a

Anh Hùng Tiêu Sơn

Lời nói đầu

Hồi 1

Hồi 2

Hồi 3

Hồi 4

Hồi 5

Hồi 6

Hồi 7

Hồi 8

Hồi 9

Hồi 10

Hồi 11

Hồi 12

Hồi 13

Hồi 14

Hồi 15

Hồi 16

Hồi 17

Hồi 18

Hồi 19

Hồi 20

Hồi 21

Hồi 22

Hồi 23

Hồi 24

Hồi 25

Hồi 26

Hồi 27

Hồi 28

Hồi 29

Hồi 30

Bồ Tát đắc pháp

Thập đại danh hoa

Vấn đề thời đại Tiêu Sơn

a

Thuận Thiên Di Sử

Hồi 31

Hồi 32

Hồi 33

Hồi 34

Hồi 35

Hồi 36

Hồi 37

Hồi 38

Hồi 39

Hồi 40

Hồi 41

Hồi 42

Hồi 43

Hồi 44

Hồi 45

Hồi 46

Hồi 47

Hồi 48

Hồi 49

Hồi 50

Hồi 51

Hồi 52

Hồi 53

Hồi 54

Hồi 55

Hồi 56

Hồi 57

Hồi 58

Hồi 59

Hồi 60

a

Anh Hùng Bắc Cương

Lời tựa

Hồi 61

Hồi 62

Hồi 63

Hồi 64

Hồi 65

Hồi 66

Hồi 67

Hồi 68

Hồi 69

Hồi 70

Hồi 71

Hồi 72

Hồi 73

Hồi 74

Hồi 75

Hồi 76

Hồi 77

Hồi 78

Hồi 79

Hồi 80

Hồi 81

Hồi 82

Hồi 83

Hồi 84

Hồi 85

Hồi 86

Hồi 87

Hồi 88

Hồi 89

Hồi 90

Hồi 91

Hồi 92

Hồi 93

Hồi 94

Hồi 95

Hồi 96

Hồi 97

Hồi 98

Hồi 99

Hồi 100

a

Biên khảo Lịch sử

Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

Bồ Tát đắc pháp , xuất hồn cứu độ

Lời bạt 2

1. Độc giả đã đọc một nghìn một trăm trang, phần đầu bộ Anh-hùng Tiêu-sơn, mang tên Thầy tăng mở nước. Trong hơn nghìn trang sách, tôi cố gắng trình bầy giản lược công trình của các thiền sư trong thế kỷ thứ mười, mười một; đã một vai gánh vác sơn hà, một vai mang đạo đức Thế-tôn hoằng dương cho chúng sinh. Tinh thần Đạo pháp là dân tộc. Dân tộc là đạo pháp hay bằng danh từ Hán-Việt Đạo pháp, sơn hà bất khả phân. Những người chưa nghiên cứu thấu triệt triết lý văn hoá Phật-giáo; hẳn khi đọc những tài liệu về thời đại Tiêu-sơn, đều cho rằng toàn những truyện huyền bí, phản khoa học.

Tỷ dụ: Việc một thiền sư đắc quả, khi thấy xác mình mục, xuất hồn nhập vào xác một hài nhi, tiếp tục một kiếp sống mới, như thuyết Luân-hồi đạo Phật nói.

Sự thực việc này, ngày nay vẫn còn. Đức Đạt-lai Lạt-ma là một chứng minh cụ thể. Hiện tuổi người khá cao. Ngày một ngày hai, cơ thể ngài ắt phải mục. Bấy giờ chúng ta lại được chứng kiến ngài xuất hồn, nhập vào xác hài nhi nào đó, sau này trở thành giáo chủ Phật-giáo Tây-tạng.

Không phải mình ngài Đạt-lai Lạt-ma xuất hồn, tái sinh. Mà có nhiều vị Lạt-ma hiện vẫn xuất hồn, tái sinh.

Cũng không phải mình các Lạt-ma, mà trong thế giới Phật-giáo, hiện cũng có nhiều người đắc quả xuất hồn. Tỷ như gần đây, dân Thái-lan đều vui mừng vì có một vị Bồ-tát đắc đạo.

Năm 1973, chính thuật giả đã có duyên được gặp ngài. Nguyên năm 1973, thuật giả có dịp công tác tại Udorn Thani. Nghe nói tại động Tham Bampen chùa Tham Klong Phane có một vị Bồ-tát đắc quả. Pháp danh ngài là Luang Pukhao Analayo, sinh ngày 28-2-1888. Trước đó ngài đã lập gia đình, có bẩy con. Năm 1919, 31 tuổi; nhân vì một thảm trạng gia đình. Ngài thấy cuộc đời vô thường, lập tức bỏ đi tu. Không ai biết ngài đi đâu. Lúc đầu ngài tới chùa xin bổn sư cho thụ giáo. Hơn ba mươi năm sau con ngài tới động lễ, nhận ra ngài. Nhưng ngài quên sạch quãng đời ô trọc trước khi thụ giới. Ngài được vua cùng dân chúng Thái tôn kính cực kỳ. Ngài thường xuất hồn đi cứu độ chúng sinh. Ai đến cầu kiến, ngài đều biết trước.

