước biết cách giải quyết rốt ráo đối với các mâu thuẫn nội tại đối với các vấn đề có tính nguyên tắc , để tìm lấy một dung hợp mới trên căn bản mà các thế lực nội tại chấp nhận và đồng lòng thống nhất ý chí trong sách lược đối với quốc-gia trong đường dài . Trong tình huống ấy : “ một ban lãnh đạo quốc-gia được hình thành trong thực tế với sự chấp nhận của các thế lực chính yếu bên trong quốc-gia ấy “ .

Đó chính là vấn đề của Hoa-Kỳ khi ta xem xét các diễn biến về mặt tài chánh mà Giáo-Sư Chossudovsky đã nêu lên ; cho nên các chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng hiện nay cần được xem xét dưới khía cạnh an-ninh kinh tế của nước Mỹ là chính yếu , khi ấy các vấn đề có tính chuyên môn trở thành thứ yếu .

I   -   BRETTON  WOODS I  VÀ VIỆC HÌNH THÀNH CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÁNH QUỐC TẾ .

Tình hình thế giới trước và sau thế chiến thứ nhất bị chi phối bởi hai yếu tố chính . Đó là sự thao túng của chủ nghĩa thực dân Âu-Châu cùng với sự hình thành của chủ nghĩa bành trướng đại Nga nhân danh chủ-nghĩa Cộng-Sản có tiềm năng đảo ngược thế cờ đối với đế quốc được coi là sừng sỏ nhất là Anh-Quốc cũng như các giá trị thiên chúa giáo tại Rome khi mà Âu-Châu đã bị tan hoang vì thế chiến .

 Việc này làm cho người Mỹ âu lo nếu các cao trào công-đoàn tại Âu-Châu đoàn kết lại dưới quyền điều phối của Quốc-Tế III để làm tan rã Âu-Châu . Một Âu-Châu tan rã thì các quốc-gia bị trị sẽ nổi lên dành độc lập dưới quyền điều phối của Nga .

Các mâu thuẫn bên trong nội bộ các quốc-gia Âu-Châu vào thời điểm trước và sau thế-chiến I đã trở nên rất gay gắt do các chính sách cố kiềm chế tham vọng của Đức của Anh và Pháp đã tỏ ra không đem lại kết quả . Cho nên ngay khi thế chiến I vừa dứt thì viễn ảnh về một cuộc chiến khác lớn lao hơn đã ló dạng ; cho dù Anh,Pháp cố giới hạn việc Đức tái vũ trang cũng như các toan tính thành lập Hội Quốc-Liên nhằm hóa giải các mâu thuẫn giữa Đức với các quốc-gia thực dân không phải Đức .

Người Mỹ nhìn thấu đáo cả hai vấn đề mấu chốt của tình hình thế giới vào lúc ấy ; với Nga thì sự thất bại trong chính sách kinh tế mới cùng với các mất mát trong thế chiến I không làm cho Nga-Xô có thể tự vực dậy mau chóng được để có thể bành trướng . Mục-tiêu ngay sau thế chiến I chính là Âu-Châu , đó là làm thế nào để Âu-Châu cổ tan rã , việc này rồi ra sẽ dẫn đến sự trỗi dậy của các quốc-gia bị trị .

Sau thế chiến I ,Mỹ đã trở thành chủ nợ chính của khắp các quốc gia Âu-Châu , kinh tế Mỹ đã bộc phát mạnh mẽ do cuộc chiến này để trở thành guồng máy sản xuất có khả năng chi phối toàn cầu . Đây cũng là tai họa tiềm ẩn đối với xã hội Mỹ khi sức cung quá lớn trong khi mức cầu bị giới hạn do đà phục hồi của Âu-Châu sau thế chiến I cũng như chính sách bế quan tỏa cảng của các quốc-gia thực dân đối với các vùng rộng lớn bị thực dân đô hộ . Kết quả là cuộc đại khủng hoảng năm 1929 nổ ra nhằm điều chỉnh lại các bất quân bình giữa cung-cầu trong khuân khổ Âu-Châu với Bắc-Mỹ là chính yếu , các vùng khác tuy có bị ảnh hưởng nhưng nhẹ không đáng kể .

Người Mỹ đã tốn gần 4 năm mới đi đến một thỏa hiệp giữa các thế lực chính yếu tại Mỹ để đưa Ông  F.D Roosevelt lên làm Tổng-Thống với thỏa hiệp mới được gọi là New Dealt . Trong phòng họp kín thì cụ thể kế hoạch này là gì chúng ta chả  biết được ngoài việc Ông Roosevelt cho thi hành hàng loạt các kế hoạch xây dựng rất rộng lớn nhằm tạo công việc cho giới lao-động Mỹ để đẩy kinh tế phát triển trở lại ; nhưng trong chỗ riêng tư về mặt chiến lược thì có thể Mỹ đã đi đến kết luận là cần gấp rút giải tán chủ nghĩa thực dân Âu-Châu để mở rộng thị trường như một bảo đảm vững chắc cho an ninh của nước Mỹ trong tương lai để mở đường để Mỹ trở thành thế lực chi phối toàn cầu trước sự đe dọa của chủ nghĩa Cộng-Sản Nga trong đường dài .

Các chính sách đối ngoại của Mý sau cuộc khủng hoảng 1929 cho thấy nhận định này là rất đúng khi Mỹ chơi trò đu dây với cả Hitler lẫn Âu-Châu , cả Nhật lẫn Ý Đại Lợi . Tuy không công khai ủng hộ Hitler nhưng không chống Hitler về các chính sách cực đoan của chế-độ Quốc-Xã . Thực tế Mỹ trở thành chủ nợ lớn nhất đối với Quốc-Xã tại Đức cũng như tại Ý . Đức trở thành thế lực hùng mạnh tại Âu-Châu về cả quân sự lẫn kinh tế , tương quan lực lượng tại lục-địa Âu-Châu trong thập niên 30 của thế kỷ trước đã từng bước nghiêng hẳn về phía Đức . Việc này dẫn đến thế chiến II , tất yếu sẽ làm cho chủ nghĩa thực dân tan rã .

Đó là cơ hội để thống nhất Âu-Châu vào một mối dưới sự điều phối của Mỹ về mọi mặt để từng bước làm triệt tiêu các mâu thuẫn tiềm ẩn ở Âu-Châu do lịch sử để lại .

Thực tế cho thấy : “ thống nhất về mặt kinh tế luôn là tiền đề cho việc thống nhất về chính chị sẽ diễn biến sau đó như quy luật lịch-sử khách quan “ . Như vậy thế chiến II phải cho nổ ra để đẩy các phe suy yếu đi để rồi phải chấp nhận các kế hoạch do Mỹ đề xướng . Kế hoạch ấy sảy ra ở Hội-nghị Bretton-Woods năm 1944 nhằm hình thành các định chế tài chánh quốc-tế như Ngân-Hàng Thế-Giới , Quỹ Tiền-Tệ Quốc-Tế , đồng thời các chính quyền được hình thành sau thế chiến II cam kết tuân thủ nguyên tắc thị trường tự do , nếu có bất đồng thì do thỏa hiệp thuế quan và thương mại giải quyết ( GATT , General Agreement on Trade and Tariff ) .

Dĩ nhiên Mỹ và Anh-Quốc hiểu rõ hơn ai hết là cuộc chiến chống lại Liên-Xô là tất yếu sảy ra . Với cuộc chiến này cách đánh phải khác miễn sao đạt được mục đích tối hậu là từng bước mở cửa thị trường toàn cầu một cách toàn diện như bảo đảm vững chắc cho an ninh thế-giới và đó cũng là yếu tố sống còn với an ninh của Mỹ .

