a

Anh Hùng Lĩnh Nam

Lời giới thiệu

Lời ngỏ

Hồi 1

Hồi 2

Hồi 3

Hồi 4

Hồi 5

Hồi 6

Hồi 7

Hồi 8

Hồi 9

Hồi 10

Hồi 11

Hồi 12

Hồi 13

Hồi 14

Hồi 15

Hồi 16

Hồi 17

Hồi 18

Hồi 19

Hồi 20

Hồi 21

Hồi 22

Hồi 23

Hồi 24

Hồi 25

Hồi 26

Hồi 27

Hồi 28

Hồi 29

Hồi 30

Hồi 31

Hồi 32

Hồi 33

Hồi 34

Hồi 35

Hồi 36

Hồi 37

Hồi 38

Hồi 39

Hồi 40

Cảm khái

Di tích Lịch sử Mê Linh

a

Động Đình Hồ
Ngoại Sử

Hồi 41

Hồi 42

Hồi 43

Hồi 44

Hồi 45

Hồi 46

Hồi 47

Hồi 48

Hồi 49

Hồi 50

Hồi 51

Hồi 52

Hồi 53

Hồi 54

Hồi 55

Hồi 56

Hồi 57

Hồi 58

Hồi 59

Hồi 60

Hồi 61

Hồi 62

Hồi 63

Hồi 64

Hồi 65

Hồi 66

Hồi 67

Hồi 68

Hồi 69

Hồi 70

Y phục thời Lĩnh Nam

Văn bia nói về vua Trưng

a

Cẩm Khê Di Hận

Hồi 71

Hồi 72

Hồi 73

Hồi 74

Hồi 75

Hồi 76

Hồi 77

Hồi 78

Hồi 79

Hồi 80

Hồi 81

Hồi 82

Hồi 83

Hồi 84

Hồi 85

Hồi 86

Hồi 87

Hồi 88

Hồi 89

Hồi 90

Hồi 91

Hồi 92

Hồi 93

Hồi 94

Hồi 95

Hồi 96

Hồi 97

Hồi 98

Hồi 99

Hồi 100

Về núi Ngũ Lĩnh

a

Anh Hùng Tiêu Sơn

Lời nói đầu

Hồi 1

Hồi 2

Hồi 3

Hồi 4

Hồi 5

Hồi 6

Hồi 7

Hồi 8

Hồi 9

Hồi 10

Hồi 11

Hồi 12

Hồi 13

Hồi 14

Hồi 15

Hồi 16

Hồi 17

Hồi 18

Hồi 19

Hồi 20

Hồi 21

Hồi 22

Hồi 23

Hồi 24

Hồi 25

Hồi 26

Hồi 27

Hồi 28

Hồi 29

Hồi 30

Bồ Tát đắc pháp

Thập đại danh hoa

Vấn đề thời đại Tiêu Sơn

a

Thuận Thiên Di Sử

Niên biểu Thuận Thiên,
Đôi lời về đạo pháp
thế kỷ thứ X - XI

Hồi 31

Hồi 32

Hồi 33

Hồi 34

Hồi 35

Hồi 36

Hồi 37

Hồi 38

Hồi 39

Hồi 40

Hồi 41

Hồi 42

Hồi 43

Hồi 44

Hồi 45

Hồi 46

Hồi 47

Hồi 48

Hồi 49

Hồi 50

Hồi 51

Hồi 52

Hồi 53

Hồi 54

Hồi 55

Hồi 56

Hồi 57

Hồi 58

Hồi 59

Hồi 60

a

Anh Hùng Bắc Cương

Thử tìm lại biên giới cổ của Việt Nam : bằng
cổ sử , bằng triết học, bằng di tích và
hệ thống ADN

Hồi 61

Hồi 62

Hồi 63

Hồi 64

Hồi 65

Hồi 66

Hồi 67

Hồi 68

Hồi 69

Hồi 70

Hồi 71

Hồi 72

Hồi 73

Hồi 74

Hồi 75

Hồi 76

Hồi 77

Hồi 78

Hồi 79

Hồi 80

Hồi 81

Hồi 82

Hồi 83

Hồi 84

Hồi 85

Hồi 86

Hồi 87

Hồi 88

Hồi 89

Hồi 90

Hồi 91

Hồi 92

Hồi 93

Hồi 94

Hồi 95

Hồi 96

Hồi 97

Hồi 98

Hồi 99

Hồi 100

a

Anh Linh Thần Võ Tộc Việt

Hồi 101

Hồi 102

Hồi 103

Hồi 104

Hồi 105

Hồi 106

Hồi 107

Hồi 108

Hồi 109

Hồi 110

Hồi 111

Hồi 112

Hồi 113

Hồi 114

Hồi 115

Hồi 116

Hồi 117

Hồi 118

Hồi 119

Hồi 120

Hồi 121

Hồi 122

Hồi 123

Hồi 124

Hồi 125

Hồi 126

Hồi 127

Hồi 128

Hồi 129

Hồi 130

Hồi 131

Hồi 132

Hồi 133

Hồi 134

Hồi 135

Hồi 136

Hồi 137

Hồi 138

Hồi 139

Hồi 140

Hồi kết

E thẹn cúi đầu

Lịch sử khoa tử vi

Suy nhược thần kinh

Hổ cốt mộc qua tửu

a

Nam Quốc Sơn Hà

Thư viết cho tuổi trẻ tộc Việt về những nguồn
tài liệu để tìm hiểu cuộc
Bắc-phạt thời Lý

Hồi 1

Hồi 2

Hồi 3

Hồi 4

Hồi 5

Hồi 6

Hồi 7

Hồi 8

Hồi 9

Hồi 10

Hồi 11

Hồi 12

Hồi 13

Hồi 14

Hồi 15

Hồi 16

Hồi 17

Hồi 18

Hồi 19

Hồi 20

Hồi 21

Hồi 22

Hồi 23

Hồi 24

Hồi 25

Hồi 26

Hồi 27

Hồi 28

Hồi 29

Hồi 30

Hồi 31

Hồi 32

Hồi 33

Hồi 34

Hồi 35

Hồi 36

Hồi 37

Hồi 38

Hồi 39

Hồi 40

Hồi 41

Hồi 42

Hồi 43

Hồi 44

Hồi 45

Hồi 46

Hồi 47

Hồi 48

Hồi 49

Hồi 50

Hồi kết

a

Anh Hùng Đông A
Dựng Cờ Bình Mông

Một cái nhìn tổng quát về 3 cuộc chiến thắng Mông cổ thế kỷ thứ XIII của dân tộc Việt Nam

Hồi 1

Hồi 2

Hồi 3

Hồi 4

Hồi 5

Hồi 6

Hồi 7

Hồi 8

Hồi 9

Hồi 10

Hồi 11

Hồi 12

Hồi 13

Hồi 14

Hồi 15

Hồi 16

Hồi 17

Hồi 18

Hồi 19

Hồi 20

Hồi 21

Hồi 22

Hồi 23

Hồi 24

Hồi 25

Hồi 26

Hồi 27

Hồi 28

Hồi 29

Hồi 30

Hồi 31

Hồi 32

Hồi 33

Hồi 34

Hồi 35

Hồi 36

Hồi 37

Hồi 38

Hồi 39

Hồi 40

Hồi 41

Hồi 42

Hồi 43

Hồi 44

Hồi 45

Hồi 46

Hồi 47

Hồi 48

Hồi 49

Hồi 50

Phụ lục

Vài nét về tác giả

Họ Lý tại Đại Hàn

Thiền công và Khí công

a

Anh Hùng Đông A
Gươm Thiêng Hàm Tử

Hồi 51

Hồi 52

Hồi 53

Hồi 54

Hồi 55

Hồi 56

Hồi 57

Hồi 58

Hồi 59

Hồi 60

Hồi 61

Hồi 62

Hồi 63

Hồi 64

Hồi 65

Hồi 66

Hồi 67

Hồi 68

Hồi 69

Hồi 70

Hồi 71

Hồi 72

Hồi 73

Hồi 74

Hồi 75

Hồi 76

Hồi 77

Hồi 78

Hồi 79

Hồi 80

Hồi 81

Hồi 82

Hồi 83

Hồi 84

Hồi 85

Hồi 86

Hồi 87

Hồi 88

Hồi 89

Hồi 90

Hồi 91

Hồi 92

Hồi 93

Hồi 94

Hồi 95

Hồi 96

Hồi 97

Hồi 98

Hồi 99

Hồi 100

Hồi 101

Hồi 102

Hồi 103

Hồi 104

Hồi 105

Hồi 106

Hồi 107

Hồi 108

Hồi 109

Hồi 110

Hồi 111

a

Biên khảo Lịch sử

Trần Marie France

Đọc Anh hùng Đông A - Gươm thiêng Hàm Tử (GTHT) nói về:

Vụ người Tầu ếm linh khí Đại Việt

Đến vụ Thánh vật ở sông Tô Lịch (Hà nội 2007-2010)

 

Gươm thiêng Hàm tử, Quyển 6, hồi 103 trang 145-149
Hồi này thuật Mông cổ xâm lăng Đại Việt lần thứ nhì. Thoát Hoan phá vỡ phòng tuyến thứ nhất, tiến đến phòng tuyến thứ nhì là Chi lăng. Thoát Hoan sai vợ là Ngọc Trí, gốc người Việt đến chiêu hàng. Tướng trấn thủ là Dã Tượng và phu nhân là Thúy Hồng.

