a
a

Anh Hùng Lĩnh Nam

Lời giới thiệu

Lời ngỏ

Hồi 1

Hồi 2

Hồi 3

Hồi 4

Hồi 5

Hồi 6

Hồi 7

Hồi 8

Hồi 9

Hồi 10

Hồi 11

Hồi 12

Hồi 13

Hồi 14

Hồi 15

Hồi 16

Hồi 17

Hồi 18

Hồi 19

Hồi 20

Hồi 21

Hồi 22

Hồi 23

Hồi 24

Hồi 25

Hồi 26

Hồi 27

Hồi 28

Hồi 29

Hồi 30

Hồi 31

Hồi 32

Hồi 33

Hồi 34

Hồi 35

Hồi 36

Hồi 37

Hồi 38

Hồi 39

Hồi 40

Cảm khái

Di tích Lịch sử Mê Linh

a

Động Đình Hồ
Ngoại Sử

Hồi 41

Hồi 42

Hồi 43

Hồi 44

Hồi 45

Hồi 46

Hồi 47

Hồi 48

Hồi 49

Hồi 50

Hồi 51

Hồi 52

Hồi 53

Hồi 54

Hồi 55

Hồi 56

Hồi 57

Hồi 58

Hồi 59

Hồi 60

Hồi 61

Hồi 62

Hồi 63

Hồi 64

Hồi 65

Hồi 66

Hồi 67

Hồi 68

Hồi 69

Hồi 70

Y phục thời Lĩnh Nam

Văn bia nói về vua Trưng

a

Cẩm Khê Di Hận

Hồi 71

Hồi 72

Hồi 73

Hồi 74

Hồi 75

Hồi 76

Hồi 77

Hồi 78

Hồi 79

Hồi 80

Hồi 81

Hồi 82

Hồi 83

Hồi 84

Hồi 85

Hồi 86

Hồi 87

Hồi 88

Hồi 89

Hồi 90

Hồi 91

Hồi 92

Hồi 93

Hồi 94

Hồi 95

Hồi 96

Hồi 97

Hồi 98

Hồi 99

Hồi 100

Về núi Ngũ Lĩnh

a

 

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn thơ

Tâm bút

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Hướng tâm hồn lên

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

Truyện Lịch sử

Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

Lời ngỏ trước khi vào truyện

Phụ lục

Bộ Anh Hùng Lĩnh Nam mà quý độc giả cầm trên tay, được khởi viết vào ngày 30 tháng 1 năm 1968, tại Sài gòn. Nội dung thuật cuộc khởi nghĩa của vua Trưng cùng 162 anh hùng vào đầu thế kỷ thứ nhất. Tôi viết đến đầu năm 1975 thì xong. Bản thảo rất sơ lược, khoảng trên dưới năm trăm trang. Nếu in ra thì độ hai tập.
Hai chữ Lĩnh Nam lấy ý trong bài nói về Trưng vương của bộ Đại Nam quốc sử diễn ca do hai sử thần triều Nguyễn là Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, tuân chỉ vua soạn ra :

Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử, thay quyền tướng công.
Trời Tây nổi áng phong trần,
Aàm ầm binh mã xuống gần Long biên.
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định, giặc yên bên thành.
Đô kỳ đóng cõi Mê linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.
Ba thu gánh vác sơn hà,
Một là báo phục, hai là báo phương.
Uy danh Động đến Bắc phương,
Hán sai Mã Viện lên đường tiến công.
Hồ Tây đua sức vẫy vùng,
Nữ nhi chống với anh hùng được nao.
Cẩm khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế phải liều với sông.
Phục Ba mới dựng cột đồng,
Ai quan truyền dấu biên công cõi ngoài.
Trưng vương vắng mặt còn ai ?
Đi về thay đổi mặc người Hán quan.

Tôi chưa kịp xuất bản thì luồng gió từ Bắc thổi vào miền Nam, thổi tôi phiêu bạt sang Pháp vào ngày 23 tháng 6 năm 1975. Nghề sinh nhai lối dọc đường ngang, phải sáu năm sau, tức tháng 6 năm 1981, cuộc sống tại Pháp của tôi mới hoàn toàn ổn định. Bộ sách được đem ra chỉnh đốn lại, đến năm 1983 dự đem xuất bản. Nhưng nhớ di chúc của tiền nhân :

« Viết, con cứ viết. Nhưng phải nhớ rằng mỗi lời con viết ra là Trưng vương nói, Hưng Đạo vương nói. Phải cấn thận. Vì vậy viết xong, con cứ cất đấy, thỉnh thoảng đem ra đọc lại một lần, chỉnh đốn những cái bồng bột của tuổi trẻ. Đợi đến năm 45-46 tuổi, cái tuổi chín chắn hãy đem ra xuất bản ».