Thuật giả nhờ cô Chu Thoại-Anh, người Hoa, dẫn đến xin yết kiến ngài, cùng thông dịch. Thoại-Anh không hề biết thuật giả là ai. Cô còn tưởng thuật giả từ Đài-loan hay Thượng-hải tới nữa. Sau khi hành lễ, chưa kịp xưng pháp danh. Ngài nắm lấy tay thuật giả, dạy:

Sao ông đến trễ thế? Thủa nhỏ ông có nguyện nhập cửa Bồ-đề, nhưng chưa toại ý. Năm mười lăm tuổi ông phải rời chùa. Từ đấy bôn ba khắp nơi. Ông làm được nhiều thiện duyên, mà cũng gây nhiều nghiệp quả. Năm nay ông ba mươi bốn tuổi rồi. Ông với bần tăng vốn có nhiều tiền duyên. Nên dù ông thác sinh làm người Việt. Bần tăng thác sinh làm người Thái. Chung qui chúng ta vẫn gặp nhau.

Đúng như ngài dạy, thủa nhỏ tôi xin thọ giới tỳ kheo, mà bản sư Nam-Hải Diệu-Quang không cho, dạy rằng tôi phải ở trần trả nghiệp đã. Năm mười lăm, tôi phải xa bản sư, vào Nam, rồi đi ngoại quốc.

Tôi liếc nhìn, thân hình ngài gầy khô. Đôi mắt cực kỳ sáng. Khuôn mặt từ ái. Ngài nhìn tôi, tỏ vẻ thương hại:

Ông còn nặng nghiệp quá. Nên dù lòng ước muốn tìm an nhàn cõi Bồ-đề, mà chưa được. Này ông ơi! Nghiệp tuy nặng, nợ tuy nhiều. Nhưng ông là thầy thuốc, hàng ngày cứu độ chúng sinh, thì nghiệp mau hết lắm.

— Bạch thầy, xin thầy ban cho một vài lời dạy.

Nghiệp tình ông còn nặng lắm. Ít nhất hai mươi năm nữa mới hết. Từ năm năm mươi tư tuổi, ông mới hoàn toàn trả hết nghiệp quả. Bần tăng nhắc ông một điều. Ông là người có khả năng, nên khi nghiệp báo tới đòi, ông chống trả. Đừng làm thế. Phải trả nợ, nợ mới hết chứ! Chống thì sao sạch được.

— Bạch thầy con có thể được gặp thầy nữa không?

— Ông sẽ trở lại đây. Bần tăng e khi ông trở lại, xác bần tăng đã mục rồi. Tuy vậy chúng ta còn gặp nhau nhiều mà. Sau này ông sẽ làm nhiều thiện duyên trên đất Thái này.

— Bạch thầy. Khi xác hư, thầy đi luôn hay trở lại đất Thái?

— Bần tăng có đại nguyện: Cho đến vô tận kiếp, bần tăng nguyện trở lại đất Thái, để cứu độ chúng sinh.

Ngài nắm tay tôi mỉm cười, nụ cười không bao giờ tôi quên được:

— Ông học không thiếu bộ kinh nào. Duy Lục-căn chưa thoát khỏi. Ông như ngài A-Nan vậy. Nghe, học nhiều, mà chưa thoát khỏi đường tơ duyên. Ông nên nhớ, trong Lục-trần, ông thoát khỏi một, năm cái còn lại dễ dàng lắm.

Thế rồi ngài giảng cho tôi rất kỹ về việc bỏ vọng tâm ra khỏi thần thức. Từ nhỏ, tôi học kinh Phật bằng chữ Hán. Bây giờ được một Bồ-tát thuyết minh bằng tiếng Thái, và cô Chu Thoại-Anh dịch lại.

Bẵng đi mười bẩy năm, tháng tám năm 1990, thuật giả cùng phải đoàn y khoa viện Pháp-á tới Thái nghiên cứu hai vấn đề:

* Bệnh Lảy tài.
* Bệnh đậu Lào.

Lảy tài là tiếng Thái, có nghiã Ngủ rồi chết. Loại bệnh này hiện đang giết khá nhiều người Thái. Thanh niên ngủ rồi đi luôn. Các y sư Thái cho rằng nguyên do chính phát xuất từ thiếu sinh dưỡng. Còn dân Thái cho rằng, hồn vợ từ kiếp trước về bắt đi. Vì vậy khi thấy triệu chứng bệnh. Họ cho thanh niên đó mặc quần áo đàn bà, tô son phấn, như phụ nữ. Hy vọng hồn vợ về sẽ tưởng đó là đàn bà, không bắt đi.

Còn đậu Lào, là một chứng dịch. Hàng năm, gió từ Lào thổi sang Đông, người Việt bị. Gió thổi sang Bắc, người Hoa bị. Gió thổi về Nam, người Miên bị, Gió thổi sang Tây, người Thái bị. Mỗi lần dịch hoành hành, dù Đông y, Tây y đều bó tay. Chỉ cần sốt ba ngày, là đi luôn. Khi mới bị, nếu bác sĩ cho dùng trụ sinh, bệnh nhân sẽ chết tức khắc.