Thúy Hồng hỏi:
_ Mật thư của Bạch Liên, Hồng Nga tâu về Khu mật viện rằng: Hoàng đế Chí Nguyên gửi theo Thoát Hoan 3 đạo sĩ thuộc loại cao tay nhất Trung nguyên, để đặt bùa chú, ếm các vùng đất linh của ta. Em có biết không?
_ Biết! Biết rất rõ. Vì vậy em đã sao sơ đồ thiết trí những nơi sẽ ếm.
_ ? !?!?!
_ Ba lão này đi theo đội Tổng hành dinh, nên gặp em hằng ngày. Em gợi truyện, ba lão khai tuốt tuột tuồn tuốt với em. Ba lão là ba nhà phong thủy bậc nhất của Tống. Khi Nguyên chiếm Lâm an, đã bắt tất cả gái đẹp, thợ giỏi, nghệ nhân đem về Đại đô. Trong đó có ba nhà phong thủy tên Trung Sơn, Tây Sơn, Nam Sơn. Hốt Tất Liệt tuyên triệu ba lão đến Khu mật viện để tường trình về thuật Phong thủy. Hốt Tất Liệt cử ra một đại thần cùng ba lão đi ếm tất cả các thế đất linh của Trung nguyên. Theo ba lão dù hào kiệt Trung nguyên nổi lên chống Mông cổ, ít ra phải 3 trăm năm sau mới có thể phục hồi đất nước. Khi Hốt Tất Liệt họp Khu mật viện bàn kế đánh Đại việt, ba lão tâu:

 « An nam là đất ở vùng Viêm bang, nhiều thế đất linh, rất khó trấn áp. Thời Hán, âm khí cực thịnh, nên đã nảy sinh ra Trưng Trắc, Trưng Nhị cùng 162 tướng nổi lên lập ra triều đình Lĩnh Nam. Vua Quang Vũ sai Mã Viện, cùng 14 danh tướng đem quân nghiêng nước sang dẹp, mà phải mất 5 năm mới thành công. Trước khi Mã Viện lui binh, Quang Vũ sai 36 Phong thủy gia sang Giao chỉ, xét từng trang, từng ấp, từng con sông, từng ngọn núi, rồi thiết kế trấn áp. Biểu tâu về triều, vua Quang Vũ không vui, vì nhà vua muốn trấn áp vĩnh viễn âm khí, để không còn hợp vơi dương khí Viêm bang, tạo ra các vĩ nhân. Mã Viện sai nghiên cứu, tìm đúng âm mạch tụ khí, rồi sai đào hố vuông rộng 50 trượng, sâu 25 trượng (50 m ngày nay). Dưới hố dùng đá xây hầm giống tử cung của đàn bà, bắt 50 đồng nam, 50 đồng nữ chôn sống trong hầm tử cung. Lại đúc một cây cột đồng to bằng một người ôm, giống cái dương vật dựng trên tử cung, xây đá xung quanh như hình dương vật giao hoan, sai khắc chữ :
Đồng trụ chiết,
Giao chỉ diệt.
 Dân chúng không hiểu, cứ nghĩ rằng đồng trụ gẫy thì Giao chỉ bị diệt, nên khi người người đi quang, đều quẳng đá vào chân Đồng trụ, vì sợ Đồng trụ gầy mà không biết rằng làm thế thì cái âm hộ đá, dương vật đồng ngày càng lún sâu. Diệt linh khí âm của Giao chỉ.

Hốt Tất Liệt hỏi :
_ Nếu đúng như vậy thì Giao chỉ sẽ tuyệt âm khí, không còn nảy sinh nữ kiệt. Thế sao chỉ chưa đầy 300 năm sau, vào thời Tam quốc, lại nảy sinh ra Triệu Thị Trinh (Triệu Aåu) , làm cho quân Ngô khốn đốn ?
Trung Sơn tâu :
_ Vì bấy giờ vua Quang Vũ ban chỉ cho các quan Phong thủy trấn áp Giao chỉ, mà không trấn áp Cửu chân. Triệu thị là người Cửu chân
Thái tử Chân Kim hỏi
_ Tôi đọc sách thấy nói :

 « Niên hiệu Hàm-thông thứ tư, đời Đường Ý-tông (Giáp Thân, 864), quan thái-sử lệnh tâu rằng tại Giao-châu có nhiều thế đất phát đế vương, chiếu hào quang lên đến trời, tương lai có thể nảy sinh ra chúa thánh, tôi hiền. Nhà vua cùng quần thần triều nghị rồi quyết định: Giao-châu xưa nay là đất rồng nằm hổ phục; thời Đông Hán đã nảy sinh ra vụ chị em nhị Trưng cùng 162 anh hùng nổi dậy làm nghiêng ngửa Trung-nguyên. Bây giờ các thế đất phát đế vương chiếu sáng như vậy thì phải mau ếm đi, bằng không, thì tương lai Trung-nguyên khó mà chống nổi.
Nhà vua bèn sai Cao Biền (713-756) sang làm đô-hộ tổng quản kinh-lược, và ban dụ rằng:

« Giao-châu hiện có nhiều thế đất vượng đế vương, khanh sang ếm hết đi, rồi vẽ bản đồ tâu về cho trẫm xem ». Biền đến đất Việt, thấy thế đất nào có linh khí thì ếm hết; y thành công. Chỉ duy 4 nơi bị thất bại. Thứ nhất khi ếm thần Tản viên, y suýt mất mạng. Thứ nhì khi ếm thần Kim Ngưu, thần thoát thân, ẩn ở Hồ tây. Thứ ba là ếm thế đất phát đế vương ở Cổ pháp, bị các sư chùa Tiêu sơn phá. Sau này tổ tiên họ Lý táng vào thế đất Tiêu sơn, An Nam mới có triều Lý, thịnh đến hơn 200 năm. Lý thị phá Tống mấy phen, còn đem quân sang đánh các châu Dung, Nghi, Bạch, Ung, Liêm, Tống để một vết nhơ trong lịch sử. Thế đất thứ tư là thế đất Thái đường đầu rồng, thân kỳ lân, cánh đại bàng họ Trần thủ đắc mà lập ra triều đình An Nam (Xem AHĐA DCBM, Q1, Hồi 2). Vậy bây giờ ta phải ếm linh khí An Nam như thế nào ?
Nam Sơn đạo sư tâu :
_ Vào thời Lý bên Đại Việt, một Bồ tát giáng sinh là Minh Không đả tìm ra vết tích cột Đồng trụ Mã Viện, ngài sai đào lên, phá hủy hầm đá âm hộ. Vì vậy âm khí An Nam thịnh trở lại, đã nảy sinh ra các nữ lưu kiệt hiệt như công chúa Bảo Hòa, Kim Thành, Trường Ninh, Thiên Ninh, Đoan Nghi, Côi Sơn và Quốc mầu Thanh Mai ...
Hốt Tất Liệt hỏi :
_ Bây giờ ta phải ếm như thế nào ?
_ Tâu, bây giờ ta phải ếm hai nơi. Một là ếm linh khí toàn thể An Nam, để sau này không còn là mối lo cho Trung nguyên. Hai là ếm phá thế đất Thái đường của họ Trần.
Hốt Tất Liệt cực kỳ cao hứng :
_ Ếm linh khí An Nam như thế nào ?
_ Linh khí An nam quy tụ về Thăng long, vượng đến hơn 3 nghìn năm. Ta cần ếm lại như Mã Viện đã ếm khi xưa.
_ Nghĩa là...
_ Cần đào hố dài, rộng 18 trượng, sâu 36 trượng. Dưới đáy hố xây một cái vòm đá giống hình âm hộ. Bắt 50 đồng nam, 50 đồng nữ, chôn sống trong âm hộ đá. Lại làm một đồng trụ rỗng cao 36 trượng, giống hình dương vật, dựng lên trên âm hộ, tạo thế giao hoan. Trong đồng trụ, chứa xương của những thần thánh của An Nam.
_ Còn phá thế đất Thái đường ?
_ Tâu không khó, ta đem quân chiếm Thiên trường đào mồ mả 10 đời tổ tiên họ Trần quẳng ra đồng.
Ngọc Trí móc trong bọc ra cái ống tre nhỏ. Trong ống tre có một tờ giấy vẽ bùa chằng chịt, rồi trao cho Dã Tượng.

a

Gươm thiêng Hàm Tử, quyển 6, hồi 105, trang 234-238
Hồi này Thoát Hoan đã chiếm Thăng long. Vua Trần và triều đình bỏ chạy.

Thoát Hoan  ban chỉ cho A Lý Hải Nha tổ chức cuộc họp tướng sĩ.
A Lý Hải Nha ra lệnh cho Ô Mã Nhi:
_ Tướng quân điều động Thị vệ canh phòng cẩn mật.
Ô Mã Nhi dẫn Thị vệ kiểm soát trong, ngoài điện một lượt, rồi vào trong điện:
_ Trình quân sư, hoàn toàn an ninh. Có thể họp được rồi.
Mở đầu Thoát Hoan hồ hởi nói:
_ Thời Đông Hán, Mã Viện bình định Giao chỉ rồi, y đúc một cột đồng trụ, sai khắc chữ : Đồng trụ chiết, Giao chỉ triệt. Nghĩa là nếu Đồng trụ gẫy thì đất Giao chỉ bị tuyệt. Dân Giao chỉ sợ cột Đồng trụ bị gẫy nên mỗi người đi qua, đều cầm viên đất hay đá ném vào chân cột. Vì vậy lâu ngày, đá đất lấp mất, không biết cột đó ở đâu. Từ hơn nghìn năm qua các triều đại Trung nguyên mỗi lần đem quân sang đánh Giao chỉ, đều bị thất bại. Nam Hán xuất binh, Thái tử Hoàng Thao bị bắt, bị giết. Thời Tống, Tống Thái tông sai bọn Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Trung, Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân sang đánh bị phá ở Chi lăng, Bạch đằng. Thời Tống Thần tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết đem quân nghiêng nước sanh đánh bị thất bại ở Như Nguyệt, Kháo túc. Mới đây Ngột Lương Hợp Thai tuân chỉ phụ hoàng đem quân sang đánh cũng bị phá ở Đông bộ đầu, Cụ bản, Phù lỗ. Bây giờ ta đuổi bọn Nhật Huyên khỏi Thăng long, chúng chạy như chuột. Ta chiếm Thăng long. Ta đã khai thông con đường từ Lạng sơn tới Nghệ an. Ta sẽ đem quân bình Chiêm. Sở dĩ được như vậy là nhờ công lao chư tướng. Vậy ta phải đúc một cây đồng trụ thực to, đặt giữa Thăng long, trên khắc bài minh ghi chiến công của ta. Các vị nghĩ sao?
A Lý Hải Nha nói đầy kiêu khí:
_ Vương gia thực là người trí tuệ siêu việt. Bây giờ ta cho quân vào các làng thu chuông trong những ngôi chùa, lại thu mâm đồng, nồi đồng, đem về nấu ra. Ta không đúc một cột hình trụ nhỏ như Mã Viện, mà một cột hình nón. Ta sẽ đúc thành những mảnh hình khum dài 2 trượng rưỡi, bốn mảnh ghép lại, hàn dính vào nhau thành những ống to bằng ba người ôm. Lại chồng 4 ống thành hình trụ cao 10 trượng. Trong ống, ta đào mồ bọn Trưng Trắc, Trưng Nhị, bọn Đinh Bộ Lĩnh, bọn Ngô Quyền, 8 đời vua triều Lý, bọn Lý Thường Kiệt, Tôn Đản lấy xương bỏ vào trong ống đồng, cho dân Man Việt kinh sợ. Bên ngoài ta khắc bài minh bằng chữ Hán, chữ Nãi man, chữ Hoa thích tử mô, chữ Nga la tư, chữ Ý lợi thì, chữ Đức lan tây, chữ Pháp lan tây thuật chiến công này.
Ô Mã Nhi hỏi:
_ Tại sao không đào mồ tổ tiên bọn họ Trần lên, giam chung với bọn kia? Lý Hằng xua tay: _ Tướng quân ơi! chúng ta đã phong tên gian vương Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, ta cần dùng y để an dân. Y như con chó săn cho ta. Nếu ta đào mồ tổ tiên y lên thì dân chúng không ai theo y. Việc bình định An Nam sẽ gặp muôn vàn khó khăn.
Thoát Hoan ban chỉ:
_ Bọn Nhật Huyên, Thiệu Bảo trốn như chuột. Ta đã nặn ra một tên An Nam quốc vương mới. Ngày mai y họp tân triều đình, gửi sứ đến các An phủ sứ, Tuyên vũ sứ, các tướng thống lĩnh binh lực. Cuộc bình An nam coi như hoàn tất. Bây giờ các vị ở đâu về đó. Chúng ta chờ hoàng thượng ban chỉ lập An Nam tuyên phủ ty, rồi chúng ta rút quân. Thôi giải tán.