Do vậy năm 1987, sau nhiều lần thêm bớt, sửa chữa, bộ sách ước khoảng 3922 trang, chia ra 11 tập, được trao cho nhà xuất bản Nam á (Paris). Bấy giờ nhà xuất bản mới thành lập, không trường vốn như các nhà xuất bản của Pháp. Thế nhưng anh Mai Trung, giám đốc có cái nhìn rất xa, rất rộng. Anh nhận ra giá trị của bộ sách, nên nhận xuất bản. Với kinh nghiệm về thị trường hải ngoại, anh khuyên tôi nên cắt bộ sách ra làm ba. Vì vậy toàn bộ bộ sách được chia ra :

Anh hùng Lĩnh Nam,
Giai đoạn 1 : hình thành chủ đạo tộc Việt. 4 tập, 1421 trang.

Anh hùng Lĩnh Nam,
Giai đoạn 2: Động Đình hồ ngoại sử . Thuật cuộc khởi nghĩa, 3 tập, 1140 trang.

Anh hùng Lĩnh Nam,
Giai đoạn 3: Cẩm Khê di hận, Thuật cuộc kháng chiến. 4 tập, 1361 trang.

KHÓ KHĂN LÚC ĐẦU :

Hoặc có người hỏi: tôi đã gặp những khó khăn gì trong việc in ấn vào cái thời mà chưa có máy vi tính cá nhân, làm sao để có thể in chữ Việt?
Xin thưa khó khăn thì không có, nhưng gặp những rắc rối nho nhỏ. Khởi đầu tôi viết tay, rồi sửa chữa chồng chéo lên nhau. Khi tới Pháp, sau khi sửa chữa tôi gặp một giai nhân, tên LTT, cô tốt nghiệp Đại học sư phạm Sài gòn ban Việt Hán, ngành thường xuyên. Trước đây cô từng được đóng vai Trưng vương, cỡi voi diễn hành trong dịp giỗ vua Trưng. Cô muốn đọc bản thảo. Tôi vui vẻ trao cho cô. Khi đọc, có nhiều đoạn cô không đọc được, vì chữ của tôi viết xấu quá. Cô đề nghị tôi nên đánh máy, cô tình nguyện đánh cho tôi. Thế là cứ mỗi ngày tan sở lúc 17 giờ thì cô tới phòng mạch tôi, cặm cụi đánh trên máy vi tính dùm . Bấy giờ ( 1982) máy vi tính cá nhân, chưa có dấu chữ Việt. Tôi dùng chương trình Norton editor, không so hàng được, cũng không thể trình bầy thành trang sách. Phải gần một năm cô mới đánh máy xong trên 3922 trang!
Khi giao cho nhà xuất bản, tôi in ra, khổ A4, rồi bố con xúm vào bỏ dấu tay. Nhà xuất bản cho đánh máy, bằng máy chữ IBM, có so hàng, trình bầy trang, sau đó bỏ dấu tay, vì vậy 4 tập đầu có rất nhiều lỗi chính tả, nhưng còn chấp nhận được. Sang đến giai đoạn 2 (Động đình hồ ngoại sử), đã có bộ dấu Việt toán, VNI, nhưng kiến thức của người đánh máy quá kém, nên đã có những lỗi kinh hoàng như:
_ Tôi dùng thành ngữ: đánh dư trăm trận, để chỉ kinh nghiệm chiến đấu. Câu này lấy ý trong Kiều, bị đổi thành : đánh đủ trăm trận rồi đánh đu trăm trận.Khổ thực!
_ Tên anh hùng Đặng Đường Hoàn, bị đổi thành Đặng Dương Hoán.
_ Chàng bơ vơ một mình giữa cánh đồng, bị đổi thành: chàng bỏ vợ một mình giữa cánh đồng.
_ Vung đao chém đầu bị đổi thành: vùng đảo chém đau.
_ Nòi tình bị đổi thành nói tình.
Đại loại khắp ba tập, đầy rẫy lỗi kinh hoàng như vậy. Sang đến giai đoạn ba Cẩm khê di hận, thì tôi dùng bộ chữ Việt của Việt toán, người đánh máy là cô LTT, thành ra rất ít lỗi chính tả.