II  -  TỪNG BƯỚC TIẾN TỚI  BRETTON – WOODS II .

Liên-Xô tan rã vào năm1990 để trả lại độc lập cho nhiều quốc-gia Đông và Nam-Âu nhưng tình hình Á-Châu cũng như Trung-Đông không hề có bất cứ biểu hiện gì thay đổi , điều này làm thất vọng nhiều người Viêt-Nam sống tại hải ngoại vì đa số nghĩ rằng  học thuyết Domino sẽ ứng dụng trong trường hợp này . Thực tế đã không sảy ra như vậy mà còn đi ngược lại với các toan tính của người Việt hải ngoại .

Để hiểu thấu đáo hơn về vấn đề phức tạp này , hai điều sau đây cần được chúng ta quan tâm . Thứ nhất , chúng ta cần đặt vị trí mình không đơn giản chỉ là người nghiên cứu cứu các vấn đề chiến lược không thôi , mà cần hình thành các suy nghĩ như một người hoạch định các kế hoạch chiến lược trên quy mô toàn cầu . Muốn như vậy cần biết nhập vai để suy nghĩ như quyền lực toàn cầu . Thứ hai , ta cần hình thành cả một khái niệm sâu rộng về hàng loạt các vấn đề của thế giới như các sách lược chính trị cũng như kinh tế để hiểu rõ thế giới đúng như thực tế mà thế giới đang trải qua và hướng đi tới tất yếu mà thế giới sẽ đi tới .

Biết cách nhập vai là một việc khó khăn lắm , phải có trí tuệ do việc học hỏi đúng cách đem lại cho mỗi người trong chúng ta . Nhập vai của quyền lực toàn cầu để biết quyền lực toàn cầu nghĩ gì ? đã và sẽ hành động ra sao ? Các thế lực chống đối sẽ hành động thế nào một cách cụ thể dựa vào lịch sử , truyền thống cũng như các toan tính của họ trong hiện tại cũng như trong tương lai .

Việc nhập vai đúng cách sẽ chỉ cho ta thấy hoặc ít nhất cũng dẫn ta đến gần thực tế để mường tượng ra được một hướng đi đúng đắn của thế giới trong tương lai với các dự kiến về phản ứng của nhiều phía trên bước đường duy dân đầy phức tạp ấy ( nói theo Cụ Lý-Đông-A ) . Điều đó ta có thể gọi là “KẾ HOẠCH TOÀN CẦU “ . Hiểu biết càng thấu đáo kế hoạch toàn cầu càng có lợi cho công việc chung của đất nước .

Chúng ta đừng hy vọng gì nhiều ở việc mà thế giới họ sẽ chỉ cho ta về kế hoạch như vậy , không một ai sẽ nói với ta về việc ấy đâu ; tự ta ,ta phải tìm hiều và học hỏi thôi . Chúng ta cũng đừng hy vọng gì nhiều ở các cơ quan tình báo hay các cơ quan nghiên cứu mà ta sẽ phải dồn tối đa nỗ lực để thành lập và củng cố sau này nếu các cơ quan tình báo cũng như các viện nghiên cứu ấy không được tỏ chức và điều hành bởi tối đa những người có viễn kiến thực sự , trí tuệ thật sự , đạo đức thật sự và vô cầu thật sự .

Nhiều vị sẽ trách tôi sao lại đi vào các vấn đề phức tạp như vậy . Xin thưa ngay rằng : “ Chúng ta luôn đi sai hướng vì đánh giá sai tình hình , cứ chủ quan nghĩ rằng tình hình thế giới sẽ sảy ra như chủ quan ta mong ước . Khi tình hình sảy ra ngược lại thì ta trở nên thất vọng bi quan nên cứ lún sâu vào khủng hoảng để rồi đi từ thất bại này đến thất bại khác , càng ngày thất bại càng nặng hơn , khủng hoảng càng trở nên nghiêm trọng hơn , mâu thuẫn nội tại trong lòng xã hội ta xem ra không thể giải quyết nổi trong khi kẻ thù của ta ngày càng trở nên hung hãn hơn trong việc quyết thôn tính đất nước ta cho bằng được cho dù bất cứ hy sinh nào chúng cũng chấp nhận .”

 Muốn phục vụ đất nước một cách hữu hiệu , tất yếu ta phải biết SUY NGHĨ LỚN , nhưng phải biết thực hiện các KẾ HOẠCH CỤ THỂ . Không thể nói suông được , suy nghĩ lớn không đơn giản là lập một ĐẢNG CHÍNH TRỊ hay CHÍNH PHU LƯU VONG , điều đó chỉ thể hiện một thứ CHỦ NGHĨA CƠ HỘI ĐÁNG NGUYỀN RỦA  mà thôi vì tham vọng quá lớn nhưng đức độ quá mỏng trí tuệ quá hẹp nên trước sau gì cũng trở thành công cụ cho ngoại bang , rồi cũng chỉ làm cái việc cõng rắn cắn gà nhà mà thôi .

SÁCH LƯỢC CHÍNH TRỊ

“Sách lược chính trị là cả một kế hoạch dài hạn nhằm từng bước đạt được các mục tiêu trung gian để làm nền tảng cho việc đạt đến mục tiêu tối hậu là thống nhất nhân loại này vào một mối trước khi quá trễ .” Như thế phương cách đạt đến từng mục tiêu trung gian có thể khác nhau , nhưng không bao giờ từ bỏ mục tiêu tối hậu . Sách lược chính trị nào cũng phải có một sách lược kinh tế đi kèm . Kinh tế với chính trị tuy hai mà là một , tuy một mà là hai . Đơn giản là vì không một mục tiêu chính trị nào có thể đạt được hoặc giữ vững được lâu bền nếu thất bại về kinh tế .

Cho nên , trong chính trị tuyệt đối không thể VỘI VÃ , vội vã đi liền với thất bại cho dù trong ngắn hạn một ai đó có thể đạt được một vài thắng lợi nào đó . Kinh nghiêm cận đại đã để lại nhiều bài học quý giá , thảm bại của Đức-Quốc-Xã là một thí dụ điển hình đáng ghi nhớ . Chính trị tuyệt đối không thể VIỂN VÔNG KHÔNG TƯỞNG , bài học của Nga Xô-Viết là rất rõ ràng . Chính trị tuyệt đối phải biết LƯỢNG SỨC MÌNH MÀ HÀNH ĐỘNG bài học của Cộng-Sản Việt-Nam là rất rõ ràng nên trở thành tay sai cho ngoại bang trên xác thân Việt-Nam , nhất là ngoại bang ấy lại là kẻ thù truyền kiếp của dân ta . Chính trị tuyệt đối không thể để dẫn đến tình trạng làm cho TA YẾU ĐI , ta yếu đi sẽ là mục tiêu xâm lăng của kẻ thù . Chính trị tuyệt đối phải CỦNG CỐ SỰ VỮNG CHẮC CỦA ĐẤT NƯỚC LIÊN TỤC KHÔNG BAO GIỜ NGƠI NGHỈ , LỚP NỌ KẾ THỪA LỚP KIA TRONG SUỐT CHIỀU DÀI LỊCH SỬ . Chính trị tuyệt đối phải biết tôn trọng nguyên tắc QUÂN BÌNH GIỮA CAM KẾT VỚI TÀI NGUYÊN ; vi phạm nguyên tắc tối hậu này thì bất quân bình sẽ sảy ra , việc sửa chữa sẽ tốn gấp chục lần và có thể dẫn đến suy tàn của quốc-gia .

