a
  1. An Dương Vương
  2. Bùi Thị Xuân
  3. Các anh hùng trong Quân lực VNCH
  4. Cầm Bá Thước
  5. Cao Bá Quát
  6. Cao Nỗ
  7. Cao Thắng
  8. Chân dung người lính Quân lực VNCH
  9. Chiêu Văn đại vương Trần Nhật Duật
  10. Chu Văn An
  11. Đặng Dung
  12. Đặng Tất
  13. Đặng Thị Nhu
  14. Đào Duy Từ
  15. Đinh Công Tráng
  16. Đinh Điền
  17. Đinh Tiên Hoàng
  18. Dương Diên Nghệ
  19. Hai bà Trưng
  20. Hoàng Diệu
  21. Hoàng Hoa Thám
  22. Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn
  23. Khúc Thừa Dụ
  24. Lê Đại Hành
  25. Lê Lai
  26. Lê Lợi
  27. Lê Văn Duyệt
  28. Lê Văn Hưng
  29. Lê Văn Khôi
  30. Lý Nam Đế
  31. Lý Thái Tổ
  32. Mai Hắc Đế
  33. Nguyễn Trường Tộ : người đi trước thời đại.
  34. Thân thế và sự nghiệp cố tổng thống Ngô Đình Diệm
a

Danh nhân nước Việt

Anh hùng Dân tộc

Đào Duy Từ

( Nhâm Thân 1572-Giáp Tuất 1634 )

Nhấn bên phải con chuột tại đây, chọn dòng Save Link (Target) As...để download Audio

Danh thần thời chúa Nguyễn lập nghiệp mở mang bờ cõi về phía Nam, quê làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phường Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.

Ông thông kinh sử, tinh thâm lí số và binh thư đồ trận. Nhưng vì thân phụ ông là Đào Tá Hán xuất thân là quản giáp trong nghề ca hát mà luật lệ thì nghiêm cấm không cho con nhà xướng ca ra thi cử, nên ông không tiến thân được. Bất đắc chí ông bỏ Đông Kinh (Hà Nội) lần vào miền Nam, định theo phò chúa Nguyễn.

Trong lúc bơ vơ nơi phủ Hoài Nhơn (nay là phủ Bồng Sơn) tỉnh Bình Định, ông tạm khuất thân ở ẩn, chăn trâu cho nhà giàu Chúc Trịnh Long ở thôn Tòng Châu.

Tăm tiếng ông dần dần được sĩ phu biết đến, Khán lí Trần Đức Hòa ở Qui nhơn mến tài, gả con gái cho ông và tiến cử lên chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.

Được chúa Sãi trọng dụng phong là Nội tán, ông tận tụy giúp chúa Nguyễn về quân sự, chính trị và văn hóa, đương đầu với chúa Trịnh đến thắng lợi.

Năm Canh Ngọ 1630, ông xướng xuất việc đắp lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình.

Qua năm sau (Tân vị 1631), ông lại đắp thêm một lũy nữa từ cửa bể Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu (ở Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình), cao một trượng, dài hơn 200 trượng (tục gọi là lũy Thầy. Đến đời Thiệu Trị mang tên là "Định Bắc trường thành")

Năm Giáp Tuất 1634, ngày 17-10 ông mất thọ 62 tuổi, được phong tặng hàm Tán trị dực vận công thần, Kim tử vinh lộc đại phu, Đại lí tự khanh, tước Lộc Khê Hầu. Đến triều Minh Mạng, truy phong tước Hoằng Quốc Công.

Đào Duy Từ còn để lại một bộ binh thư: Hổ trướng khu cơ và hai khúc ngâm: Ngọa Long cương văn, Tư Dung văn.

Người sau khen ngợi ông:

Kim Thành thiết lũy sơn hà tráng
Nghĩa sĩ trung thần sự nghiệp lưu.

Dịch:

Thành đồng lũy sắt non sông vững
Tớ nghĩa tôi trung sự nghiệp còn.

Và:

Bốt tàm danh sĩ hi Gia Cát

Dịch:

Lộc Khê sánh được tài Gia Cát

Tùng Thiện Vương ca ngợi:

Nhất tự hải sơn Sư lũy tráng,
Lộc Khê di liệt đáo, kim trường.

Dịch

Từ có lũy Thầy non bể vững
Lộc Khê công nghiệp để lâu dài.

Khúc ngâm Ngọa long cương dài 136 câu lục bát, từ lâu nay đã được phổ biến rộng trong lịch sử văn học.

Ông là một trong những danh sĩ nổi tiếng nhất của nước ta vào thời cận đại .

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Rạp chiếu phim

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Sunday, 30 May, 2010 0:57