NGUYÊN DO NÀO CHỌN CHƯƠNG HỒI :

Có nhiều vị hỏi: khởi nguồn từ đâu mà tôi lại viết lịch sử tiểu thuyết, và chọn chương hồi?
Tôi sinh ra trong một gia đình nội ngoại đều là những nhà Nho. Oâng ngoại tôi không có con trai, mẹ tôi là con gái út của người . Theo truyền thống Việt Nam cụ nhận tôi làm con nuôi. Năm 5 tuổi (tính theo người Việt là 6 tuổi) Ngườiï may cho tôi bộ y phục Nho gia, sắm lễ rồi dẫn tôi ra Văn miếu lễ Khổng tử, 72 Tiên hiền, trở về Người dạy khai tâm cho tôi. Người ở trong một ngôi nhà khá lớn, nên Ngưới thu nhận trên dưới 20 học trò; hầu hết là các cháu ngoại, cháu họ. Cụ cầm bút viết cho tôi bốn câu trong Tam tự kinh:

Nhân chi sơ,
Tính bản thiện.
Tình tương cận,
Tập tương viễn.

Thường thì những học trò khác, trong buổi khai tâm, ê a cả ngày cũng chưa thuộc bốn câu. Tôi chỉ mất đâu 2-3 phút đã thuộc. Người viết tiếp cho tôi 8 câu nữa, cũng không quá mười phút tôi lại thuộc. Ngày đầu tiên tôi được học tới 40 câu. Học hết Tam tự kinh, Người dạy tôi bộ Aáu học Ngũ ngôn thi, rồi Aáu học quỳnh lâm. Ba bộ sách trên tôi chỉ mất có một năm đã nuốt hết. Thế là tôi học sau, mà đuổi kịp các đàn anh lớn hơn cả chục tuổi. Người cho tôi học Tứ thư, Ngũ kinh.

Cho đến giờ tôi cũng không hiểu sao tôi mới có 8-9 tuổi mà Người có thể nhét vào đầu cháu Người những triết lý trong bộ Đại học, Luận ngữ? Năm 10 tuổi, Người bắt đầu dạy Bắc sử, Nam sử cho tôi. Thường Người chỉ giảng tổng quát các biến cố lịch sử, rồi Người trao sách cho tôi đọc. Năm tôi 11 tuổi Người dạy tôi làm thơ, phú, văn tế, chế, chiếu, biểu, văn sách.
Bấy giờ các vị khoa bảng cổ từ từ ra đi như sao ban mai. Người học chữ Hán dường như không còn nữa. Chữ Quốc ngữ được phổ biến rộng rãi. Vì vậy những tiểu thuyết của Trung quốc được ào ạt dịch sang quốc ngữ cho quần chúng đọc. Ngoài Bắc có Đông Chu liệt quốc, bộ Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, bộ Thủy Hử của Thi Nại Am và các bộ Tây Du ký, Hán Sở tranh hùng, Thuyết Dường, La Thông Tảo Bắc, Chinh Đông, Chinh Tây, Hồng lâu mộng. Trong Nam thì nhà xuất bản Tín đức thư xã xuất bản các bộ do cụ Đoàn Trung Còn dịch cũng hầu hết các bộ trên, thêm bộ Phong Thần, Đông Chu liệt quốc, Chung Vô Diệm, Đông Hán, Tây Hán.
Mà các bộ tiểu thuyết đó của Trung quốc thì viết theo chủ đạo của họ: vua Trung quốc là con trời sai xuống, các quan văn thì là Văn khúc tinh quân, quan võ thì là Vũ khúc tinh quân. Quần thần thì là Nhị thập bát tú trên trời đầu thai. Các dân xung quanh Trung quốc thì Bắc là Địch, Tây là Nhung, Đông là Di, Nam là Man.
Người Việt thi nhau đọc rồi tin là thực. Tin đến độ lập ra tôn giáo thờ cúng các nhân vật tiểu thuyết của Trung quốc. Trong những người tin đó có mẹ tôi, chị tôi, anh tôi.
Năm 12 tuổi tôi đã thụ lĩnh được cái sở học của tiền nhân về Kinh, Sử, Tử, Tập ở nhà. Năm này tôi lên Trung học, mỗi tuần được học 4 giờ Việt văn. Khi thảo luận với các bạn, cũng như ở nhà, tôi đem những gì học trong sử ra cãi rằng kiến thức mà họ có là tiểu thuyết, là hư cấu, là bịa đặt. Nhưng không ai tin cả.
Tôi đem vụ này ra thảo luận với phụ thân tôi. Người rầy tôi:
_ Con đã làm một việc tối vô ích là cãi nhau với những người mù. Đem đàn ra gảy cho trâu nghe.

Một kỷ niệm đau nhất là giáo sư dạy Việt văn lớp đệ thất của tôi cho tôi điểm zéro, khi ông bắt tôi giảng nghĩa từ ngữ trữ tình. Tôi đã giảng:
Trữ là phát tiết ra.
Tình là rung động của thần minh.
Oâng mắng: Trữ là chứa chất.