Chính trị là một môn học đáng kính trọng hơn bất môn học nào khác vì phải một bước mới lên được thiên đàng, nhưng nửa bước đã xuống địa ngục rồi . Ta cần phân biệt thật rõ ràng giữa chính-khách với người chính trị . Việc nảy rất quan trọng vì từ trước đến nay ta luôn đồng hóa chính khách với người chính trị ; chính khách là người thi hành một đường lối chính trị thường hoạt động trong khuôn khổ đảng chính trị được quần chúng tín nhiệm nhưng chưa chắc họ đã thực sự am tường chính sự trong phạm vi rộng , họ thích hợp với một tình huống chính trị cụ thể trong một thời điểm cụ thể nào đó mà thôi ; người chính trị có thể họ không xuất hiện công khai nhưng lại chính là người tạo ảnh hưởng đối với hướng đi của xã hội . Ở điểm này họ có vẻ như gần gũi với giới chuyên gia  (Technocrat) như vậy các nhà giáo , các nhà bình luận , các sử gia , kể cả các giáo sỹ thuộc mọi tôn giáo trong xã hội có uy tín  ảnh hưởng đến quần chúng chính là các nhà chính trị đích thực . Xã hội muốn ổn định lâu bền cần tập trung công sức để củng cố tập thể những người chính trị ; chính tập thể này tạo thành sức mạnh thực thể của xã hội làm cho giới chính khách cũng như các đảng không dám lạm quyền :” BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA ĐƯỢC HÌNH THÀNH TRONG THỰC TẾ  LÀ VẬY .”

Đẻ hiểu rõ hơn đường lối mà quyền lực toàn cầu đã thi hành trong thực tế gần thế kỷ qua cũng như dự kiến những gì có khả năng diễn biến trong thế kỷ này , ta cần đánh giá cụ thể mục tiêu cũng như ý đồ cụ thể của họ , cũng như phản ứng của các thế lực muốn ngăn cản hướng mà quyền lực toàn cầu muốn tiến tới .

Ta hãy lấy thời điểm cuối thế kỷ 19 khi chủ nghĩa thực dân đang thịnh hành cùng với chủ nghĩa tư bản phi nhân mà xét thì sự xuất hiện của chủ nghĩa Cộng-Sản là một đáp ứng cực đoan ; kềm chế sức mạnh của Đức là một trong các lý do chính yếu dẫn đến việc hình thành thế chiến thứ nhất cũng như nhà nước Liên-Xô cũng muốn thôn tính toàn cầu . Trong điều kiện ấy các mâu thuẫn giữa Anh-Quốc với Âu-Châu lục địa vẫn còn nguyên vẹn như hồi đầu thế kỷ 19 ; nước Mỹ hồi phục sau nội chiến đang nổi lên như thế lực có khả năng chi phối toàn cầu . Họ không đồng tình với chủ nghĩa thực dân Âu-Châu về nhiều điểm , nhưng họ rất biết lợi dụng tình hình để củng cố an ninh ở hai bờ của nước Mỹ . Họ sớm nhận biết : Á-Châu mới là diễn trường chính trong thế kỷ 20 và sau đó . Họ cũng sớm nhận biết thật rõ là chủ nghĩa thực dân Âu-Châu không thể tồn tại . Vậy PHẢI LÀM CHO ÂU CHÂU TAN RÃ TỪ BÊN TRONG .

Đường lối của Mỹ với Âu-Châu trong nử đầu của thế kỷ 20 là nhất quán , đó là : “ củng cố đi kèm thuyết phục đối với Anh-Quốc về sự lỗi thời của chủ nghĩa thực dân , âm thầm khuyến khích tham vọng của Đức và Áo để hai quốc gia này làm ung thối lục địa Âu-Châu để đẩy Âu-Châu đến hồi suy tàn . Thế chiến thứ nhất nổ ra trong toan tính như vậy của phía Mỹ . Nên sau thế chiến Mỹ không ủng hộ Hội Quốc-Liên , để mặc Âu-Châu sử ép Đức qua hội-nghị Versaille , điều này rồi ra sẽ dẫn đến thế chiến kế tiếp thôi . Mỹ cứ ngồi chờ ( đó là chính trị thự đấy ) .

Với Nga thới Sa-Hoàng Nicholas II luôn nuôi tham vọng bành trướng về hướng tây trong khi xã hội Nga đầy bất ổn lỗi thời và lạc hậu chưa phải là mối lo với Mỹ về lâu về dài . Dân Nga muốn chủ nghĩa Công-Sản thì cũng chẳng sao , với chủ trương như K . Marx trẻ đã tuyên bố nếu đem ứng dụng vào tình hình Nga sẽ làm cho Nga bị kéo dật lùi lại đến 20 năm so với Âu-Châu . Thế là người Mỹ chẳng coi Nga-Xô là thù mà lại giữ liên lạc không chánh thức lúc giao thời tại Nga sau đó thiết lập quan hệ ngoại-giao để chuẩn bị cho thế chiến thứ II .

Cuộc khủng hoảng kinh tế tại Mỹ năm 1929 đã nói cho Mỹ biết là cần củng cố thị trường toàn cầu chứ không thể cứ áp dụng lối bế quan tỏa cảng như kiểu chế độ thực dân được nữa , nên Mỹ càng quyết tâm đi vào toàn cầu hóa . Mặt khác khủng hoảng năm 1929 cũng có cái hay là làm cho xã hội Âu-Châu bị suy yếu đi , sức đề kháng bị giảm sút nghiêm trọng để thay đổi tận gốc rễ nếu một biến cố lớn sảy ra .

Đó là thế chiến II , một lần nữa Đức lại nhập cuộc bây giờ có thêm Nhật-Bản ở Á-Châu . Thực sự mà nói , nếu thiếu Nhật-Bản với Ý-Đại-Lợi thì Hitler không dám đánh . Vả lại với Mỹ thì Nhật-Bản nhập cuộc là phù hợp với sách lược của Mỹ vì thuộc địa Á-Châu tương đối xa Âu-Châu nhưng lại rất gần Nga-Xô nên Mỹ nhất thiết phải đến Á-Châu để ngăn cản Nga khi chủ nghĩa thực dân Âu-Châu tan rã . Khi thế chiến II chấm dứt Mỹ tham gia xây dựng lại Âu-Châu , từng bước tạo điều kiện để Âu-Châu thống nhất  (như thành lập hiệp-hội than thép Âu-Châu , hiệp ước BENELUX , thị trường chung Âu-Châu) để hình thánh khối quân sự kinh tế chống lại Nga . Ở Á-Châu Nhật bản trở thành cứ điểm quân sự hùng mạnh và là khu chế xuất khổng lồ nhằm cung cấp tiếp liệu cho chiến trường Á-Châu nếu cuộc chiến nổ lớn .

Cả Đức lẫn Nhật-Bản cuối cùng đạt được mục tiêu là cường quốc kinh tế liên minh mật thiết với Mỹ về nhiều mặt để hình thành khối các quốc-gia công nghiệp hàng đầu trên thế giới hiện nay ( dĩ nhiên dưới sự điều phối của Mỹ) . Họ đã học được bài học xử dụng các chiêu thức cực đoan và cũng bị Mỹ chi phối một cách khéo léo để rồi bị mỹ thuyết phục như ta đã thấy . Đó là chính trị thực vậy .