Hôm sau Lý Hằng tới mời Thoát Hoan ra xem đúc ống đồng. Ba lão Trung Sơn, Tây Sơn, Nam Sơn đã điều động một Thiên phu công binh, đào hố sâu , dài, rộng 36 trượng. Dưới hố xây hầm đá. Xung quanh hầm xây nền rộng tới trăm trượng. Chờ ngày, đem chôn sống 50 đồng nam, 50 đồng nữ. Người chỉ huy đúc là Lộ Giáng Kim Mạnh (Laurent Krismer) (1) gốc Đức lan tây, một kỹ sư theo Mông cổ hồi Tốc Bất Đài đem quân đánh nước này. Y là người chuyên về luyện kim chế vũ khí giỏi nhất cho đạo quân Thoát Hoan.
Kim Mạnh trình bầy:
_ Khải vương gia, theo lệnh quân sư thì cột đồng sẽ có hình nón, cao 36 trượng (72 mét ngày nay), chia làm 4 tầng, mỗi tầng cao 6 trượng (18m). Đáy có đường kính 2 trượng (4m), đỉnh có đường kính 1 trượng. Hai tầng dưới cùng có 2 cửa mở ra. Tiểu nhân đã đúc xong 2 tầng lớn nhất; mỗi tầng gồm 4 mảnh khum ghép lại với nhau thành hình trụ.

 Thoát Hoan quan sát nhưng mảnh khum sáng choang, y dùng ngón tay đo bề dầy, tới 2 ngón chỏ.
A Lý Hải Nha trình bầy:
_ Trên đỉnh sẽ gắn hình con đại bàng đang xòe cánh bay. Tầng thứ nhất quá cao sẽ khắc hình 9 con chim ưng đang bay. Tầng thứ nhì khắc bài minh bằng chữ Đức lan tây, Pháp lan tây. Tầng thứ ba khắc bài minh bằng chữ Ý lợi thì, Hoa thích tử mô. Tầng dưới cùng khắc chữ Nãi man, Tây tạng và Hán văn.
Thoát Hoan hỏi Lý Quán:
_ Hữu thừa phụ trách thu đồng, đã thu được bao nhiêu?
_ Khải vương gia, lính công binh thu được hơn trăm quả chuông, tám mươi tượng Phật đều bằng đồng thau. Trên ba nghìn nồi, xanh bằng đồng trụ. Không biết có cần thu nữa không?
Kim Mạnh xua tay:
_ Đủ rồi! Đủ quá rồi, không cần thu nữa.
Thoát Hoan ban cho Kim Mạnh một cái hổ phù, một kim bài và 5 nén vàng, khen ngợi:
_ Tướng quân tiếp tục đúc 2 tầng còn lại, hàn với nhau. Cô gia sẽ làm lễ tế thần, rồi cho dựng cột đồng.
Y ban chỉ cho Trần Ích Tắc:
_ An Nam quốc vương! Cô gia cần 50 đồng nam, 50 đồng nữ từ 8 tới 12 tuổi. Quốc vương trao cho Hữu thừa Lý Hằng, để dùng vào một việc cơ mật.
Trần Ích Tắc không biết gì về việc ếm linh khí. Nghe Thoát Hoan ban chỉ, y chỉ biết tuân theo, ra lệnh cho bọn Trần Kiện, Trần Tú Hoãn, Lê Tắc vào các làng ven đô tuyển đồng nam, đồng nữ. Chúng nói với cha mẹ bọn trẻ rằng: Triều đình tuyển trẻ đến hồ Tây dự lễ dựng cột đồng
Hơn tháng sau:
Thoát Hoan quan sát nhưng mảnh khum sáng choang, y dùng ngón tay đo bề dầy, tới 2 ngón chỏ. Một chiếc xe 4 ngựa chở tầng cuối cùng của ống đồng tới. Bốn chiếc xe khác do Lê Tắc điều khiển, trên chở 100 trẻ con khôi ngô. Chúng ngơ ngác, đâu biết rằng sắp bị chôn sống.
Thoát Hoan mở to mắt ra nhìn bài minh khắc bằng chữ Hán

 “ Phàm phi thường sự, Tất hữu phi thường nhân. Nhược hữu nan sự, vô nhân bất khả thi, Tắc hữu kỳ nhân khả đạt. Như hữu gian thần tặc tử, Aét hữu thánh nhân trấn áp. An Nam trước đây là quận Giao chỉ. Thời Tây Hán, nhân Vương Mãng làm truyện nghịch thiên bạo địa, vua Quang Vũ khởi binh trung hưng lập ra nhà Đông Hán. Man dân Giao chỉ nhân Trung nguyên rối loạn, đã tôn Trưng Trắc lên làm vua. Theo luật trời đặt ra nam tại ngoại, nữ tại nội.
Có đâu đàn bà lên làm vua làm tướng? Gà mái gáy là đềm gở. Vì vậy vua Quang Vũ sai Phục ba tướng quân, Tân tức hầu Mã Viện; Phiêu kỵ đại tướng quân, Phù lạc hầu Lưu Long; Lâu thuyền tướng quân Nam an hầu Đoàn Chí đem quân chinh tiễu, chém Trưng Nhị ở Mê linh, bắt Trưng  Trắc ở Cẩm khê. Đó là phi thường sự, Mã Viện là phi thường nhân.
Phục ba tướng quân đúc đồng trụ, ghi đại công, đánh dấu chỉ ra rằng Giao chỉ là đất của Thiên quốc.
Trải qua gần nghìn năm, man dân Giao chỉ luôn nổi loạn, nào Triệu Ẩu, nào Lý Bôn, nào  Đinh Bộ Lĩnh, nào Ngô Quyền hùng cứ nam phương, ý muốn hướng về Bắc tề vị nhi lập với Thiên quốc. Nam hán sai Thái tử Hoàng Thao đem quân sang chinh phạt, bị Ngô Quyền phá trên sông Bạch đằng, bắt Hoàng Thao chặt đầu. Ôi nhục cho Thiên quốc biết bao? Đó là một nan sự, một thời , nhân bất khả thi.

Khi Tống triều dựng nghiệp tại Trung nguyên, thì tại An Nam, Lê Hoàn thông dâm với vợ Đinh Bộ Lĩnh, cướp ngôi ấu quân, Tống Thái tông sai bọn Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Trung, Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân sang chinh tiễu. Bị thất bại ở Chi lăng, Bạch đằng. Tống triều đành ngậm đắng nuốt cay. Đó là hai nan sự , nhân bất khả thi.

Trải bốn đời, đến đời Tống Thần tông, dùng Tân pháp của Vương An Thạch; nhân binh hùng tướng mạnh, quốc sản dồi dào, sai Quách Quỳ, Triệu Tiết, đem quân nghiêng nước sang đánh An Nam. Bị đại bại ở Như nguyệt, Kháo túc. Tống triều đành nuốt hận làm ngơ.Đó là ba nan sự, nhân bất khả thi.

Gần đây cha con họ Trần hùng cứ Nam phương, ỷ binh hùng tướng mạnh, không chịu tuân phục 6 điều từ thời đức Thái tổ, Hiến Tông hoàng đế sai Thái sư Ngột Lương Hợp Thai sang dạy bảo. Cha con họ Trần dám đem quân chống trả. Ngột Lương Hợp Thai bị bại ở Đông bộ đầu, Cụ bản, Phù lỗ, Bình lệ nguyên. Đó là bốn  đại nan sự , nhân bất khả thi.

Chí Nguyên hoàng đế thống nhất Trung thổ, Nhật Huyên sai sứ sang tạ tội, khấu đầu trước sân rồng, niên niên tu cống. Thiên triều mở lượng trời biển cho họ Trần được tồn tại. Tưởng Thiên triều nhu nhược, cha con Nhật Huyên tuân theo 5 điều, chỉ có việc vào chầu, nại lý do bệnh hoạn không đi ngựa được, cử chú là Trần Di Ái thay. Đức Chí Nguyên bèn phong cho Di Ái làm An Nam quốc vương, thay Nhật Huyên  bệnh hoạn. Sai Sài Thung đem quân đưa về. Cha con Nhật Huyên giết chú, chống binh trời. Đó là năm  đại nan sự , nhân bất khả thi.