Đã có nhiều phái đoàn Anh, Hoa-kỳ, Nhật-bản sang nghiên cứu, song tìm không ra. Thế nhưng phái đoàn Pháp tới Thái, chỉ cần mười hai ngày, đã tìm ra nguyên do Lảy tài cùng phép trị đậu Lào. Ai cũng ngạc nhiên, cho rằng phái đoàn Pháp giỏi. Nhưng thuật giả thấy không phải thế. Nguyên do, mấy phái đoàn kia sang Thái, chỉ đến đại học, cùng các y viện. Mà khi bệnh nhân hai loại trên, chở đến nơi, thì đã sắp chết.

Phái đoàn Pháp ngược lại, được chia làm chín toán. Mỗi toán ba bác sĩ. Trong đó có một bác sĩ gốc Việt. Thuật giả mau chóng tìm được một số Việt kiều có tâm Bồ-đề, bỏ công ăn việc làm đi theo thông dịch từ tiếng Thái sang tiếng Việt. Bác sĩ Pháp gốc Việt địch sang tiếng Pháp. Các thông dịch viên tình nguyện gồm:

— Cô Siraporn Vongsirikul (Udorn Thani)
— Cô Thewipa Laksirilert (Udorn Thani)
— Cô Rattana Oryem ( Loei)
— Cô Wachnian Nongnuch (Nongburlumpu)

Khi tới Thái, việc đầu tiên, tôi hỏi tin tức Bồ-tát Luang Pukhao Analayo. Người ta cho biết ngài viên tịch ngày 15 tháng 5 năm 1983. Đức vua đã làm lễ quốc táng. Sau khi thiêu, ngọc xá lợi phân phát cho khắp chúng sinh.

Ngày 7-8 tôi nhờ cô Thewipa Vongsirkul dẫn tới tháp thờ ngài. Tháp xây rất lớn, theo lối nửa Ấn, nửa Tây-phương nằm trên ngọn đồi thấp, cạnh động ngài vẫn ngồi tham thiền. Trong tháp có bia tóm lược tiểu sử ngài bằng tiếng Anh, Thái.

Ngày 12 tháng 8, tôi cùng bác sĩ Vareilla Pascale, Trần thị Phương-Châu công tác tại Sakhonne Nakhon. Sở dĩ tôi dành thành phố này, vì tương truyền trước đây thuộc lãnh thổ Lào, nơi diễn ra trận đánh kinh khủng giữa công chúa Nguyệt-Đức Phùng-Vĩnh-Hoa thời vua Trưng với Vương-Bá. Tôi muốn tới tìm di tích tổ tiên mình.

Cô Thewipha Laksirilert dẫn chúng tôi thăm ngôi tháp cổ That Phanom Shrire. Khi xe sắp tới, đã có tiếng nói trên loa phóng thanh:

— Hôm nay chúng ta có thiện duyên đón một Phật-tử từ Pháp qua. Phật tử có đại nguyện mang túi cứu đời đã tới.

Tôi kinh hãy đến ngẩn cả người ra. Vì buổi sáng, cô Thewipha lái xe cho chúng tôi đi dọc bờ sông Mékong chơi. Trong lúc ngắm cảnh, tôi hỏi về ngọn tháp, mà tương truyền năm thế kỷ trước Tây-lịch, có năm tỳ kheo tới tu, xây lên cao 24 mét. Rồi sau công chúa Nguyệt-Đức có trú quân tại đây. Cô Thewipha lái xe đưa chúng tôi tới. Bằng cách nào vị trụ trì lại biết trước như vậy? Hơn nữa biết rõ tên tôi là Đại-Sỹ ( Đại không phải lớn, mà là cái túi. Sỹ là đứng chờ. Phụ thân đặt tên cho tôi với ước vọng sau này tôi làm thầy thuốc, mang túi đi cứu chúng sinh).

Tôi vào lễ Phật, rồi bái yết vị tăng đã xướng câu đó. Người chỉ là một đại đức, tuổi chưa tới bốn mươi. Có lẽ đi tu, ăn chay từ nhỏ, nên da dẻ hồng hào. Đại đức nhìn tôi với giống như đức Phật nhìn đệ tử với lòng xót thương, còn trong biển u mê. Tôi quỳ gối bái yết:

— Đệ tử xin được bái yết thầy, nghe lời dạy dỗ.

Đại đức đỡ tôi dậy, nắm tay:

— Ông với bần tăng có thiện duyên. Khi ta có thiện duyên, thì trước sau rồi cũng gặp nhau. Có điều ông tới hơi trễ.

Đại đức không hỏi tôi gì hơn, người giảng cho tôi về nghiệp báo, cùng yếu chỉ kinh Thủ-lăng-nghiêm.

 
 

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Hướng tâm hồn lên

Diễn đàn - Lưu bút

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 1 September, 2010 2:47