Nga muốn thôn tính thế giới nhưng không biết lượng sức mình nên bị Mỹ gài độ cho Hitler đánh thốc vào cánh đồng lúa cũng là kho tài nguyên của Nga làm cho Nga bị lùi lại thêm so với những gì mà dân Nga dưới chế độ Cộng-Sản đã đổ mồ hôi sôi nước mắt xây dựng suốt mấy chục năm dài ,để đến khi mở rộng biên cương đến Đông-Âu thì Nga thực tế đã suy yếu đi rất nhiều nên ở trong thế tiến thoái lưỡng nan . Cuối cùng mất cả chì lấn chài là thế .

Vấn đề chính yếu sau chiến tranh lạnh là Á-Châu , cụ thể ở đây là vấn đề Hán . Hàng loạt mưu kế được thi hành trong suốt hơn 40 năm của cuộc chiến này là điều mà vào dịp khác ta sẽ bàn . Tựu chung thì gây đe dọa ở Á-Châu đối với mối lo canh cánh bên lòng Nga-Xô cùng với thuyết phục kín đáo đã đưa Liên-Xô đến chỗ chấp nhận bỏ cuộc đua vào năm 1990 .

Đây là thời điểm mà nhiều người Việt rất bỡ ngỡ . Thí dụ : tại sao Ông Bush già lại không đánh tan Sadam Husein ngay trong năm 1990 trong chiến dịch bão táp sa mạc ? Tại sao các nước Cộng-Sản Á-Châu không sụp đổ như các con bài domino ? Tại sao Mỹ cứ một mực để cho Hán thặng dư mậu dịch dài dài mà chả có biện pháp gì chống đỡ cả ? Tại sao Mỹ tỏ ra rất có thiện cảm với Hà-Nội trong khi chế độ này là tay sai của Hán ? Dĩ nhiên còn nhiều câu hỏi khác nữa , nhưng nếu không hiểu thấu đáo các vấn đề vừa nêu thì chẳng hiểu gì cả và sẽ hành động sai lệch thôi .

Ông Bush già không đánh tan Sadam Husein năm 1990 là quá đúng đi chứ vì khi đó Liên-Xô chưa tan rã thật sự và người Nga chưa ý thức được các hiểm nguy của thế giới nên an ninh của Nga vẫn còn là vấn đề rất nhạy bén , chỉ sơ xuất chút là người Nga sẽ cảm nhận được mối đe dọa an ninh từ Mỹ và Tây-Âu , khi đó chủ nghĩa Công-Sản có cơ hồi sinh tại Nga . Như vậy công lao chiến tranh lạnh là uổng phí sao ? Bây giờ đây, sau gần 20 năm , chủ nghĩa đại Nga cũng đang hồi sinh đấy mặc dù có vài cá biệt sau này sẽ giải thích thêm .

Với Hán , vấn đề cũng khá rõ ràng . Hán mới đứng về phía Mỹ trong mấy năm cuối của chiến tranh lạnh , dù Hán chủ trương bành trướng nhưng chỉ là mối đe dọa về lâu về dài mà thôi . Thay đổi quá mau tại Hán trong khi điều kiện xã hội Hán chưa chín mùi vì mức sống của dân Hán còn quá thấp sẽ là một thảm họa với các lân bang và cũng là một đe dọa trực tiếp với Nga , điều này cũng có thể thúc đẩy chủ nghĩa quốc-gia Nga bộc phát trở lại . Cho nên Mỹ đã không ủng hộ Triệu-Tử-Dương hay Hoa-Quốc-Phong mà là ủng hộ Đặng-Tiểu-Bình để ông này canh tân nước Hán một bước nhằm hình thành nhóm trung lưu tại Hán . Cho nên Hán không xụp đổ hồi 1989 qua biến cố Thiên-An-Môn , các quốc-gia Cộng-Sản khác ở Á-Châu cũng không bị sụp đổ như hy vọng của đa số người Viêt-Nam .

KHÍA CẠNH KINH TẾ .

Những ai suy nghĩ về vấn đề kinh tế toàn cầu hẳn phải thuộc làm lòng nguyên tắc sau : đó là  “tuyệt đối không thể đẩy kinh tế đến chỗ quá nóng” cho nên cần thiết phải điều tiết thế nào để kinh tế toàn cầu luôn giữ ở mức độ phát triển trung bình chỉ khoảng 5% năm là vừa đủ , vùng nào phát triển quá mạnh thì phải có các biện pháp kìm hãm lại . Nếu kinh tế toàn cầu bị chậm lại thì phải chủ trương khuyến khích tiêu thụ thêm để đẩy kinh tế toàn cầu mở rộng trở lại .

Những ai biết suy nghĩ về vấn đề toàn cầu hẳn phải biết rằng : “ không phải cách tân kỹ thuật nào cũng được đồng loạt áp dụng ngay , điều đó có thể dẫn đến bất quân bình nghiêm trọng trong cung cầu trên quy mô toàn cầu , tất yếu sẽ là đổ vỡ tiếp theo “. Trong việc chuyển giao kỹ thuật cũng vậy , chuyển giao không dúng cách sẽ tạo ra bất quân bình về nhiều mặt nhất là về mặt an ninh trong khu vực là trước mắt sau đó là toàn cầu . Cho nên cần có các chính sách rõ ràng về vấn đề nhạy bén này là vậy . Đây cũng là một trong nhiều khía cạnh liên quan đến an ninh kinh tế kỹ thuật vậy .

Cho nên thế giới phải có kỷ luật trong sinh hoạt , trong cách ứng xử với nhau , trong sản xuất lưu thông phân phối . Bất cứ yếu tố nào làm thay đổi mối cân bằng mỏng manh đó đều dẫn đến bất ổn .

Sau chiến-tranh lạnh thì thị trường toàn cầu mở rộng với nhiều quốc-gia cựu Cộng-Sản nay theo chủ trương kinh tế thị trường . Điều đó có nghĩa là mức cầu tăng như vậy mức cung cũng sẽ tăng nhằm đáp ứng với mức cầu mới đó ; vùng Đông-Âu cũng như Nga bị kiềm chế để dành ưu tiên cho Hán . Tại sao vậy ? vì tham vọng của Hán muốn bành trướng nên Mỹ cũng tương kế tựu kế để Hán phát triển giới trung lưu của mình , kể cả việc Hán xâm thực các lân bang hay tìm cách thao túng thị trường tài chánh Mỹ và Tây-Âu thì Mỹ vẫn cố tình làm ngơ cứ y như là chả biết gì cả . Một mình Hán phát triển với tốc độ phi mã trong 5 năm sau này đã đẩy kinh tế thế giới đến chỗ quá nóng , Hán trở thành kẻ đói khát ngông cuồng nên muốn mau chóng xâm thực cả thế giới ( xin xem bài phát biểu của Trì-Hạo-Điền là thấy rõ ) .

Đối sách của Mỹ cũng như Âu-Châu và Nhật-Bản đối với âm mưu bành trướng  của Hán là một bí mật tuyệt đối chỉ để lộ ra sau khi cuộc khủng hoảng tài chánh nổ ra mà thôi . Thời gian nhằm thuyết phục Hán trong việc chấp nhận cách ứng sử văn minh đối với toàn cầu đã không được Hán chia sẻ . Hán coi đó là can thiệp vào công việc nội bộ của Hán , Hán có chủ trương của mình sau khi đã rút tỉa ra các bài học từ Quốc-Xã cũng như từ Liên-Xô , kết hợp với bài học Mỹ cải biên thành một hình thức xã hội mới : “ ĐÓ LÀ XÃ HỘI TƯ BẢN NHÀ NƯỚC “ .