Chí Nguyên thiên tử truyền cho ta cùng A Lý Hải Nha, Bôn Kha Đa, Đường Ngột Đải, Giảo Kỳ, Toa Đô, Ô Mã Nhi đem đại quân chinh phạt kẻ nghịch thần, tặc tử. Ta đã phá binh hùng tướng mạnh của cha con Nhật Huyên ở Khâu cấp, Nội bàng, Chi lăng, Trường yên, Hoan châu, Ái châu, đuổi cha con Nhật Huyên khỏi Thăng long, như đuổi chuột. Ta nhân đó đúc tháp đồng, ghi võ công vào đây, cho muôn đời biết.
Đó là  hữu gian thần tặc tử,
Trời sinh ra ta là siêu phàm nhân trấn áp.

Niên hiệu Chí Nguyên thứ 23, tháng 4, mùa hạ, ngày 23.
Trấn Nam vương Thoát Hoan,

Y đang đắc chí,  thì có tiếng reo  hò, rồi từ trong cửa bắc, cửa tây thành Thăng long, xe cộ, người ngựa ùn ùn chạy ra hướng bờ sông Hồng.
Lộ Giáng Kim Mạnh trình bầy:
_ Khải vương gia, trên đầu và đáy mỗi tầng đều có khớp. Khi ráp hai tầng lại, các khớp khít với nhau, chắc lắm rồi, chỉ cần nấu đồng thau đổ lên các khớp là hai tầng hàn lại rất kiên cố.
Ba lão đạo sĩ Trung, Tây, Nam Sơn ra lệnh cho bọn Lê Tắc lùa 100 đứa trẻ xuống hầm đá Bọn trẻ kinh hoảng khóc thét lên, thì bị túm tóc quẳng xuống.
Tạ Quốc Ninh dùng lăng không truyền ngữ rót vào tai ba nàng Ngọc Trí, Ngọc Cách, Ngọc  Quốc:
_ Các cháu nhớ nhé, tất cả các tướng Việt đều được lệnh khi truy đuổi quân Nguyên rằng: phải tuyệt đối tránh đả thương các cháu. Khi rút chạy, các cháu dùng cờ xanh phất lên, quay vòng tròn thì quân Việt sẽ không bắn hay chém giết các cháu.
Đến đó có tiếng reo hò, rồi 2 đạo kị binh từ phía tây, phía nam kéo cờ Việt đang ào ào tiến tới. Từ cửa bắc, một đoàn Ngưu binh đang reo hò tiến ra.
Thoát Hoan ngơ ngác hỏi:
_ Cái gì vậy?
Hai tên thiên phu cúi đầu:
_ Quân man gồm thủy, bộ, ngưu, kị đông như kiến tràn ngập Chương dương, Tây kết rồi tấn công vào cửa đông, cửa nam Thăng long. Bọn Đại đởm xuất hiện trong Hoàng thành, chiếm điện Long thụy, Long an, Giảng võ.
A Lý Hải Nha hỏi:
_ Trong thành có một vạn Thiết đột, sao không chống trả gì vậy?
_ Ngựa bị trúng độc nằm bẹp trong tầu. Thiết đột chạy bộ ra cầu phao trốn như chuột. Thăng long bị chiếm rồi.
Ô Mã Nhi dàn 4 nghìn kị binh xung quanh bảo vệ các chúa tướng. A Lý Hải Nha ra lệnh Thị vệ hộ tống xe các phu nhân ra cầu phao Bắc ngạn sang Gia lâm. Nhưng đường đi bị binh lính chen nhau chạy chật cứng.
Ngưu binh đã tới.
Lý Hằng nhận ra người điều khiển Ngưu binh là Dã Tượng. Dã Tượng đứng trên mình trâu, bên phải là Lý Long Đại, bên trái là Vũ Trang Hồng. Dã Tượng vung tay ném một viên đá, miệng  hô bằng tiếng Mông cổ:
_ Thoát Hoan! Hôm nay tao ném đá giết mày như giết Mông ca.
Viên đá trúng tên Thị vệ cạnh Thoát Hoan. Cộp một tiếng cái mũ đồng bị bẹp dúm, tên Thị vệ văng khỏi mình ngựa đến 2 trượng chết thẳng cẳng. Dã Tượng vung tay ném viên thứ nhì, Ô Mã Nhi kinh hoảng, y xớt Thoát Hoan bỏ vào cái ống đồng  trên xe.
Dã Tượng phóng tới chụp 1 lão đạo sĩ, nắm chân xé toạc ra làm đôi. Ngưu binh nhảy xuống hầm cứu đám trẻ mang lên.
Ngọc Trí bỏ xe mình, nhảy lên xe chở ống đồng với cây cờ xanh. Nàng ra hiệu cho Thị vệ hộ tống xe hướng cầu phao sang Gia lâm. Dã Tượng ném theo một viên đá, trúng ống đồng, bồm một tiếng chói tai. Thoát Hoan rú lên thất thanh.
_ Cha mẹ ơi!
Ngọc Trí biết rõ ràng  rằng Dã Tượng không giết nàng. Nhưng nàng vẫn vờ kêu lên:
_ Anh Dã Tượng! Xin dung tình!

a

Gươm thiêng Hàm Tử, hồi 208, trang 384-388
Sau khi đại bại, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy về nước. Hốt Tất Liệt lại sai y mang 50 vạn quân sang báo thù.

Nhà vua ( Trần Nhân Tông) an ủi Đại Hành:
_ Khanh vì nước mà bôn ba một thời gian dài ở hải ngoại. Bây giờ trẫm phong chức tước khanh như sau:
Trường yên công, Trấn viễn đại tướng quân,
Lĩnh Tuyên vũ sứ Trường yên.
Khanh hãy về quê nghỉ, thần hôn định tỉnh với mẫu thân, hàn huyên với phu nhân. Tội cho phu nhân Cẩm Nhãn, thành hôn được 3 ngày phải thay chồng phụng dưỡng mẹ già. Uổng phí những ngày xanh hoa nở. Lễ bộ ban chiếu phong cho tước Côi sơn hồng đức, chí hiếu quận chúa.
Đại Hành tâu:
_ Trước khi Tuyên phi Bạch Liên băng, người gọi thần đến trao cho một cái tráp, trong chứa đầy vàng ngọc. Phi nói đó là những báu vật Hốt Tất Liệt ban cho phi. Hiện cha, mẹ, anh em phi không còn ai. Phi gửi thần mang về xung vào công khố Đại việt.
Nói rồi Đại Hành bưng cái tráp để trước mặt thượng hoàng. Thượng hoàng mở ra, trong tráp nào vàng, nào ngọc, nào nữ trang sáng chói. Thượng hoàng than:
_ Hỡi ơi! Đức của phi cao vòi vọi. Đức của Thanh Liên càng đáng trân trọng. Xứng đáng tôn là thánh. Bộ lễ hãy ban chế tôn 2 vị là Thánh mẫu. Thanh Liên là :
Linh anh, trấn quốc, huyền quân thánh mẫu.
Tôn Bạch Liên tước:
 Bắc phương minh đức quảng hóa thánh mẫu.
Tạ Quốc công đảm trách xây đền thờ bên bờ sông Tô lịch. (8). Công định xây ở đâu?
Tạ Quốc Ninh tâu:
_ Thần thấy bờ sông Tô lịch, chảy qua phường Trấn tà ở cửa Tây có thể xây đền này. Hai vị thánh mẫu sẽ cùng với khu trấn yểm, để áp chế hồn ma, vía quỷ tại đây.

Ghi chú: Đền này sau gọi là miếu Đôi cô, miếu Nhị thánh, linh ứng kỳ lạ. Sau dân chúng đọc trại đi thành Đền Đời hay Quán Đời. Dân chúng cầu gì cũng được. Quanh năm Nhị thánh thường về Đồng. Vị trí này nay thuộc làng An phú, thị trấn Nghĩa đô, huyện Từ liêm bên sông Tô lịch, Hà nội. Hồi Trương Phụ đem quân sang đánh giặc Hồ Quý Ly, quân Minh đốt phá Nghĩa đô, Nhị thánh giáng họa, chúng bị bệnh chết nhiều quá. Trương Phụ sai quân dùng Thần công bắn sập, lấy tượng nấu ra đúc súng. Khi vua Lê vây Đông đô, Nhị thánh nhập mộng báo cho vua biết: sẽ giúp quân Việt đánh giặc Minh. Hết giặc (1420) vua ban chỉ xây đền hoành tráng hơn xưa. Hồi Tôn Sĩ Nghị đem quân Thanh nhập Việt. Một lần nữa đền bị phá. Khi triều Nguyễn lập (1802) dân chúng góp tiền xây lại. Trải qua bao nắng mưa cho đến gần đây vẫn còn. Xin đọc tài liệu chú giải (8)cuối hồi này.