Tôi lên bảng viết chữ trữ bằng Hán văn rồi cãi: chữ trữ có bộ tài gẩy bên cạnh nghĩa là phát tiết. Các bạn cùng lớp được dịp cười: thầy thụt vào, trò kéo ra. Vì tôi thì bảo trữ là mở ra còn thầy thì bảo chứa chất tức co vào. Oâng mắng tôi dốt còn xổ nho. Oâng cho tôi điểm Zéro. Tôi vẫn không khất phục. Vụ việc đưa lên cụ hiệu trưởng. Bộ tự điển Từ hải được đem ra làm trọng tài. Tôi đúng. Thế là cụ hiêụ trưởng đổi tôi sang lớp khác. Các bạn gọi tôi là Đồ kéo ra.

Năm 14 tuổi, tôi đã được học Bách gia chư tử, Cửu lưu tam giáo; Kinh, Sử , Tử, Tập, và có cái vốn rất sâu về sử Trung quốc, Việt Nam. Ông tôi, bố tôi thường ưu tư về cái tai họa tiểu thuyết Trung quốc, ảnh hưởng vào quần chúng bình dân Việt Nam. Trong một lần thảo luận tay ba, bố tôi phác họa chương trình cho tôi:

“ Sau này, các nhà nho từ từ qua đời, thì con là một trong số ít những người có cái vốn cổ học sót lại. Muốn giải độc cái họa tiểu thuyết Trung quốc đầu độc người Việt thì ít ra mình phải có những bộ tiểu thuyết nói lên sự thực tổ tiên ta anh hùng như thế nào? Vậy trước hết con phải học để có địa vị vững chắc về tài chánh, rồi sẽ viết. Chứ viết mà phải lo kiếm cơm-áo thì không thể nào thành công được. Các bộ cần viết có bốn:
Một là thuật cuộc khởi nghĩa của vua Trung cùng 162 anh hùng, lập nền tự chủ.
Hai là cuộc bình Mông của quân dân thời Trần.
Ba là cuộc khởi nghĩa của vua Lê, quét giặc Minh ra khỏi đất nước.
Bốn là cuộc khởi nghĩa của anh hùng Tây sơn”.

Oâng tôi, bố tôi không khuyên tôi viết về thời đại Tiêu sơn tức triều Lý. Sau này lớn lên, tôi mới hiểu rằng các nhà nho vốn ghét bọn hoạn quan. Vì bọn này thường lợi dụng vào vị thế hầu hạ vua chúa, cùng các phi tần, rồi chuyên quyền làm hại dân, hại nước. Nếu tôi viết về triều Lý thì phải viết về Lý Thường Kiệt. Mà Lý Thường Kiệt là một hoạn quan.
Năm 1953 bố tôi phải đi làm việc xa. Đầu năm 1954, ông tôi qua đời. Tôi bơ vơ, cô độc trong gia đình một chị gái và năm anh em trai. Ngày 15 tháng 5 năm 1954, một thảm cảnh gia đình xẩy ra, sau cuộc tranh luận ngắn về lịch sử, tôi phải rời tổ ấm tha phương. Di cư vào Nam một mình, khi tuổi mới 15. May mắn tôi được nhận vào học một trường có truyền thống giáo dục cực tốt. Căm hận vì phải ly tán gia đình, tôi dồn hết chí khí vào việc học. Mười tám tuổi đỗ Tú tài, lên đại học. Năm 24 tuổi ra trường. Bấy giờ tôi mới trở về với tổ ấm trong vinh quang.
Có địa vị vững chắc về tài chính, tôi bắt đầu viết tiểu thuyết. Bố tôi với tôi dành ra mỗi tuần vào ngày thứ bẩy để bàn luận về hành trạng các anh hùng, về cấu trúc của các bộ tiểu thuyết sẽ viết. Cả hai bố con đều đồng ý chọn hình thức cho các bộ sách là chương hồi.