Hán vội nghĩ rằng : Mỹ cũng như các quốc-gia công nghiệp được xây dựng trên nền móng của chủ nghĩa tư bản tư nhân là nguồn gốc của sự yếu kém trong lòng các xã hội ấy và là một trở ngại sâu rộng trong việc giải thích về quyền sở hữu trên phạm vi quốc-gia cũng như toàn cầu ; cho nên khi chủ trương cách tân chủ nghĩa tư-bản nhà nước tức là Hán đã nắm thế chính nghĩa trong âm mưu thôn tính thế giới .

Thực ra thì về căn bản suy nghĩ của Hán không phải là thiếu khôn ngoan trong việc đánh giá về thế giới , nhưng Hán quên một điều rất hệ trọng là : “ đằng sau cái vỏ bọc về chủ nghĩa tư-bản kiểu tư nhân rất thịnh hành tại Mỹ , luôn tồn tại một hệ thống tư bản nhà nước rất Mỹ và cũng rất hùng mạnh chi phối toàn bộ sinh hoạt của xã hội ; và tự nó đã hình thành một hệ thống tư bản nhà nước kiểu Mỹ rất tinh vi mà người bàng quan khó lòng hiểu thấu đáo . Điều này đã làm thay đổi tự căn bản các khái niệm về quyền sở hữu hiện đại hơn rất nhiều so với những gì mà Hán nghĩ .

ĐƯA HÁN VÀO BẪY SẬP .

Tham vọng bành trướng của Hán chả xa lạ gì , người Mỹ hiểu thấu từng toan tính của Hán , chúng ta cũng hiểu rất rõ các toan tính như vậy của chúng . Trong cuộc cờ này các bên hiểu các toan tính của nhau nên việc đánh lừa đối phương trở nên khó khăn phức tạp hơn . Để tìm hiểu thêm về vấn đề này ta cần trở lại điều kiện của thế giới sau chiến tranh lạnh .

Mỹ có hai việc cần làm dưới thời Tổng-Thống Mỹ Bill Clinton . Thứ nhất là chuyển giao các công nghệ đã lỗi thời và gây nhiều ô nhiễm đến một nơi nào đó đủ sức tiếp nhận khối lượng công nghệ lỗi thời nhưng rất lớn lao đó ; thứ hai là : chuẩn bị để thu hồi lại số dollar cũng vĩ đại sẽ nằm trong tay Hán do quá trình chuyển giao công nghệ và thị trường ấy gây ra .

Cả hai mục tiêu này Hán là thị trường hoàn hảo vì nạn đói kỹ thuật và tham vọng bành trướng làm cho Hán bị mù về nhận thức nên bất cứ thứ gì đưa ra Hán đều ngoạm lấy dễ dàng . Việc này cần một Ông Tổng-Thống tuy dòng tộc ít danh giá nhưng dám đóng kịch bản như vậy . Đó là Ông Bill Clinton , Ông là người chào hàng rất hay để tạo cho Hán cảm tưởng rằng : Hán nắm được chóp bu của Mỹ , từ Wall-Street đến Bạch-Cung .

Phải đến cuối của nhiệm kỳ thứ hai thì hai đạo luật HIỆN ĐẠI HÓA HỆ THỐNG TÀI CHÁNH VÀ THỊ TRƯỜNG TRAO ĐỔI HÀNG HÓA mới được các Ông  Summers ,Geithner , Gramm …..chuẩn bị để Ông Bill Clinton ký thành luật để Ông  Bush trẻ củng cố và thi hành trong gần 8 năm qua , nhiên hậu dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay . Như thế cuộc khủng hoảng tài chánh đang sảy ra là hoàn toàn được dàn dựng và được biết trước khá lâu . Dù sao ta vẫn nên tìm hiểu đôi điều về việc Ông Bush đã thi hành trong gần 8 năm qua .

Điểm lại lịch sử thì biến cố Nhật-Bản tấn công vào Trân-Châu Cảng năm 1941 hoàn toàn không bất ngờ đối với những người thân cận với Ông F D Roosevelt , Mỹ muốn việc ấy sảy ra để thuyết phục dân Mỹ đi vào chiến tranh . Trùm khủng bố Bin Laden đã được nhận diện ngay trong thời Tổng-Thống Reagan và được theo dõi chặt chẽ trong thời Ông Clinton ( Ông Wolsey Giám-Đốc CIA vào lúc đó có công lớn trong vụ này ) , giá sỹ mù gốc Ai-Cập ở Newyork là nhân vật chủ chốt trong vụ đánh bom đường hầm xe điện ở Newyork dưới thời Ông Bill Clinton bị kết án chiếu lệ đủ cho thấy Mỹ cố tình dụ địch đi vào Newyork ( đúng như tiên-tri Nostradamus đã tiên đoán ) đó cũng là một thể hiện khác của Trilateral Commission trong việc sắp xếp này .

Do thế biến cố 9-11 hoàn toàn không xa lạ gì với Ban Lãnh-Đạo Mỹ . Mọi việc được sắp xếp trước bằng cách không ngăn chặn dể cho biến cố sảy ra để Mỹ có cớ nhảy vô Trung-Đông cũng như Afghanistan . Tại sao như vậy ? Đơn giản là vì : “ ý định của Hán muốn dùng lại đường tơ lụa để đi vào Trung-Đông đầy dầu lửa , đường kia là hải lộ băng qua Ấn-Độ-Dương “ .

Đã vô Trung-Đông thì phải tìm cớ để ở lại Trung-Đông càng lâu càng tốt để làm lực đẩy thay đổi cấu trúc xã hội của khối 1.3 tỷ người Hồi-Giáo . Cho nên Ông Bush và Rumsfield đã cố tình không vội ổn định tình hình ở Irak , báo chí Mỹ càng có dịp đả kích để đánh lạc hướng dư luận nhằm che dấu ý đồ chiến lược thực của Mỹ . Mỹ đã thành công trọn vẹn trong chiến lược này . Khi Hán bị chặn nghiêm ngặt ở Afghanistan và   Irak trong khi đường hàng hải thì bị Ấn-Độ đe dọa khi Ấn trở thành đồng minh của Mỹ thì Bắc-Kinh chỉ còn con đường kết thân với Nga ở phía bắc qua Hiến-Chương Thượng-Hải SCO và gia tăng tối đa trong kế hoạch thôn tính Đông-Nam-Á mà Việt-Nam là đầu cầu chiến lược . Ta đã nhìn rõ vấn đề này từ trước khi Hán điều chỉnh lại sách lược , như vậy thực tế mà nói thì Hán đang bị co cụm lại trong vùng biển hẹp là vùng biển đông của Viêt-Nam . ( các vụ hải tặc ở hải phận Somalia chắc sẽ leo thang , Hải-Quân Ấn sẽ ngày càng trở nên tích cực hơn trong vùng biển này , nhất là sau vụ nổ ở trung tâm tài chánh Mumbay cách nay vài ngày , Ấn càng phải xiết chặt an ninh với Mỹ ) .

Đó chỉ mới là khía cạnh chính trị quân sự liên hệ đến cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa bành trướng Hán tộc mà thôi , cuộc chiến tranh khác mà vũ khí chính là dollar mới thực sự kinh khủng . Xin vắn tắt vài điều .