Thượng hoàng chuẩn tấu hỏi:
_ Tại sao lại có tên phường Trấn tà?
Hoài Văn vương (Trần Quốc Toản) tâu:
_ Tâu lỗi ở thần, vì sau khi đuổi Mông cổ, thần lên đường thăm phụ vương, nên chưa kịp tâu với triều đình. Địa điểm  là điểm giao hịa của 3 con sơng cổ: sông Tô Lịch, sơng Thiên Phú và sông Nhuệ. Có thầy địa lý đã nói: đây là điểm giao và là một huyệt phong thủy rất quan trọng. Vì vậy, hồi xưa Cao Biền đã lập trận đồ trấn yểm linh khí đất Việt
Vương tiếp:
_ Mấy năm trước, khi Thoát Hoan đem quân nhập Việt, Hốt Tất Liệt sai ba lão đạo sĩ cao tay nhất Trung thổ đi theo, với mục đích dựng cột Đồng trụ như  Mã Viện đề trấn áp linh khí Đại Việt. Ba đạo sư này cho xây hầm như hình âm hộ, bắt 50 đồng nam, 50 đồng nữ chôn dưới hầm. Trên hầm dựng cột Đồng trụ giống dương vật. Nhưng khi Thoát Hoan đang làm lễ thì thần với Hoài Nhân vưỡng đem Dã Tượng,  Ngưu binh tới đánh. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy. Các đồng nam, nữ được cứu thoát. Hầm bị phá. Dã Tượng xé đạo sư Tây Sơn làm hai. Thầy Tạ Quốc Ninh can thiệp cứu được hai đạo sư Trung Sơn, Nam Sơn. Hai đạo sư khóc lóc rằng họ là di thần Tống triều, bị Mông cổ bắt, nên phải tuân chỉ Hốt Tất Liệt, mà trù ếm Đại Việt. Hai lão xin đới tội lập công.
Cả triều đình cùng lắng nghe vương tâu. Thượng hoàng hỏi:
_ Hai lão đới tội lập công như thế nào?
_ Hai lão khải với Hoài Nhân vương như sau: xưa Cao Biền ếm đất linh tộc Việt bằng cách lấy 8 cây gỗ lim, đóng xuống đáy sông Tô lịch, rồi bắt 8 tráng đinh trói vào 8 cột chôn sống thành hình Bát trận đồ. Xung quanh trận đồ cắm 8 thanh kiếm, 8 cây giáo với 8 hộp bùa chú. Trong hai trận Mông cổ sang đánh Đại Việt, binh tướng chết hằng mấy chục vạn, hồn oan phiêu phưởng phá hại dân chúng. Nếu một mai Thoát Hoan đem quân sang nữa, chúng sẽ trợ giúp Mông cổ đánh ta. Xin vương sai tát nước sông Tô lịch móc 8 bộ xương, 8 thanh kiếm, 8 cây giáo, 8 hộp bùa ếm của Cao Biền lên  Thần sẽ lâp một đàn tế oan hồ tử sĩ Mông cổ. Khi chúng tụ về, thần làm phép bắt hồn chúng vào 8 cái hộp. Bấy giờ vương đem 8 tên bách phu trưởng bị bắt làm tù binh, trói vào 8 cột, lại cắm 8 thanh kiếm, 8 cây giáo của ta với 8 hộp giam hồn ma Mông cổ chôn giữa trận đồ. Sự việc Hoài Nhân vương chỉ làm trong 2 ngày thì xong. Hoài Nhân vương dặt tên khu này là Trấn tà.
Chiêu Minh vương hỏi:
_ Thế hai đạo sư kia đâu rồi?
_ Thưa, 2 ông xin theo về với Quốc công Triệu Trung, kháng chiến ở vùng Trường sa. Trước khi về Tống, 2 đạo sư dặn rằng: những oan hồn tử sĩ Mông cổ đời đời bị giam dưới đáy sông Tô lịch. Đừng bao giờ đào xới Bát trận đồ, bằng không được thả ra, chúng sẽ phá phách khiếp lắm.

a

Gươm thiêng Hàm Tử hồi 111, trang 416-432

(8) Đền này nằm tại bờ sông Tô lịch.  Hồi vua Lê Thái tổ vây Đông đô (Hà nội) giặc Minh lấy tượng nấu ra đúc súng. Khi vua Lê tái lập nền tự chủ dân chúng đã xây lại một đền rấùt lớn. Hồi  người Pháp phá thành Hà nội, đền cũng bị phá. Sau dân chúng xây lại  như cũ.
                Cổng vào đền có đôi câu đối, do chính Tạ Quốc Ninh làm:

Quốc sắc, thiên hương thiên hạ hữu,
Linh thanh,  vạn cổ thế gian vô.

(Dung quang quốc sắc thiên hương, nhân loại có thể có. Còn tài âm thanh, từ vạn cổ, thế gian không ai bằng).
                Hai cột trong đền có đôi câu đối không rõ ai làm:

Thiên hương, quốc sắc anh hùng lệ,
Nhất phiến tài tình vạn thế âm.

(Sắc đẹp thiên hương, quốc sắc, tuẫn quốc, làm anh hùng nhỏ lệ. Nhưng tài âm nhạc còn lưu lại vạn năm sau).
Ngay 2 bên bài vị thờ có đôi câu đối :

Liên hoa thất đóa anh linh tại,
Việt quốc thiên niên liệt nữ hồn.

(7 nàng Liên, tuy qua đời nhưng linh thiêng vẫn còn. Hồn của liệt nữ nghìn năm vẫn phảng phất). Có lẽ sau nhiều lần phá đi, xây lại, các câu  đối tại đền Đôi cô (Quán Đôi, Quán Đời nay không giống như cũ nữa.Hồi xây đền, thánh mẫu Hoàng Liên, Hồng Liên chưa hoăng. Có lẽ người sau làm khi cả 7 Liên qua đời.
                Mặc dù đền chính bị phá, nhưng khắp nơi đều tôn kính, ngồi đồng, bởi vì sau khi hoăng cả 7 vị đều linh thiêng kỳ la, thường về đồng. Trong giới đồng bóng gọi là Thất vị thánh mẫu.

Sau khi hết giặc, chỉ còn 3 vị tại thế. Ba vị mở phường dạy học. Đặc biệt Hoàng Liên bị mù, nên bà chỉ nhận dạy  học trò mù. Học trò mù đi hát rong để kiếm sống. Nên đến thế kỷ thứ 20, người ta dùng từ XẨM để nói về ngưới mù. Do vậy Hát Xẩm bị khinh khi. Tưởng như bị tuyệt tích.

Phải đến năm 2005, các nghệ sĩ Thanh Ngoan, Thúy Ngần, Mai Tuyết Hoa, Xuân Hoạch cùng nhạc sĩ Thao Giang đã can đảm, bỏ ra không biết bao nhiêu công, sức, lặn lội hết các thôn xóm, sưu tầm, biên tập, làm sống lại nghệ thuật dân gian trải qua gần nghìn năm. Ngày nay (tháng 12-2009) cứ mỗi tối thứ 7, các nghệ sĩ Hà nội lại họp nhau, Hát Xẩm tại chợ Đồng Xuân cho công chúng xem.
Đây là 7 vị tổ sư của Hát Xẩm. Chứ không phải như truyền khẩu nói rằng tổ là một hoàng tử con vua Trần Thánh tông. Tôi chỉnh lại một sai lầm với tất cả dè dặt, như các sử gia Hoa Việt: nghi dĩ truyền nghi (điều nghi ngờ, thì truyền lại rằng nghi ngờ). Mời độc giả đọc bài ký sự dưới đây của Nguyễn Hùng Cường đội  trưởng đội XD số 12 đăng trên báo BVPL cuối tuần trong nước:

Thánh vật ở sông Tô Lịch - Kỳ 1
Nguyễn Hùng Cường đội trưởng đội XD số 12,
Báo Bảo vệ Pháp luật số 13 ngày 31-3-2007.


Cty liên doanh XD VIC trúng thầu gói thầu 07 dự án cải tạo hệ thống thoát nước HN. Công việc cụ thể là nạo vét và kè đá dọc bờ sông Tô Lịch. Tác giả bài viết này là ông Nguyễn Hùng Cường đọi trưởng đội XD số 12 trực tiếp chỉ huy thi công đoạn sông qua làng An Phú, P Nghĩa Đô, Q Cầu Giấy. Và mọi việc kỳ bí và đáng sợ bắt đầu từ đây. Có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng cũng có thể là chuyện tâm linh chúng ta chưa giải thích được.

Trước khi thi công, với tư cách chỉ huy công trường tôi có mời ông Phạm Ngọc Anh kỹ sư thủy lợi làm chuyên viên kỹ thuật. Ngay ngày đầu tiên khi khảo sát thực địa, ông Anh phát hiện một ngôi Đền rất lớn ở bờ sông phía An Phú. Đó là ngôi Đền Quán Đời có từ thời Lý. Ông Anh nói luôn: "cậu không nên nhận thi công đoạn sông này. Nguy hiểm lắm". Rất ân hận, tôi đã không nghe theo lời khuyên này.

Ngày 15/8/2001 tôi vừa làm lễ trong đền Quán Đời, vừa cho máy xúc, máy ủi xuống bờ sông khơi công. Vừa thắp được mấy nén hương thì tự nhiên lửa trong nắm hương cứ bùng bùng cháy rực, đồng thời ngực tôi đau buốt. Mãi mới dập được lửa, cắm lên bát hương thì công trường báo có sự cố. Vái vội mấy vái, tôi chạy ra ngoài. Thì ra ngoài công trường sau khi đắp đê bơm nước ra, anh em phát hiện rất nhiều cọc gỗ lim đóng theo những hàng ngắn, bố chí rất lạ. Cũng là vô sự, vô sách, tôi chỉ huy cho máy nhổ cọc lên. Máy vừa nhổ được 2 chiếc cọc, thì tự nhiên như có một lực gì đẩy, chiếc máy xúc tự trôi xuống sông, không có cách gì giữ được. Đồng thời đê ngăn nước vỡ, nước tràn vào ngập kín chiếc máy xúc. Cũng gần như cùng lúc ấy có tiếng người hét lên. Trong đống bùn mà máy xúc đã xúc lên bờ có lẫn rất nhiều xương người, xương thú vật, rất nhiều đồ gốm, đồ sắt, đồ dùng như bát đĩa, dao, liềm, kim khâu, tiền đồng, tiền cổ. Biết là gặp chuyện lớn, tôi cho dừng thi công, yêu cầu công nhân gom tất cả đồ cổ, xương người lại và báo với Bảo tàng HN. Ông Phạm Kim Ngọc GĐ Bảo tàng HN và nhiều nhà khoa học đã đến hiện trường thu nhặt cổ vật màng về bảo tàng. Tối hôm đó, anh Hùng, người lái máy xúc nhổ cọc, đang khoẻ mạnh vừa về đến nhà chợt lên cơn động kinh, mắt trợn, miệng sủi bọt mép, người cứ quay tròn như gà bị cắt tiết. Cả nhà anh Hùng biết có sự lạ, sắm lễ ra bờ sông vừa khóc vừa lễ. Thật sợ, vừa lễ xong, đót vàng mã được một nửa thì điện thoại ở nhà báo tin anh Hùng đã tỉnh lại.