TÀI LIỆU DÙNG ĐỂ VIẾT VỀ ANH HÙNG LĨNH NAM :

Cuộc khởi nghĩa của Trưng vương với 162 anh hùng vĩ đại biết là dường nào, nhưng sử sách chép lại rất ít. Điều này dễ hiểu, bởi cuộc khởi nghĩa diễn ra vào buổi bình minh lịch sử, tiếp nối theo là một nghìn năm Bắc thuộc không ai lưu giữ được.
Về sử Việt, hai bộ sử chữ Hán duy nhất có chép là: _ Đại Việt sử ký toàn thư ,
_ Khâm định Việt sử thông giám cương mục.
Nhưng mỗi bộ chép tổng cộng không quá ba trang. Ngoài ra còn có những bộ nho nhỏ như Việt sử lược,
Đại Nam Quốc sử diễn ca.
Về sử Trung quốc thì chỉ bộ Hậu Hán thư của Phạm Việp là có vài trang viết về cuộc khởi nghĩa của vua Trưng. Tôi lần mò tìm ra những chi tiết nhỏ của phần:
Vũ đế kỷ,
Mã Viện, Lưu Long, Đoàn Chí, Mã Vũ, Sầm Bành, Tế Tuân, Tang Cung, Lưu Hân truyện.
Không có chính sử thì khi tìm tài liệu viết, tôi đành lần mò tìm những cuốn phổ tại đền thờ các anh hùng, rồi nối kết lại.
Sau khi vua Trưng cùng 162 tướng tuẫn quốc, dân chúng tưỡng nhớ huân công, lập đền thờ khắp nơi. Khi thì tại nơi các ngài tuẫn quốc, khi thì tại nơi các ngài trấn nhậm, khi thì tại quê hương các ngài.Tại mỗi đền, miếu đều có một cuốn phổ chép tiểu truyện các ngài.
Dẹp loạn sứ quân, thống nhất sơn hà, vua Đinh, rồi vua Lê ban sắc phong cho các anh hùng. Sang triều Lý một lần nữa các vua sai viết lại hành trạng chư vị anhg hùng, tu bổ đền thờ, ban sắc phong thần. Tới triều Trần, thì đã tìm ra hầu hết vết tích chư thần thời Lĩnh Nam. Nhưng sau khi giặc Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, nhà Minh sai Trương Phụ, Mộc Thạch đem quân sang chinh tiễu. Năm 1407 với chủ trương đồng hóa cần xóa bỏ văn hóa, lịch sử Đại Việt; Trương Phụ sai thu tất cả thư tịch về văn, triết, kinh, sử , cùng các cuốn phổ tại đền thờ chư thần Đại Việt đem về Kim lăng.
Sau khi vua Lê quét sạch giặc Minh khỏi đất nước, thì tất cả các cuốn phổ được viết lại, thành ra có nạn tam sao, thất bản. Sang triều Nguyễn thì triều đình lệnh cho các Tổng đốc tấu về triều hành trạng của chư thần trong tỉnh, để triều đình ban sắc phong. Tấu chương phải đính kèm cuốn phổ, chép tiểu sử của thần. Các cuốn phổ này trữ tại quốc sử quán.

Năm 1955, khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm tổ chức truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, thì kho sách này được bảo quản rất kỹ. Thời gian 1964-1975 tôi được làm quen với giáo sư Trần Kinh Hòa (Chen Chinh Ho). Giáo sư gốc người Hoa, mang quốc tịch Nhật bản, phụ trách giảng dạy tại đại học Soka, sang VN nghiên cứu về văn, sử cổ của Việt Nam. Giáo sư đã sắp xếp, phân loại tất cả thư tịch tại Quốc sử quán. Oâng giúp tôi tìm các cuốn phổ của các tướng thời Lĩnh Nam.

Khi tôi rời Việt Nam năm 1975, toàn bộ Anh hùng Lĩnh nam đã viết xong. Năm1977, Liên Hiệp các viện bào chế châu Aâu (CEP, Coopétative Européenne Pharma- çeutique), và Uûy ban trao đổi y học Pháp Hoa (CMFC, Commité Médical Franco-Chinois) thành lập hoạt động song song. Tôi được tuyển làm việc với chức vụ Thông dịch, rồi Liên lạc và tổ chức. Mỗi năm ít nhất tôi theo phái đoàn Pháp sang Trung quốc làm việc một lần, trong vòng 10 đến 15 ngày. Trong những dịp này tôi lần mò vào các thư viện, và phát hiện ra không biết bao nhiêu dấu vết về triều đại Lĩnh Nam. Ba thư viện mà tôi tìm được nhiều nhất là Trường sa, Quảng Châu, Côn Minh. Vì vậy khi trở về, tôi lại sửa chữa, thêm bớt, nên lúc đầu chỉ khoảng 500 trang, thành 3511 trang.
Nay tuổi đã già, thời gian thuận tiện, tôi quyết định đem về Việt Nam xuất bản, coi như món quà tặng cho phụ nữ Việt Nam, cho tuổi trẻ Việt Nam.

Paris ngày 18 tháng 6 năm 2008

© 2005 HuyenThoai.Org – Tuesday, 18 May, 2010 1:35