Trước hết và trên hết sức mạnh của Ban Lãnh-Đạo Mỹ là  “ tổng hợp trí tuệ của cả nước Mỹ trong một hệ thống khép kín được thử thách liên tục , rất mực kỷ luật , trí tuệ rất cao nhưng luôn mở rộng để đón nhận các trào lưu mới để thích nghi và cách tân liên tục bằng các nguồn nhân lực mới từ khắp nơi trên thế giới đổ về , nhưng luôn luôn đặt dưới sự điều tiết của tinh thần Anglo Saxon “.

Về mặt tổ chức bao gồm ba khối : Tài Chánh , Think Tank , Truyền-Thông . Mọi tổ chức khác nhau của nước Mỹ ngay cả những người Mỹ thứ thiệt đều xoay quanh một mục tiêu tối hậu là bảo vệ vị trí tuyệt đối ưu thắng của Mỹ đối với thế giới . Khối vững chắc và rất mực kín đáo ấy thực tế hình thành Ban Lãnh-Đạo Mỹ từ thấp đến cao ; đó là kiểu một chính quyền vô hình như nhiều người Việt ta hay nói , nhưng hoàn toàn không mang kiểu dáng của đảng Cộng-Sản bị sơ cứng vì tranh chấp nội bộ ( diệt nhau làm mất hết nhân tài và không thể tích lũy được kinh nghiệm) cũng như hệ thống thư lại mất hết tính người . Chính Ban Lãnh-Đạo Mỹ từ thấp đến cao đề cử người ra lãnh đạo chính danh cho đất nước từ thấp đến cao , cử tri chỉ chuẩn thuận các sự đề cử ấy mà thôi ( xin đừng mơ hồ về dân chủ mỗi người một lá phiếu ) . Cũng chính từ Ban Lãnh-Đạo mà các sách lược trong đường dài được hoạch định và âm thầm thi hành , các Tổng-Thống Mỹ cứ kế tiếp nhau chuẩn bị để người kế thừa tiếp nối thi hành các sách lược ấy . Sự đánh giá theo dõi là liên tục nên không thể có sai sót được . Cai trị khó khăn như vậy đấy, xin chớ coi thường .

Ưu thắng tuyệt đối của Mỹ cuối cùng vẫn là ưu thắng về kinh tế , mọi lãnh vực khác nhau trong xã hội thì rồi cuối cùng cũng là củng cố cho sức mạnh kinh tế mà thôi . Quân sự , kỹ thuật , giáo-dục …chỉ mang yếu tố hỗ trợ cho thành quả cuối cùng là kinh tế nhằm phục vụ cho nhân sinh , không thể khác hơn được .

Nói đến kinh tế thì tài chánh mới là huyết mạch chi phối mọi sự và là thước đo được coi là chính xác nhất đối với xã hội hiện đại . Cho nên những nhà tài chánh Mỹ được tuyển chọn rất mực kỹ lưỡng , đây cũng là lãnh vực có nhiều bí mật nhất . Điều này cũng dễ hiểu thôi , cũng giống như một gia đình thì tiền bạc cũng chỉ vợ chồng biết với nhau thôi , con cái và người ngoài sao biết được .

KẾ HOẠCH LÙA TIỀN CỦA HÁN .

Nước Mỹ này là quốc gia trọng pháp thậm chí “ over regulations “ . Như vậy khi biết Hán muốn tích lũy tư bản để thao túng thế giới như bước đầu nhằm đánh bại Mỹ trong đường dài thì Mỹ phải tung kế thôi . Hai đạo luật hiện đại hóa hệ thống tài chánh và trao đổi hàng hóa là để làm căn bản pháp lý cho các công ty tài chánh Mỹ thao túng thị trường tài chánh toàn cầu , chủ yếu nhắm vào số thặng dư mậu dịch của Hán .

Khi đã có căn bản pháp lý bao che , các công ty tài chánh Mỹ ra tay ngay sau cú 11-9-2001 . Đúng ra sau biến cố này kinh tế Mỹ đi vào suy trầm , chiến phí dành cho chiến trường  Afghanistan không đủ để khôi phục kinh tế Mỹ vì cuộc chiến này dùng rất ít súng đạn và quân đội , cuộc chiến Irak năm 2003 cũng vậy . Để giải quyết tình trạng suy trầm có thể sảy ra ( việc này để lộ qua các quyết định của FED ) Mỹ phải lấy kỹ nghệ xây dựng để bù đắp đồng thời đẩy giá chứng khoán lên để bảo đảm niềm tin nơi thị trường .

Xây nhà càng nhiều thì phải có người mua , người mua không đủ điểm tín dụng thì sao ? cứ cho mua với lãi xuất thấp để khuyến khích mua thêm . Trong khi đó số thặng dư của Hán không ngừng gia tăng mà Hán chả biết làm sao để xử dụng hết số thặng dư ấy , trong khi Mỹ mời mọc . Thế là Hán tương kế tựu kế cho Mỹ vay qua công trái và tính kế thao túng thị trường tài chánh Mỹ như một đòn đánh ngay vào trung khu của Mỹ .

Hán cho các định chế tài chánh Mỹ vay để tài trợ cho địa ốc , Hán tính truyện mua cả nước Mỹ chứ chơi sao . Hán trúng kế từ đây vậy . Việc mua bán và chuyển nợ là một công cụ tài chánh hiện đại xuất hiện sau hai đạo luật lừng danh nêu trên , để rồi cuối cùng lùa gần hết vào Freddie Mac và Fannie Mae . Khi Hán bị kẹt gần hết vốn sau thế vận hội nhiều tai tiếng thì khủng hoảng tài chánh nổ ra . Hán than trời như bọng nhưng chả làm gì được Mỹ vì mọi sự là theo đúng luật pháp tài chánh quốc tế cũng như quốc nội  của cả hai nước .

Đòn độc hại khác là cho giá dầu tăng lên phi mã . Đòn phép làm giá đã từng sảy ra hoài hoài , Mấy anh Tầu ở Việt-Nam hay Đông-Nam-Á có làm giá thì cũng là truyện vụn vặt mà thôi ( việc này ai lãnh đạo kinh tế Việt-Nam sau này cần nhớ làm lòng nhé ) , thế là Hán lại mất thêm mấy trăm tỷ dollar trong cú ngoạn mục này .

Gần 10 năm , 1,3 tỷ anh Hán làm quần quật để dành , chỉ trong một cú là bị mất hoặc bị tạm thời vô hiệu hóa ( freezing ) thì kể cũng đau thật .

 Sức mạnh của Hán nay bị giảm sút rất nhiều về mọi mặt , nhất là sau trận động đất ở Tứ-Xuyên hồi tháng năm cùng với cuộc khủng hoảng tài chánh gây ra đang đẩy vùng duyên hải Hán vốn là khu chế xuất khổng lồ nay xem ra rất ảm đạm khi hàng trăm ngàn công ty phải giảm sản xuất hoặc đóng cửa vĩnh viễn ,đẩy hàng trăm triệu công nhân  đến chỗ thất nghiệp . Nhưng nhóm công nhân này nay lại không chịu trở lại nông thôn khi họ đã quen với lối sống thị thành .Quả thực đó là nguồn gốc của sự tan rã từ bên trong của Hán vì giờ đây Hán không thể trở lại với thời kỳ cách mạng văn hóa được nữa . Hẳn nhiên Hán phải bung ra bên ngoài để gỡ bế tắc từ bên trong thôi . Nhưng bung ra ngoài thì cái chết lại đến mau hơn .