Không biết làm cách nào, nghe bạn bè mách, tôi phóng xe đi Hải Phòng mời 1 thầy pháp nổi tiếng về trừ tà. Vừa nói chuyện với thầy, tự nhiên thầy trừng mắt: "Này, chỗ ấy âm khí nặng nề, sức tôi không trừ được". Năn nỉ mãi thầy mới đi về HN mà cũng chỉ dám làm lễ cầu an ở bờ sông và ngay đêm đó về HP.
Mấy ngày sau, Bảo tàng HN tổ chức 1 hội thảo khoa học, hội tụ rất nhiều các nhà khoa học cả về sử học, bảo tàng, tâm linh... Kết luận của giáo sư Trần Quốc Vượng được chất nhận: đây là trận đồ bát quái yểm trấn giữ cửa thành Đại La từ thế kỷ IX. GS cũng đề cập đến lực lượng âm binh tại đây và dặn tôi phảỉ cẩn thận kẻo ảnh hướng đến sức khoẻ và tính mạng công nhân.

Tôi cùng anh em công nhân thu nhặt hết tất cả xương người liệm vào tiểu và chôn ở bờ sông, hàng ngày cắt cử người hương khói. Nhưng công việc không tiến triển được. Cứ đắp đê lên, lại vỡ. Anh em công nhân ở công trường thì luôn luôn mơ thấy ma quỷ và thường gặp tai nạn lao động. Vét được chút bùn nào lên thì cũng thấy xương người, có khi cả đầu lâu. Chúng tôi liệm hết vào tiểu đem chôn gần đó.

Một mặt tích cực đổi mới kỹ thuật thi công, mặt khác tôi vẫn tiếp tục mời thầy cúng trừ tà giải hạn. Nhưng tất cả các thầy bắc, nam đều bất lực. Công nhân toàn nằm mơ thấy những người mặc áo the, khăn xếp đánh đuổi không cho nằm. Nhiều người đã bỏ việc không dám ở lại. Anh Thương quê ở Nghệ An là công nhân xây lắp ngủ ở lán công trường, đêm nào cũng mơ thấy 1 bà cụ hiện lên nắm tóc đuổi đi và nói "Đây không phải chỗ kiếm ăn của mày, về quê mà sống". Anh Thưởng không chịu bỏ đi, còn khuyên nhiều công nhân ở lại làm. Được 3 hôm vợ anh làm cấp dưỡng cho công nhân bị bỏng độ 3 toàn thân. Sợ quá anh đưa vợ đi bệnh viện và bỏ việc luôn.
Đến tháng 11/2001 nhờ tích cực vận động tôi đã mời được thượng toạ Thích Viên Thành ở chùa Hương về làm lễ cúng cho tôi ở hiện trường. Vừa đến hiện trường thầy đã ngồi xuống nhắm mắt niệm phật. Niệm 1 lúc thầy đứng lên nói. Đây là trận đồ trấn yểm rất nguy hiểm. Vì các đệ tử thầy sẽ lập đàn tràng hoá giải. Sau đó thầy lập đàn tràng ở bờ sông hoá giải trấn yểm. Lễ xong thầy Thích Viên Thành nói với mọi người, "mặc dù thầy đã cố hoá giải nhưng anh em phải cẩn thận, còn anh Cường thì phải chịu nhiều hậu quả, gia đình, anh em con cháu cũng gặp hoạ. Rồi buồn buồn thầy nói: "vì cái đàn tràng này tính mạng thầy cũng khó giữ", Ba tháng sau thầy Thích Viên Thành hoá. Các đệ tử nói trước khi mất thầy còn nói thầy mất vì trận đồ yểm ở sông Tô Lịch.

Nhưng công việc cũng không tiến triẻn được. Đê đắp lên là vỡ, kè thép không vỡ thì nước sói từ dưới lên. Đặt đá xuống thì đá chìm ngỉm. Để kiểm tra địa tầng tìm kiếm biện pháp thi công mới tôi thuê 1 dàn khoan thăm dò đến khoan mấy mũi. Dàn khoan dựng ở giữa sông, đội khoan hạ mũi khoan. Lạ thay cứ hạ mũi khoan xuống 1 đoạn là mũi khoan gãy. Ba lần như vậy họ lẳng lặng tháo dàn khoan đi mất, không cần đòi tiền. Công nhân thì vẫn hoang mang vô cùng. Anh Hoàn quê ở Ninh Bình làm đốc công, có hôm vừa dẫm chân lên đầu cột gỗ thì ở quê nhắn lên bố anh ốm thập tử nhất sinh phải cấp cứu. Anh Nguyễn Văn Nông, thủ kho là người tích cực trong việc thu lượm các hài cốt và di vật thì mẹ bị tai biến mạch mãu não. Sau khi thày Thích Viên Thành làm lễ hoá giải yểm trừ, anh Trần Văn Lợi người Bắc Giang xông sáo nhất nhẩy xuống lòng sông vét bùn. Vừa lên bờ tắm rửa xong thì nghe tin nhà ở quê bị cháy rụi, một đứa cháu rất thân với anh đột nhiên chết.
Các công nhân sợ hãi nghỉ việc cả. Chiều chiều đứng bên bờ sông hoang vắng lòng tôi bỗng chua xót. Tôi có tội gì đâu mà thánh thần hại tôi đến nỗi này....

Theo báo Bảo vệ Phápluật

Thánh vật ở sông Tô Lịch - Kỳ 2
Nguyễn Hùng Cường đội trưởng đội XD số 13,
Báo Bảo vệ Pháp luật số 14 ngày 6-4-2007.


Thấm thoát đã cuối năm, trời trở rét, chỉ còn anh em thân thiết với tôi là ở lại làm. Tôi cho đóng cọc thép sâu tới 4m rồi làm cữ thép chấm nước. Lạ thay cứ bơm sạch thì nước lại cữ lại vỡ. Lúc này một số báo chí đã nói tới những sự kỳ lạ xung quanh công trình trên sông Tô Lịch đoạn qua làng An Phú này. Bảo tàng Hà nội, rồi Viện tâm lý, các nhà ngoại cảm cận tâm lý đều đã tổ chức các cuộc họp tại công trình. Kết luận cuối cùng là… không giải thích được. Phía các nhà sử học, khảo cổ học giải thích rằng nằm trong quần thể của Tây thành Đại La (có thể là Ngọ Môn), nhiều người còn yêu cầu khôi phục di tích này, phía các nhà tâm linh, dịch học thì nói đây là trận đồ yểm tà ma, không cho xâm phâm kinh thành, vì là trận đồ nên đã giam giữ rất nhiều ma mãnh, những bộ xương người mà tôi đào được rất có thể là xương người bị tế sống chôn lúc làm lễ trấn yểm. Cũng theo họ tôi đã động đến trận đồ đó, phá hủy nó, giải thoát cho bao nhiêu tà ma nên nó ám vào làm hại những người có mặt lúc đó, mặt khác thánh thần cũng căm giận việc làm của tôi nên ra tay trừng phạt. Chuyện thánh thần ma quỷ thì không ai nhìn thấy, nhưng những rủi ro mà chúng tôi phải chịu thì quá đáng sợ.
Có một hôm đóng cữ mới, bơm nước cạn chuẩn bị đào để kè bờ thì phát hiện có thêm một cọc gỗ. Dùng máy xúc nhổ mãi không được, tôi giao nhiệm vụ cho anh Thùy (người Ninh Bình) xuống chặt cụt đi để lấy chỗ làm. Ngay đêm hôm đó anh bị cảm nặng sốt cao, phải đưa vào bệnh viện. Nhưng kinh khủng hơn sáng hôm sau điện thoại từ gia đình anh điện lên mẹ anh bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não. Đến chiều thì tin lên đứa con anh đang học lớp 7 bước từ trên hè xuống sân ngã gãy xương đùi, mặc dù từ hè và sân chỉ cách nhau 30cm. Đến sáng hôm sau thì mẹ anh bị đứt mạch máu não. Đang sốt anh Thùy cũng phải vùng dậy chạy vào đền làm lễ mới bỏ về. Sau này tôi mới biết nhà anh còn gặp nhiều chuyện không may nữa, phải cúng lễ rất nhiều anh mới sống sót được.
Nhưng bỏ không làm nữa cũng không được. Đã đổ dồn hết vốn vào đây mà bỏ đi thì không chỉ chết một mình tôi mà chết cả nhà, cả họ. Xin nhắc lại là công ty VIC trúng thầu nhưng làm từng đoạn, các đội nhận khoán lại, phải tự bỏ tiền ra làm rồi thanh toán sau. Mặc dù tôi đã báo cáo lãnh đạo công ty nhiều lần, báo chí cũng đã nói đến chuyện này nhưng ông Nguyễn Quang Hưng – Giám đốc công ty tư vấn không quan tâm giúp đỡ. Ngược lại ông còn nhạo báng chê trách chúng tôi không biết làm việc.Vì vốn liếng, vì sĩ diện của một kỹ sư xây dựng, tôi bàn với anh em thân tín quyết tâm làm đến cùng. May thay ông Nguyễn Trường Tiểu – Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty VIC ủng hộ tôi rất nhiều trong công việc này (hiện nay ông Tiểu đang làm Phó Tổng giám đốc Tổng công ty xây dựng Hà nội). Được sự giúp đỡ của ông, tôi đã mời được thầy Mão, một thầy từ phủ nổi tiếng, nhà ở Vĩnh Tuy- Hà nội, đến làm lễ tế tại công trường. Nhiều lần tôi và ông Tiểu đến mời ông Mão và cuối cùng đến tháng 8/2002 ông Mão nhận lời lập đàn tràng giải trận đồ bát quái cho tôi. Đàn lớn lắm, có đủ cờ phướn, hương án, lê mận, hoa quả… Trong danh sách chủ lễ có đủ ban giám đốc công ty VIC, nhưng ông Hưng không đến dự, cúng lễ hai ngày hai đêm, hàng trăm người đến xem ầm ĩ một khúc sông. Cúng xong ông Mão nói với tôi: “Cậu đào khúc sông này là cậu khổ rồi. Bây giờ cậu có thể làm xong việc nhưng nhà cậu sẽ gặp nhiều tai vạ lớn. Tôi làm lễ cho cậu cũng sẽ bị trả giá. Mặc dù tôi không chết nhưng e rằng sẽ khó được như trước”.
Ngay sau khi cúng sau, chúng tôi cùng về nhà thì ông Mão ngất đi. Từ lúc đó, trong gần nửa tháng, người nhà ông Mão đưa ông đi khắp các bệnh viện, không bác sĩ nào biết ông bị bệnh gì, còn ông Mão thì lúc mơ, lúc tỉnh, lúc thì kêu đau đầu… Cứ vậy mãi sau ông mới khỏi, nhưng từ đó sức khỏe yếu hắn đi. Trước đây tôi không tin là thầy Thích Viên Thành chết vì tai họa sông Tô Lịch nhưng từ khi chứng kiến ông Mão ốm thì tôi tin rằng thầy Thích Viên Thành chết vì tà ma sông Tô Lịch thật. Nhưng lạ nhất là từ lúc lập đàn tràng lần thứ 2 do ông Mão chủ lễ công việc có vẻ suôn sẻ hơn. Cữ dựng lên không bị phá vỡ nữa, kè đập cũng không bị sạt lở, chúng tôi làm được gần 150m dài, quá 1/3 đoạn sông tôi nhận. Tôi quyết định dừng công việc tại đây.
Nhưng tai họa thì không dừng lại, vào ngày tôi hết sạch tiền, định cho anh em công nhân nghỉ việc thì tự nhiên một anh công nhân lên cơn động kinh ngay tại công trường, miệng sùi bọt mép, mất hoàn toàn ý thức. Lúc tan cơn co giật anh vẫn mê sảng mồm lảm nhảm: “Trả tao đây, trả tao đây”. Ngay hôm sau tôi được tiếp một người quen mới từ Lào về. Đó là anh Tuấn, một cán bộ Ủy ban Dân tộc Trung ương. Năm trước, trong lúc chúng tôi đào trận bát quái anh có đến thăm và chọn trong các đồ cổ xúc ở dưới sông lên, xin một cái bát hoa cúc đời Lý, anh mang về bày ở trong nhà. Từ ngày ấy gia đình lục đục, làm ăn thất bại. Vừa rồi anh có đi công tác sang Lào có ông một thầy cúng vừa nhìn thấy anh đã hốt hoảng: “Anh có cầm vật gì của người âm không?”, anh trả lời “Không có ạ”, ông thầy cúng lắc đầu: “Anh phải nhớ thật kỹ đi, tôi thấy sau lưng anh có rất nhiều người âm đang đòi anh cái gì đấy, hình như là bát ăn cơm thì phải. Anh lấy của họ dưới sông làm họ không có bát ăn cơm. Anh phải trả họ ngay không thì gay go đấy”.
Anh Tuấn nhớ lại chuyện cái bát sợ quá phải bỏ dở chuyến công tác, quay về Hà nội sắm lễ vật làm lễ tạ tội và trả cái bát vào lòng sông đúng chỗ chúng tôi múc lên hôm đó là ngày 24/7/2002.
Chuyện còn rất dài, tai họa còn rất nhiều, ba ngày sau đó, bố đẻ tôi đột ngột ra đi và nhiều chuyện nữa đã xảy ra mà tôi sẽ kể chi tiết sau. Bởi ngay đến hôm nay gia đình tôi vẫn còn phải chịu nhiều oan khuất. Em gái tôi là Nguyễn Thị Bích Hợp bán bảo hiểm cho PJICO, chỉ bán bảo hiểm cho công ty Thái Phong, không tham ô tham nhũng đồng nào, chỉ vì các ông giám đốc, phó tổng giám đốc tham ô tiền tỷ mà phải ra tòa. Ai biết chuyện cũng thương mà không giúp gì được. Dự kiến phiên tòa sẽ bắt đầu vào ngày 10/4/2007. Tôi lo em tôi sẽ bị tù oan. Thế là em tôi đi tù tại tôi, tại tôi ngu ngốc đã nhận thi công đoạn sông ấy, đã đụng vào trận đồ bát quái ghê gớm ấy. Đã có quá nhiều người chết, đã có quá nhiều người bị nạn, bị thương tật. Tôi cầu mong thần thánh mười phương, cầu mong các vị quan tòa anh minh cứu giúp em tôi, cứu giúp gia đình nhà tôi.