Tám năm cầm quyền của Ông Bush trẻ cần được nhìn dưới lăng kính của các nhà chiến lược . Tôi nghĩ rằng hai mục tiêu chính mà ông có bổn phận phải thi hành thì Ông đã hoàn thành trọn vẹn : “ ĐÓ LÀ XIẾT CHẶT VÒNG VÂY VỚI HÁN , THU GIỮ TẠM THỜI KHỐI  TÀI CHÁNH THẶNG DƯ MẬU DỊCH CỦA HÁN “ . ĐÓ LÀ CHIẾN TRANH HIỆN ĐẠI VẬY . NẾU CHIẾN TRANH VŨ TRANG SẢY RA THÌ THẾ THẮNG BẠI ĐÃ PHÂN ĐỊNH RỒI .

Các chuẩn bị dưới thời Ông Bill Clinton để Ông Bush thi hành thì Ông Bush đã hoàn thành xuất sắc công việc - đó là công việc nặng nề nhất trong cuộc chiến chống chủ nghĩa bành trướng Hán tộc hiện nay – cho nên dù nói gì chăng nữa thì Ông Bush sau này sẽ được xếp vào hàng ngũ những Tổng-Thống lớn của nước Mỹ .

Bây giờ là lúc Ông  Bush chuẩn bị bàn giao trọng trách lại cho Ông Obama , Ông Obama dùng toàn những kiến trúc sư chính của kế hoạch cải tổ tài chánh dưới thời Ông Bill Clinton để khai thác chiến thắng do Ông Bush chưa đạt được trọn vẹn . Điều này là rất hay vì sự ủy nhiệm tuyệt đối mà dân Mỹ dành cho Đảng Dân-Chủ hẳn với cam kết  “ĐÓNG CỬA RÚT CẦU “ như đòn tối hậu đánh vào Hán để Hán sẽ bị phân ra thành nhiều mảnh , có như thế thì thế giới mới hồi sinh được .

Ở một khía cạnh khác ta cần coi việc trở lại của các kiến trúc sư chính của chiến lược tài chánh vô tiền khoáng hậu này như là một dịp để vinh danh những người có công rất lớn trong kế sách đã và đang thi hành với Hán . Đối với công lao lớn như vậy , xã hội Mỹ có tưởng thưởng cho mỗi vị 100 triệu dollar cũng là rất nhỏ , từ vụ Enron , Lehman Brother hay các vị như Summers, hay Geithner hay nhiều vị khác nữa Cộng-Hòa cũng như Dân-Chủ .

BÀN VỀ QUAN - ĐIỂM CỦA GIÁO - SƯ CHOSSUSKY .

Ông Larry Summers và những người đồng sự là những nhà chiến lược gia kinh tế , các vị ấy am tường về lãnh vực an-ninh kinh tế là một lãnh vực cao hơn và phức tạp hơn rất nhiều so với khoa học kinh tế thông thường . Các chủ trương ấy được rất nhiều các định chế tài chánh Mỹ cùng tham gia mà không để thẩm lậu ra ngoài , điều này cũng đủ cho thấy hệ thống Mỹ là vững chắc đến dường nào .

Khi Ông Summers làm Cố-Vấn Trưởng về kinh tế cho Ngân-Hàng Thế-Giới , Ông chủ trương đổ các chất thải đến các nước nghèo , điều này quả thực là thái quá , nhưng quan điểm của Ông về vấn đề này dường như nhằm đánh lạc hướng đối với ý đồ thực của Mỹ là chuyển giao kỹ thuật đã lỗi thời đến các quốc-gia đang phát triển . Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật kinh tế để từng bước san bằng cách biệt giầu nghèo giữa các quốc-gia với nhau mà kinh nghiệm của Nam Triều-Tiên là rất rõ .

Về cuộc khủng hoảng tài chánh sảy ra ở Á-Châu năm 1997 cũng đáng để ta rút ra một bài học đáng nhớ vì :  thứ nhất ta không hiểu thấu kế sách của Bắc-Kinh đối với Đông-Nam-Á vào lúc ấy . thứ hai quả thực các nền kinh tế ấy có vấn đề về vốn lưu hoạt ngắn hạn , nên Ngân-Hàng Thế-Giới phải can thiệp nhằm ngăn ngừa tình trạng tồi tệ có thể sảy ra . Thứ ba là cuộc khủng hoảng ấy đã đẩy đến chỗ Tổng-Thống Suharto một người cai trị Indonesia trong 35 năm bị mất chức , cùng với việc hình thành Đảng Thai pat Thai do Ông Chapchai lấy nông thôn ở phía Bắc Thái-Lan làm nồng cốt để dẫn đến cuộc đụng độ giữa thị dân và nông dân Thái hiện nay . Ít ra thì trong cuộc khủng hoảng hiện nay các quốc-gia Đông-Nam-Á cũng như Đại-Hàn đã tỏ ra vững vàng hơn , nhất là trong điều kiện cuộc chiến là khá gần kề với Bắc-Kinh . Đó là điều chẳng thể tránh khỏi .

Khi cuộc khủng hoảng tài chánh ở phố Wall nổ ra . Mọi người đều lên tiếng đổ cho tình trạng thiếu hệ thống giám sát hữu hiệu , vô luật lệ , sự can thiệp quá nặng của các chính quyền vào thị trường - điều này ám chỉ Hán là chính yếu - , Giáo Sư Chossudovsky quy trách cho Ông Summers và những người đồng chí hướng với Ông mà đứng sau là cây đại thụ David Rockerfeller . Hay thật là hay vì người Mỹ muốn vô luật pháp hóa bằng luật tài chánh của Mỹ để các công ty tài chánh Mỹ thao túng thị trường tài chánh toàn cầu mà , có như thế thì mới lùa tiền của Tầu vào phố Wall hay vào túi Uncle Sam cũng vậy thôi .

Trong cách nhìn thực tế của nhà chiến lược tài chánh thì Giáo-Sư Chossudovsky chỉ là giáo-sư kinh tế thuần túy lý thuyết , Ông vẫn rất xa vời với quyền lực tài chánh toàn cầu . Những vị như Summers , Geithner ,Gramm , Greenspan …tạo ra các chính sách đường lối để các giáo sư kinh tế dạy cho học trò . Học trò muốn tiến cần hiểu thật sát những gì thực sự sảy ra dưới gầm bàn chứ không phải trên mặt bàn , điều đó ai cũng thấy .

 Nhưng ta cũng phải cám ơn Giáo-Sư Chossudovsky về việc ông đã cung cấp cho ta một số dữ kiện liên quan đến cuộc khủng hoảng hiện nay , để từ đó ta mở rộng thêm tầm nhìn về vấn đề rất phức tạp nhưng đầy bí ẩn này . Kinh tế tài chánh không thể học xuông mà xong được , phải làm thật sự và phải được học hỏi thật sự từ những người đã làm trong lãnh vực ấy thì mới có thể trở thành chiến binh chuyên nghiệp biết bảo vệ an ninh kinh tế cho quốc-gia .

BÀN VỀ HỘI NGHỊ G20 .

Hán muốn hình thành nền kinh tế kiểu nhà nước mà Hán gọi là hiện-đại , thực ra chẳng hiện đại gì đâu vì nó cũng chỉ là cải biên kiểu chế độ tư bản nhà nước kiểu Liên-Xô trong vài năm cuối của Lenine , cộng với thị trường toàn cầu được mở rộng do Mỹ cố tình đẩy về phía trước quá sớm dưới thời Tổng-Thống Bill Clinton .