Theo báo Bảo vệ Pháp luật.

Thánh vật ở sông Tô Lịch - Kỳ 3
Nguyễn Hùng Cường đội trưởng đội XD số 12,
Báo Bảo vệ Pháp luật số 15 ngày 14-4-2007.

Như số báo trước đã kể, thầy từ phủ Phạm Văn Mão sau khi lập đàn tràng đã hóa giải được trận đồ bát quái công trình kè sông Tô Lịch, đoạn qua đền Quán Đôi, nhưng đổi lại gia đình tôi và cả anh em tôi sẽ bị trận đại nạn mất tất cả. Đúng như vậy, ngay sau đó công việc trên đoạn sông này bỗng nhiên thuận lợi, chẳng mấy chốc tôi đã làm xong khoảng 150m chiều dài kè sông. Đến lúc xảy ra sự kiện anh Tuấn bị người âm đuổi theo, trả lại cái bát hoa cúc xuống lòng sông. Bố để tôi ở quê là một người đàn ông trẻ khỏe hơn tuổi 70 của mình, ông vẫn làm việc và lao động như mọi tráng niên. Sau khi anh Tuấn trả cái bát về lòng sông đúng 3 hôm, ngày 27/7/2002, bố tôi đi chơi về đang ngồi uống nước ở nhà đột nhiên đứt mạch máu não và chết ngay sau 6 tiếng đồng hồ cấp cứu. Đây là mất mát lớn nhất của cuộc đời tôi. Biết là mọi sự nguy hiểm đang rình rập, ngay sau khi đám hiếu bố tôi kết thúc, tôi ra ngay công trình, đào toàn bộ 8 hài cốt moi từ dưới sông đang chôn tạm dọc bờ sông lên, rửa ráy sạch sẽ, xếp vào tiểu đẹp và làm lễ trọng, đưa toàn bộ lên nghĩa trang Bát Bạt an táng, cho mát mẻ vong linh người chết. Trong đau khổ và mất mát cha, trước đàn lễ tôi vừa khóc vừa khấn rất to nhiều người nghe thấy: “Tín chủ xin các vong hồn tha thứ cho sự xúc phạm vào nơi yên nghỉ của các vong, nhưng tín chủ cũng chỉ là người làm thuê, thừa lệnh cấp trên mà làm, nay con đã sức cùng, lực kiệt, người thì chết, người thì ốm, tiền thì hết, nếu các vong có bắt tội thì bắt tội ông Nguyễn Quang Hưng, Giám đốc công ty VIC và ông Nguyễn Trọng Doanh, Giám đốc dự án. Xin các vong nhẹ đỡ trừng phạt con”. Tôi cũng nói thêm, trong suốt thời gian xảy ra chuyện ở đoạn sông Tô Lịch này, hai ông Hưng và Doanh lúc nào cũng tỏ vẻ không tin và không hề có sự hỗ trợ nào, thậm chí còn nhạo báng và gây thêm khó khăn cho công việc thi công của tôi.
Và cũng thật đáng sợ, chỉ 2 ngày sau khi tôi an táng toàn bộ 8 bộ hài cốt ở nghĩa trang Bát Bạt, trong chuyến công tác ở Quảng Binh xe ô tô chở ông Nguyễn Quang Hưng cùng một số cán bộ công ty đã bị tai nạ. Chiếc xe Toyota bị phá hủy hoàn toàn, Ông Nguyễn Quang Hưng bị chấn thương nặng, gãy 3 chiếc xương sườn nhiều cán bộ cũng bị vạ lây. Vẫn chưa hết sau đó khoảng 1 tháng, văn phòng ban quản lý do ông Nguyễn Trọng Doanh trực tiếp phụ trách đặt tại Yên Sở, Hà nội bỗng bốc cháy dữ dội. Ngôi nhà 2 tầng đặt văn phòng dự án và văn phòng một số công ty tham gia thi công dự án bị thiêu rụi hoàn toàn.
Sau khi làm xong 150m trên chiều dài360m tôi nhận thi công, do các sự việc nghê gớm xảy ra và cũng do sức cùng lực kiệt, tiền vốn không còn, tôi xin thanh lý hợp đồng. Lạnh lùng không có chút nhân đạo, không thương xót, Công ty VIC thanh lý hợp đồng mà không hỗ trợ lấy một xu nhỏ. Tôi bị lỗ 500 triệu đồng vì công trình này. Quay trở về Nghệ An tôi đi cầu khấn ở mọi nơi, nơi nào cũng báo cho tôi biết tôi đang bị nạn.
Cũng nói thêm, khi thi công công trình ngoài số cổ vật moi ở trong trận đồ bát quái tôi đã nộp cho Bảo tàng Hà nội, các công nhân có moi được lên nhiều bát đĩa, cốc chén cổ. Tôi có giữ lại mấy cái lành lặn. Trong đó có một chiếc tước màu đen mà nói như GS Trần Quốc Vượng, đó là một đồ cổ rất quý hiếm. Khi về đến Nghệ An, do hết tiền, tôi định bán chiếc tước đó. Khách mua từ Hà nội vào, sau một ngày trả giá đã thỏa thuận mua chiếc tước ấy với giá 10.000USD. Thỏa thuận xong, khách quay lai khách san lấy tiền để trả tôi, trong lúc đó chiếc tước vẫn để trên mặt bàn. Khách mang tiền đến, chưa kịp đếm tiền thì thật là kinh hãi, chiếc tước không ai đụng tay vào tự nhiên vỡ đôi, rồi vỡ vụn. Khách co giò bỏ chạy. Ngay sau đó tôi cũng sợ hãi quá, mang nốt mấy cái đồ cổ còn lại ra Hà nội gặp GS Trần Quốc Vượng và cho hết ông. GS Trần Quốc Vượng lúc đó vừa mới lấy vợ mới, đang rất vui vẻ, ông cứ cười tôi về sự yếu bóng vía. Ông giải thích cho tôi là đồ ngâm lâu dưới nước khi đưa ra ngoài không khí nước bốc hơi làm cho gốm bở ra rất dễ vỡ, nhấc lên nhấc xuống nhiều nó sẽ tự nứt vỡ. Chuyện cái tước không có gì liên quan đến tâm linh. Tôi thì quá sợ nên không giám giữ một món đồ nào nữa. Tôi không ngờ đó là lần gặp gỡ cuối cùng của tôi với GS Trần Quốc Vượng, vì chỉ ít lâu sau ông mất đột ngột. Trong thâm tâm tôi có cảm giác mấy món đồ cổ từ trận đồ trấn yểm đã làm hại ông. Tôi cũng nhớ ông xó xin mấy món đồ.
Từ đó đã 4 năm qua. Tôi từ một tỷ phú trước khi làm công trình kè sông đã trở nên một kẻ tay trắng, phải phiêu dạt lên biên cương, sang cả Lào để kiếm ăn. Có lúc tưởng như không còn mái nhà, không còn gia đình để về. Ông anh trai thứ hai của tôi, người tham gia công trình cùng tôi, gặp những sự trớ trêu, cay đắng trong hạnh phúc gia đình đến mức đôi lúc ông đã có những ý định tiêu cực. Đến năm 2006 vừa qua, ông ấy gây tai nạn giao thông làm chết người và vướng vào vòng lao lý. Ông anh thứ ba, người đã cho tôi vay tiền để làm kè sông Tô Lịch cũng là người làm ăn phát tài, sau đó gặp nhiều sự rủi ro, phá sản toàn bộ. Cô em gái út của tôi là Nguyễn Thị Bích Hợp công tác tại Sài Gòn thì đang vướng phải một sự oan khuất. Chỉ vì lòng tận tâm tận lực với công ty PJICO mà đang phải ra tòa và lúc tôi viết những dòng này, tòa đã tuyên tạm hoãn xử lần thứ 2. Lạ nhất cô em gái tôi đi xem lễ nhiều nơi, các thầy đều nói hạn của em tôi bẵt đầu từ đại hạn của gia đình tôi từ năm Tân Tỵ 2001 là năm tôi phạm phải trận đồ trấn yểm Đại La trên sông Tô Lịch.
Còn nhiều chuyện nhỏ nữa cũng đều đáng sợ, nhưng nếu kể nữa e rằng chỉ làm bạn đọc bận tâm. Tôi xin dừng bài viết ở đây. Cũng có thể toàn bộ chuyện này chỉ là ngẫu nhiên mà rơi xuống số phận tôi, hoàn toàn không có yếu tố tâm linh, chỉ biết rằng theo GS Trần Quốc Vượng địa điểm mà tôi thi công là điểm giao hòa của 3 con sông cổ: Sông Tô Lịch, sông Thiên Phú và sông Nhuệ. Do vậy, cấu tạo địa chất rất phức tạp và hình thành những vực sâu và rồi những vực sâu cũng được bồi lấp bởi mọi thứ đã từng trôi nổi trên ba dòng chảy của con sông chính, vì vậy việc thi công rất khó khăn. Nhưng cũng có thầy địa lý đã nói: đây là điểm giao và là một huyệt phong thủy rất quan trọng. Vì vậy, một thế lực nào đó đã lập trận đồ trấn yểm để huyệt này không phát được. Mọi việc tôi không biết rõ, nhưng chuyện của và gia đình thì quá đau khổ. Tôi cầu mong mọi sự chia sẽ cảu bạn đọc.