 Hệ thống tư bản nhà nước thực sự hiện đại là tại Mỹ này chứ chẳng ở nơi nào khác vì thực chất là tư bản nhà nước đấy nhưng nhìn đâu cũng chỉ thấy tư nhân thôi . Có như vậy mới bảo đảm được tính cạnh tranh cao độ và mọi người nếu có tài mới phát huy được tác dụng đúng mức và tránh được hệ thống thư lại chậm chạp sơ cứng , cũng như tránh được tình trạng người anh cả đáng nguyền rủa vốn là đặc trưng của các chế độ độc tài .

Nhưng để chuẩn bị đáp ứng với các thách đố của Hán ( dù sao vẫn có một ý nghĩa nhất định về mặt lý thuyết ) , Mỹ tỏ cho thế giới thấy ngay là họ sẽ trở thành tư bản nhà nước công khai và mau chóng như thế nào . Ông Paulson Bộ-Trưởng Ngân-Khố được chấp thuận của Quốc-Hội 700 tỷ dollars để mua lại phần hùn trong 6 ngân-hàng lớn nhất nước Mỹ , các ngân hàng nhỏ khác sẽ bị mua lại bởi Uncle Sam để biến Uncle Sam thành pháp nhân sở hữu phần hùn áp đảo trong  cả 6 ngân hàng hàng đầu ấy . Như vậy thử hỏi : “ có hoạt động kinh tế nào ở Mỹ này vượt khỏi tầm kiểm soát của Uncle Sam hay không ? “

Mỹ làm việc này còn có ý đồ sâu sa đằng sau đó nữa : “ đó là cải tổ lại cả hệ thống kinh tế tài chánh Mỹ , để sửa lại thói quen của dân Mỹ là ưa ăn xài ít tiết kiệm , dám đầu tư vào các khu vực mới mà các ngân hàng theo hệ thống tổ chức cũ e dè không dám phiêu lưu đầu tư . Đồng thời chuẩn bị cho đường dài giá cả được ổn định nên Mỹ không thể khai thác lợi thế giá cả bằng việc mua bán trên các mặt hàng giao sau  ( futures) .” Dù việc này không một ai nói ra , nhưng ta cần đánh giá như vậy để biết hướng đi của thế giới  trong tương lai .

Dĩ nhiên với Ông Obama , Ông đã tuyên bố hồi tháng bảy là cần vùi dập phố Wall và nâng đỡ phố Main . Câu này có nghĩa rất rộng là : “ chứng khoán tạm thời lùi bước để củng cố khu vực sản xuất cái đã “ . Nhưng củng cố bằng cách nào ? Ông Obama và các vị cộng sự , nhất là các kiến trúc sư chính về tài chánh không hề nói tới . Tuy vậy muốn củng cố khu vực sản xuất , Ông Obama còn phải làm nhiều việc mà nhiều việc lại ngoài tầm tay của Ông vì có liên hệ đến các quốc gia khác như Hán chẳng hạn . Ông có thể làm như Ông F D Roosevelt đã làm trong kế hoạch New Dealt hồi 1933 khi chính phủ xuất công trái để xây dựng hạ tầng để giải quyết nạn thất nghiệp để sau đó thúc đẩy đà tiêu thụ gia tăng trở lại cũng như từng bước chuẩn bị cho thế chiến II .

Người Mỹ đã nói nhiều đến New New Dealt , dường như cũng mang một ý nghĩa tương tự . Vấn đề là lúc nào thì một kế hoạch như vậy được tiến hành trong điều kiện cuộc họp của G 20 dường như chưa tiển triển gì nhiều trong cuộc họp mới đây nhằm làm sống lại vòng đàm phán DOHA về thương mại toàn cầu .

Dù sao thì Ông  Bush cũng chỉ còn vài tháng ngắn ngủi tại chức nên cuộc thương thuyết về vòng đàm phán DOHA - nay lại liên kết với một vấn đề phức tạp hơn nữa là trật tự tài chánh toàn cầu – chắc hẳn còn trì trệ hơn nữa . Ngay cả khi Ông Obama lên nhậm chức thì vấn đề phức tạp này cũng sẽ chẳng tiến triển gì nhiều trong tương lai tới đây .

Trở ngại chính là Bắc-Kinh ,cả thế giới đều nói : “ chỉ Bắc-Kinh cứu được cuộc khủng hoảng này mà thôi “ . Chả lẽ vì Bắc-Kinh có thặng dư mậu dịch lớn với Mỹ , thực không phải như vậy . Chính yếu là Bắc-Kinh có chấp nhận luật chới sòng phẳng hay không ? trong sáng hay không ? mở cửa thị trường thực sự hay không ? Có chấm dứt việc xâm thực các nước nhỏ hay không ? và hàng loạt các vấn đề nhức óc khác nữa . Trong điều kiện như hiện nay , xem ra : “ BẮC-KINH KHÔNG SẴN SÀNG CHO BẤT CỨ CAM KẾT GÌ CẢ , NHƯ VẬY THỰC TẾ SẼ QUYẾT ĐỊNH NHỮNG GÌ SẼ SẢY RA TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI ĐÂY , CÓ THỂ BÁO HIỆU CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ MẬU DỊCH CỦA MỸ “ đó mới là điều mà Ông Obama nói về việc nâng đỡ phố Main.

                                                        *********

Thưa quý bạn đọc , trong thời gian qua chúng ta đã dành nhiều thời giờ để bàn luận nhiều vấn đề chính trị thế giới . Vấn đề kinh tế tài chánh toàn cầu là một chủ đề cực kỳ quan trọng nhưng chúng ta chưa dành đủ thời gian để tìm hiểu ngọn nguồn . Thực tế thì chả ai có thể thấu hiểu các vấn đề phức tạp này được ; sự hiểu biết của tôi chỉ là rất giới hạn về cả hai lãnh vực quan yếu này . Nhưng với lòng thành tôi cố gắng đóng góp theo cách của mình .

Không am tường kinh tế và chính trị không thể làm chính trị , không thể luận bàn chính trị , làm sao viết sử được . Một bạn đọc vẫn hay hỏi tôi vậy : “ kinh tế là gì , tài chánh là chi ? tại sao phải học ? có một định nghĩa nào cụ thể về kinh tế học hay không ? “

Tôi xin thưa ngay thế này ; không hiểu sách vở kinh tế của Giáo-Sư Samuelson định nghĩa kinh tế là gì , và các giáo sư kinh tế ở các đại-học Việt-Nam trước 1975 đã kết hợp định nghĩa kinh tế học theo trường phái Pháp với trường phái Mỹ ra sao . Vì tôi không học nên không biết rõ ; các vấn đề tôi mạo muội nêu lên với quý vị chính là các tích lũy mà vị đi trước tôi đã nghiền ngẫm và trao đổi với tôi và đó cũng chính là vấn đề mà tôi nghiền ngẫm trong thời gian dài đã qua . Cho nên nếu hỏi kinh tế là gì ? tôi cũng xin mạo muội ghi lại ý kiến  riêng để quý vị chia sẻ và nếu có dịp đóng góp thêm ý kiến :

“ KINH TẾ LÀ KHOA HỌC SUNG DỤNG TÀI NGUYÊN ,LÀM THĂNG TIẾN LIÊN TỤC CÁC TÀI NGUYÊN ẤY NHẰM PHỤC VỤ CHO NHU CẦU CỦA CHỦ THỂ TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI KHÁCH THỂ “
Kể ra thì một định nghĩa như vậy có vẻ nhiễm mùi triết học , tôi hy vọng có dịp trở lại chủ đề này trong tương lai tới đây .

Lê-Văn-Xương  11-27-2008

 

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Tuesday, 13 July, 2010 12:51