Theo báo Bảo vệ Pháp luật

Thánh vật sông Tô lịch, ki 4
Theo Nguyễn Văn Hải - báo BVPL cuối tuần

Vào năm 1986, tôi mới là một thanh niên trẻ của làng An Phú – lúc đó thuộc thị trấn Nghĩa Đô của huyện Từ Liêm - bên sông Tô Lịch.
Ở ngay bên bờ sông có miếu Đôi Cô, nay là đền Quán Đôi, đối diện khu đất sau này đội thi công 12 thuộc Công ty VIC đào phải trận đồ trấn yểm, gây ra bao chuyện kỳ lạ cũng như bất hạnh cho nhiều người. Do liên quan đến nhiều người còn sống nên cho tôi xin được giấu tên thật của họ.

Vào năm đó – 1986 – tôi được làng chọn làm dân phòng, là nhân viên an ninh tự nguyện để phối hợp với công an bảo vệ trật tự an ninh xóm làng. Khi đó, miếu Đôi Cô chỉ là một ngôi miếu nhỏ gồm một gian nhà xây, lớp ngói một mái.
Trước cửa miếu có cây đa khá xanh tốt. Trong miếu, trên bệ thờ chỉ có mấy tượng thờ (hình như là tượng Cô) và mấy bát hương cũng rất nhỏ. Miếu nhỏ nhưng có nhiều người đến lễ vào những ngày sóc vọng (mồng một, ngày rằm).
Ở đó thường có một ông thầy Tứ Phủ từ thôn Vòng (Dịch Vọng Hậu) đến chủ trì lễ bái, gọi hồn, ốp đồng. Chính quyền thị trấn, vào những năm đó, do bà Nguyễn Thị Sang làm chủ tịch UBND. Ông N.L là phó chủ tịch UBND. Ông M.G làm bí thư đảng ủy xã.
Trong phong trào chống mê tín dị đoan, bảo vệ trật tự an ninh cơ sở, miếu Đôi Cô được UBND và công an thị trấn coi là một điểm đen cần được giải tỏa. Công an thị trấn Nghĩa Đô và dân phòng thôn An Phú quyết tâm bắt quả tang một vụ hầu đồng để giải tỏa cả miếu Đôi Cô này.
Nghe cơ sở báo tối ngày rằm tháng 10/1986 có một vụ lên đồng tại miếu Đôi Cô, anh Chung - công an khu vực thôn An Phú, cùng ông N.L dẫn các dân phòng phục sẵn gần miếu.
Nghe thấy lầm rầm có tiếng “lạy cô, lạy cô”, từ bốn phía anh em ập vào bắt quả tang hơn 10 bà cùng ông thầy tứ phủ đang lên đồng. Chúng tôi thu hết lễ vật, đưa toàn bộ những người này lên trụ sở UBND.
Ông N.L còn ra lệnh thu hết đồ thờ cúng mang lên trụ sở UBND. Chúng tôi thu hết tất cả bát hướng, tượng thờ, cả rắn thờ, nón thờ mang lên để ở góc phòng UBND.
Theo đúng luật lệ, thầy tứ phủ và các bà tham gia lên đồng bị phạt hành chính rồi được thả về. Còn lại một đống lễ vật và cả đồ áo mũ để lên đồng, cả miếng khăn phủ diện màu đỏ, chất ở góc phòng không biết xử lý ra sao.
Ông N.L đề nghị anh Chung – công an – xin ý kiến, ông M.G đến xem sau đó phán một câu xanh rờn: “Các cậu ném hết xuống sông Tô Lịch cho tôi”.
Sau này tôi nghĩ có lẽ ông M.G cũng không chủ định như vậy nhưng lúc đó, do hứng chí, ông phán như vậy.
Tôi bàn với anh Chung nên xem xét lại, đừng ném đồ thờ xuống sông. Sau đó ông N.L và anh Chung quyết định xuống chùa Bái Ân (thôn Bái Ân), lúc đó cũng thuộc địa phận thị trấn Nghĩa Đô, mời sư thầy Đàm Thanh xuống UBND nhận đồ thờ cúng mang về cất ở chùa.
Ngay sau đó, sư thầy Đàm Thanh lên nhận hết đồ, chở bằng xe đạp về chùa Bái Ân. Hiện nay các ông có tên trên vẫn sống. Anh Chung nay là thiếu ta công an tại Đội 113, công an quận Cầu Giấy. Sư thầy Đàm Thanh vẫn trụ trì chùa Bái Ân.
Sự việc bắt giữ và thu đồ thờ của miếu Đôi Cô cũng qua đi bởi, ngay sau đó, những người đến đến thời cúng tại miếu lại sắm đủ đồ thờ và mọi việc lễ lạy lại y như cũ.
Chỉ có chúng tôi thấy mọi sự không yên được. Đêm nằm thường hay mộng mỵ những chuyện ma quái. Thêm nữa, ngay trong những người tham gia vụ bắt giữ đồ thờ cúng đã xảy ra nhiều chuyện mâu thuẫn. Rồi dần dần những việc lớn xảy ra.
Có điều mọi việc đều tập trung vào những người đã liên quan tới vụ bắt giữ đồ thờ ở miếu Đôi Cô. Việc đầu tiên xảy ra với ông N.L. Chỉ sau đó ít lâu, ngay kỳ bầu cử hội đồng nhân dân thị trấn, ông N.L không trúng cử và mất chức chủ tịch UBND thị trấn.
Sau thời gian bắt vụ miếu Đôi Cô khoảng gần một năm, vợ ông M.G bị bệnh về mắt khi mới 40 tuổi. Cũng chỉ sau đó ít lâu, con trai ông M.G tham gia một vụ dùng súng cướp tài sản công dân may mà không có ai bị thương.
Ngay sau đó con trai ông M.G bị bắt. Cơ quan công an khám nhà ông M.G nhưng không tìm ra khẩu súng tang vật. Tuy nhiên, khi khám phòng làm việc của ông M.G ở trụ sở đảng ủy thị trấn, cơ quan công an lại phát hiện khẩu súng được cất ở trong tủ đựng tài liệu.
Ông M.G khai rằng thấy khẩu súng ở nhà, sợ con ông phạm tội nên ông đã đem lên phòng làm việc cất. Lúc thu khẩu súng, tôi cũng có mặt ở đó và không hiểu sao tôi thấy nét mặt ông M.G rất giống lúc ông nói câu: “Ném tất cả xuống sông Tô Lịch cho tôi”.
Hơn một năm sau, vụ án sai phạm về đất đai tại UBND thị trấn Nghĩa Đô vỡ lở, bà Nguyễn Thị Sang bị bắt và sau đó bị xử hai năm tù.
Anh Chung sau đó chuyển công tác sang quận Tây Hồ và nhiều nơi, trong công việc có nhiều lận đận. Tôi cũng bị nhiều rủi ro nhưng có lẽ do mình là chính.

Theo Nguyễn Văn Hải - báo BVPL cuối tuần.

 

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn ảnh

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Truyện Lịch sử

Tủ sách "Vàng"

Tội ác cộng sản

Tài liệu tham khảo

Tiếng nói Quốc nội

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Cười là liều thuốc bổ

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Sunday, 13 February, 2011 2:43